Wednesday, March 14, 2018
CHÚ TÂY CON
Diệu Tần
Tôi đã gặp hắn ở Thủ Dầu Một trong một trường dạy chuyên môn binh chủng, năm đó. Trong vai trò một sĩ quan huấn luyện viên và một người có nhiệm vụ chăm sóc đến khoá sinh, tôi có nhiều dịp chuyện trò với hắn. Hắn khoảng hai mươi bốn, hai mươi lăm, cao lớn, khá điển trai, lấp lánh kính trắng gọng vàng. Là một chuyên viên mới tốt nghiệp ở Pháp về, vẻ kiêu hãnh còn đậm trên nét mặt hắn. Tôi không nhớ rõ lý do tại sao hắn về nước, và tại sao lại đeo "con cá" để vào học ở đây. Chỉ nhớ là hắn không hài lòng khi phải về quê hương và phải vào quân đội. Hắn chê nền văn hoá và chê luôn nền kỹ thuật của Mỹ. Dĩ nhiên hắn dè bĩu thứ kỹ thuật chậm tiến ở Việt Nam dạo đó, chê luôn tất cả các cấp chỉ huy ngành của hắn cả bên dân sự lẫn quân sự.
Chàng kỹ sư cầu cống này được nhà trường giao cho việc dạy môn Résistance materielle nên càng đầy vẻ tự kiêu. Hắn có một cô vợ sắp cưới có hai dòng máu Việt Pháp rất kiều diễm. Tôi được hắn dẫn vợ đến giới thiệu nhân dịp tôi làm sĩ quan trực. Cô vị hôn thê này có độ bốn mươi phần trăm nét Giao Chỉ nhưng tuyệt nhiên không nói được tiếng của mẹ. Hắn được du học sau khi đậu tú tài Pháp. Hắn và cô gái kia biểu diễn tiếng của De Gaulle liến láu, khiến nhiều người không hài lòng, khi họ ngồi giải khát trong câu lạc bộ quân trường.
***
Bây giờ tôi lại gặp hắn ở trại Suối Máu này. Hắn vẫn ngây thơ vô số tội như trong lễ mãn khoá được đeo lon chuẩn uý ở Bình Dương. Tôi nghĩ hắn chưa kịp hết lạ với miền Nam đất nước, vào trại cải tạo của cộng sản, đối với hắn lại là một chuyện không thể nào tưởng tượng nổi. Thoáng thấy tôi hắn mừng quá.
- Anh...trời ơi, lại gặp anh!
Hắn quên là hắn đang đứng cạnh một tên cán bộ lo kiểm soát đồ đạc của hắn.
- Yêu cầu nghiêm túc - Giọng Nghệ Tĩnh nặng chịch - các anh trở về đội, khối, mau!
Hắn giữ nguyên được phong cách Sài Gòn, và hơi hướm của Versailles nữa. Vẫn giữ được nước da trắng trẻo, hơi gầy đi một chút, nhưng vẫn còn cặp kính gọng vàng óng ánh. Bẵng đi mấy năm, chàng kỹ sư vẫn không có gì thay đổi. Lúc đó vào khoảng tháng ba, tháng tư năm bảy mươi sáu. Trời nắng gắt, những tia nắng nhảy múa trên những mái tôn, ném cái nóng đổ lửa xuống bọn tù. Thời gian đó chúng tôi đã tụng xong "Mười bài học chính trị cơ bản" từ Hốc Môn. Chỉ học ôn, lai rai, thảo luận qua bình luận tin tức trên tờ Nhân Dân. Rồi khai lý lịch, lao động cầm chừng quanh khu đồi thấp gần trại.
Hắn được đưa về đội của chúng tôi, rồi nằm cùng một nền đất trong dãy nhà tôn, khung sắt kiếng Eiffel. Suối Máu trước kia dùng để nhốt tù phiến cộng. Cá ăn kiến, kiến ăn cá, trước nhốt chúng nó, bây giờ chúng nó nhốt mình, thế là huề... Chúng tôi không đau bằng một chàng hoa mai bạc quân cảnh, trưởng trại này trước năm bảy lăm. Tên trung uý trưởng K1 này là tù binh của chàng quân cảnh. Hắn đảo qua chỗ chúng tôi đang chia thức ăn, rồi cười khẩy:
- Anh còn nhớ tôi không?
- Xin lỗi...tôi không nhớ ra.
- Trước anh làm to ở đây, tôi là tù phiến cộng của anh.
Chàng mai bạc hơi tái mặt, nhưng cũng không có chuyện gì xảy ra. Chàng quay lại phân trần với các bạn, khi tên kia đã lững thững bỏ đi.
- Tao chỉ huy toàn trại này, chứ có phải một K này đâu. Thằng đó vô danh tiểu tốt, làm sao nhớ nó được.
***
Câu đầu tiên cậu kỹ sư bên Tây về, vất ba lô xuống, hỏi:
- Phòng tắm ở đâu các anh?
Câu hỏi đượm mùi "tư sản" của hắn làm cả bọn cười ầm lên.
- Bộ cậu mới nếm mùi cải tạo à?
Câu hỏi chơi mà hoá thật. Chúng tôi xúm lại nghe hắn kể tại sao giờ này mới chịu chui vào đây. Thì ra công an thành gửi hắn tới đây.
"Moa" làm việc cho họ mà, hắn vẫn còn thói quen toa moa như ở bên... Tây - Moa là kỹ sư cầu cống ở Sở Giao Thông Vận Tải ngay tại thành phố mà.
- Rồi sao lại khăn gói quả mướp lạc vô đây. Tại toa tham ô nhũng lạm chứ gì?
- Đâu có, họ tin dùng tôi lắm chứ. Tôi là một expert về cầu đường.
- Rồi sao nữa?
- Tụi Deuxième Bureau, ủa... Sở Công An khép tội làm việc cho CIA.
- Thế cậu là CIA thật à, trông cậu cũng có mác CIA lắm!
- Đâu có! Mais non. Tôi mà là CIA à, tôi ghét Mỹ nhất.
- Chắc tại cậu không chịu lấy nữ cán bộ từ trong bưng ra, cùng làm trong sở chứ gì?
- Đâu có, moa có vợ rồi. Vợ moa đẹp lắm. Moa là công dân Pháp mà.
Chỉ ba hôm sau, hỗn danh của chàng kỹ sư Versailles gắn chặt vào ba chữ "Chú Tây con". Tác phong của hắn là tác phong Tây, và nói tiếng Tây. Đến lúc đó, hắn vẫn còn chưa hiểu tại sao hắn đang được tin dùng như là một chuyên gia cầu đường, bỗng chốc trở nên một tên tù cải tạo.
- Thế tụi nó không báo cho cậu biết là cậu đi tù cải tạo à?
- Đâu có - Chú Tây con còn thói quen trả lời đầu câu bằng hai chữ "đâu có" nên nhận thêm hỗn danh "Đâu Có" - Trước khi tôi đến trình diện công an thành thì anh chủ sự của phòng chỉ nói: "Chúng tôi đánh giá cao sự đóng góp của anh. Chúng tôi rất cần đến chất xám khoa học kỹ thuật của anh. Bây giờ theo lệnh trên, muốn giúp đỡ anh trở nên một chuyên gia xã hội chủ nghĩa, anh tạm 'đi vào thực tế'. Sau đó, chúng tôi sẽ mời anh về tiếp tục phục vụ". Bữa tôi đi, các anh ấy có tiệc trà tiễn đưa đàng hoàng mà.
- Thế là cậu đi vào thực tế Suối Máu với chúng tớ đấy. Hân hạnh quá nhỉ?
- Việc này chắc là có sự hiểu lầm, tôi sẽ nhờ toà đại sứ Pháp can thiệp.
Ông thiếu tá già hiến binh giải ngũ "xì" một tiếng.
- Can thiệp cái con khỉ. Kiện củ khoai. Sức mấy. Mầy ngây thơ lắm!
- Để rồi mấy người coi. Vợ tôi đang lo chuyện đó.
***
Hắn là một nhân vật lạ, đặc biệt trong K1 này. Không những đám tù cải tạo chú ý đến hắn mà cả lũ quản giáo cũng có vẻ chiếu cố đến hắn khá nhiều.
Sơ khởi là chuyện tắm giặt. Không có nước máy đối với hắn là một cực hình rồi. Đến khi chỉ cho hắn mấy cái giếng để kéo nước lên mà tắm rửa, giặt giũ, nấu ăn thì hắn trợn tròn mắt ngạc nhiên tột độ - "Uống nước này thì chết, nhiều vi trùng lắm, chung quanh cống rãnh không à..." Gã hiến binh thản nhiên bảo: "Mấy tháng nay rồi tụi tao đã chết đâu. Mình sơi vi trùng luôn, sợ gì?"
Hắn than phiền: Trong đời "moa" từ khi lớn lên, ngày nào ít nhất cũng phải rửa c...một lần, không thì chịu không nổi, nó quen đi rồi". Phải xử dụng gầu kéo nước, chế biến bằng nón sắt, giây kéo bằng từng mắt giây kẽm gai nối lại để lấy nước từ dưới sâu lên, đối với hắn khổ sở quá. Hắn bị tay lính thủy đánh bộ trề môi chê:
- Ngữ này chỉ có nước chết sớm. Tớ nghi nó là kỹ sư dỏm quá.
"Chú Tây con" tắm táp rất kỹ, lại còn tắm bằng xà bông Lux chính cống Mỹ nữa thì tư sản quá đáng. Về cái chỗ để đặt lưng xuống sống cho qua ngày, hắn cũng không biết xoay sở cách sao. Mỗi người, lấy thước đo đàng hoàng, được 85 phân tây chiều rộng, hàng xóm láng giềng phụ giúp hắn giải chiếu treo màn, họ thương tình kẻ mới nhập tịch. Hắn mới "đi vào thực tế" nên quần áo, giày dép, chăn màn còn mới tinh. Chẳng bù với lũ chúng tôi, chỉ mới chuyển trại có một lần mà đã rách tả tơi. Hắn lạ chỗ lạ người, không ngủ nỗi, kêu không có nệm, than bị muỗi đốt.
Tay lính thủy đánh bộ: Chưa thấm vào đâu chú nhỏ. Còn khổ dài dài, chờ xem kỳ sau sẽ rõ. Ly kỳ, rùng rợn lắm chú ạ.
Hắn phàn nàn không có đèn để học chính trị. Chúng tôi gồm có già hiến binh, tay lính thủy đánh bộ, tay lính dù và tôi phải giải thích cho hắn, nhưng hắn chưa chịu tin là những trò của bọn chúng chỉ là bịp hết. Hắn cho biết, hắn vào trình diện công an thành ở đường Trần Hưng Đạo có mệnh lệnh sự vụ hẳn hoi: "Nay cấp cho đồng chí...cán bộ kỹ thuật trình diện Sở Công An thành phố để được đi điều vào thực tế. Yêu cầu các cơ quan đơn vị giúp đỡ để đồng chí...làm tròn nhiệm vụ trên giao". Ở dưới có chữ ký và con dấu đỏ choé đàng hoàng.
- Họ nói bao giờ thì được về?
- Những anh ở Sở Giao Thông nói độ ba tháng thôi.
- Còn ở Sở Công An nó nói thẳng chú là CIA?
- Đâu có, các anh ấy đâu có nói thẳng, tôi chỉ nghe nói me mé.
- Còn ở đây họ bảo sao, bao giờ thì học thành tài?
- Họ không trả lời rõ, chỉ nói điều đó tuỳ ở sự tiến bộ của tôi. Tôi phải học và lao động tốt để tiến bộ.
Những giờ học ôn các bài "kệ" chỉnh trị, hắn là người hay hỏi nghĩa từng chữ. Bảy tám năm ở Pháp, những chữ Hán Việt hắn chưa quen, khi gặp những khẩn trương, kiệt xuất, ba dòng thác cách mạng, nghiêm túc liên tục...thì hắn chới với thật sự, mặt hắn cứ thộn ra. Những lúc đó cái mác đi Tây về và cái bằng kỹ sư Pont et Chaussées của hắn vô dụng quá.
Đã biết tác phong tư sản và vụng về kiểu Phú Lang Sa của hắn, không bao giờ chúng tôi dám cắt việc nấu cơm cho hắn cả. Chỉ có việc kéo nước từ giếng lên để rửa rau, vo gạo, rửa chảo, kỹ sư nhà ta loay hoay mãi kéo không đầy chảo nước. Rửa rau thì hắn ngắm nghía mãi như một nhà thảo mộc học đang nghiên cứu cây cỏ. Với óc tò mò và sẵn sàng làm việc nhưng hắn làm quá kỹ, quá chậm. Giao cho việc giữ lửa ở bếp, hắn lúng túng bị bỏng tay chân tùm lum. Bây giờ phải giải quyết cách sao, không lẽ để sức trai ngồi không? Phải, tại sao không giao cho hắn chức vụ cao quý là đi vác gạo. Chú Tây con mới vào tù còn sung sức lắm, chú tỏ ra xứng đáng lòng tin của đội. Bao gạo "năm mươi pao" hắn vác lên vai, bước đi rất anh dũng, rất thơ thới hân hoan.
Từ đó chàng kỹ sư "Bông sốt" được thêm một bí danh nữa là "phụ bát tê" nổi tiếng vác gạo đẹp trong K. Thêm một nhiệm vụ cao đẹp, kiểu cỡ tay cầy vai bừa nữa được giao cho Tây con. Vác củi. Một chàng kỹ sư trẻ tuổi, từ Vẻc-Sây trở về giúp "nước" cao lớn, đẹp trai, có cặp kính trắng gọng vàng, không hiểu sao mình lại có tội, lại bị bỏ tù. Hai vai vác hai khúc củi bự, thong dong đi đứng thì quả thực xã hội chủ nghĩa đã có tài biến đổi con người.
Điều tra, tổng hợp, phân tích mãi rồi người ta cũng tìm được nguyên do tại sao chú Tây con bị đẩy vào đây. Chỉ sau một thời gian ngắn trong quân đội hắn được biệt phái về một cơ quan xây cất, rồi nhờ tài vận động của nhà vợ, hắn vào làm trong một hãng tư, giải ngũ. Sau ngày 30 tháng 4, hắn được vào làm trong Sở Giao Thông Vận Tải thành phố. Con đường sự nghiệp của hắn chỉ có đi lên, nhiều may mắn. Hắn bị tống vào trại cải tạo không phải vì chê nữ cán bộ nhà quê, hôi hám, cũng không phải vì hắn tham ô. Tên chủ sự của hắn tham ô nhũng lạm, chứ không phải hắn. Chủ sự phòng móc ngoặc với công trường kinh tế mới ăn bớt xi măng, hắn phổi bò, ngây thơ, trong một buổi họp vô tình đưa ra những con số sai biệt về xi măng. Hắn chỉ muốn chứng tỏ tài học và lòng phục vụ tốt với "cách mạng". Việc chưa vỡ lỡ, nhưng tên chù sự tìm cách triệt hắn. Lục tìm trong hồ sơ lý lịch, nó bắt được chữ "chuẩn uý biệt phái" của kỹ sư Véc Sây. Hắn ngầm đưa chi tiết này cho công an Thành, thế là đồng chí kỹ sư thương mến được "đi vào thực tế" và trong hồ sơ có thể còn nghi là CIA gài lại nữa...
Hắn tiếp tục thắp nến đọc báo Nhân Dân, vẫn chăm vác gạo vác củi huỳnh huỵch. Tây con ăn cơm rất lâu, nhai thực kỹ. Hắn luôn luôn giữ lời khuyên là một ngày phải uống đủ ba lít nước. Vì thế hắn mất rất nhiều thì giờ để đun nước sôi. Hắn đã bị vệ binh ốp và anh em tù kiểm thảo nhiều lần, hắn phải rút xuống hai lít rưỡi rồi hai lít nước một ngày.
Hắn bảo tôi: Rồi ông thầy coi, chỉ ba tháng thôi, thằng em này sẽ về với vợ. Chắc ông còn nhớ "en" chứ. C'est magnifique!
- Đẹp quá đi chứ, có ảnh của cô ấy đây không?
- Đâu có. Ẻn đang xin cho đàn em ra. Tức thật!
- Tức cái gì, bị tù là đáng rồi, tức tối gì nữa?
- Đâu có, em muốn nói tấm ảnh của Isabelle. Hôm mới vào trại, tụi nó giữ mất rồi.
Già hiến binh chêm vào: Tao là tao không chịu cái vụ đó à. Ai đời ảnh vợ đẹp, vợ cưng của mình mà đêm đêm tụi nó chuyền tay nhau ngắm nghía thì tức chết đi được.
- Bây giờ phải làm sao xin lại được, các anh?
- Xin cái gì, của mình mà xin xỏ gì. Tao cũng nhất định không chịu. Kỳ quá mà. Lính dù châm ngòi.
Đến lượt lính thủy đánh bộ xúi dại:
- Thì cứ gặp thằng quản giáo nói trả lại. Cái đó có hại gì đâu, hình ảnh người thân của mình có phải tài liệu quốc cấm đâu.
Tưởng nghe qua rồi bỏ, không ngờ chú Tây con anh dũng đi đòi ảnh lại thật. Hai cố vấn dù và lính thủy đánh bộ hơi hối hận.
Trưa hôm sau tên Chòi trung uý trưởng K., được đặt tên là "lơ xe đò" vì hắn chính là lơ xe đò thứ thiệt của xe Sài Gòn-Biên Hoà đang chấp tay sau đít - một kiểu đi rất cán bộ - lững thững kiểm tra nhà bếp. Tây con cà rà lại gần:
- Thưa anh, tôi có một chuyện muốn thưa với anh...
Thằng Chòi trợn mắt: Chuyện gì? Thế rồi hắn cứ lẳng nhẳng ...rồi cả hai ra khỏi cổng K. trước sự ngạc nhiên của mọi người.
Tin đồn lan ra rất nhanh chóng toàn K.
- Thằng Tây con chắc được về rồi, chính anh Chòi vào gọi nó ra.
- Thằng "Đâu có" phen này bị nhốt unex vì dám đòi ảnh vợ.
- Thằng "Phu bát tê" kỳ này chắc bị chỉnh tơi bời hoa lá.
Đến chập tối, chú Tây con bơ phờ trở về. Hắn im lặng ngồi nhai cơm với canh bí đỏ nấu với muối, không nói một câu. Hàng xóm láng giềng hỏi chuyện, hắn lắc đầu. Ăn xong cũng không thèm ra giếng rửa chén đủa, bỏ cả học ôn chính trị. Hắn nằm vắt tay lên trán suy nghĩ sự đời. Đợi khuya, hắn dựng tôi dậy, tậm sự.
- Em giận quá, ông thầy. Họ thay nhau hỏi em hai tiếng đồng hồ liền.
- Rồi bắt đầu viết tờ kiểm điểm phải không?
- Ủa, sao ông thầy biết. Viết rồi, họ bảo chưa thành khẩn, bắt viết lại. Họ nói nhiều câu em nghe không hiểu nghĩa ra sao nữa. Nào là tư tưởng còn chưa dứt khoát, nặng đầu óc gia đình, còn rơi rớt óc tiểu tư sản, chưa nhận thức được chân lý cách mạng.
- Rồi chú viết tờ kiểm điểm đó ra sao?
- Thì ông biết đó, phải hứa là yên tâm học tập, vợ con ở Sài Gòn đã có họ lo, học tập lao động nhiều để cỏ tiến bộ... Hỏi thật ông, mấy người Việt Cộng này - giờ phút này, trong trại cải tạo mà vẫn còn thói quen gọi kẻ chiến thắng là Việt Cộng thì can đảm có thừa - mấy người Việt Cộng không biết vợ con đàn bà con gái là gì à?
Tôi cười trừ - chú mày hỏi khó trả lời quá, thôi về ngủ đi. Cứ tiếp tục vác gạo vác củi, rồi nghiên cứu báo Nhân Dân là sẽ tiến bộ, sớm trở về với vợ. Chớ hỏi nhiều.
Kể từ đó niềm tin của hắn bắt đầu lung lay. Bọn kia trước được gọi là "các anh ấy", bây giờ chỉ là "họ" khô khăn. Hắn không tốn tiền gửi mua nến để học chính trị nữa, hắn thôi không lẩm cẩm hỏi: Anh ơi tọa độ là gì... Đây là non hay verbe..." Máy bay chiến đấu con ma đã tọa độ lán của bộ đội ta" tại sao lại dùng chữ tọa độ, tọa độ có phải là bombarder đâu? Thắc mắc của hắn chỉ có Văn Tiến Dũng trả lời được thôi. Cách dùng chữ của xã hội chủ nghĩa tiên tiến, biến hoá vô lường, bố ai mà hiểu nổi.
***
Hắn luôn luôn nhắc đến vợ, luôn luôn khoe vợ đẹp. Hắn xoay sang ngồi cắm cúi viết thư cho vợ. Viết thì viết, nhưng đợt thư đầu của hắn, sau khi bị kiểm duyệt, không được gửi đi. Lý do rất dễ hiểu là hắn viết bằng tiếng Pháp. Rồi lại bị gọi ra bộ chỉ huy trại để "làm việc" một buổi chiều nữa, nghĩa là bị sỉ vả đe dọa một lần nữa. Anh nặng đầu óc thực dân phong kiến. Anh còn luyến tiếc đế quốc Pháp. Anh dùng tiếng nước ngoài để định làm mật thám cho thực dân cũ nữa hả? Anh tưởng chúng tôi ngủ dốt không đọc được tiếng Pháp à? Chúng tôi gửi về thành phố Hồ Chí Minh rồi anh sẽ biết. Anh muốn mật báo những tin tức bí mật ở đây cho địch hả? Khổ nỗi là vợ hắn, Isabelle không biết đọc chữ Việt. Già hiến binh hiến kế: Có mẹ gì đâu, mày cứ viết câu tiếng Pháp dặn "ẻn" là nhờ một người bạn Việt giỏi tiếng Pháp dịch ra cho "ẻn", dễ quá mà.
Chú Tây con lại ra sức viết thư bằng ngôn ngữ bố mẹ đẻ. Cố vấn về ngôn ngữ bất đắc dĩ là già hiến binh và tôi. Hắn tiếc không đem vào được quyển Pháp Việt tự điển. Sincère là gì bố - Affectueux là sao ông thầy? Dịch là thành thật và âu yếm được không? Già hiến binh dẫy lên: mày phải đọc cả câu chứ cứ hỏi vocabulaire, bố tao cũng chịu luôn. Câu đó thì chữ ấy phải viết là chân thành chứ viết cho vợ mà "thành thật" cái nỗi gì? Nói về anh em trong này thì chú viết là "thương mến" chứ chú "âu yếm" chúng tôi, chúng tôi cũng chạy luôn. Hai tay lính thủy đánh bộ và lính dù thì làm mặt nghiêm.
- À mấy anh giúp nó tiết lộ bí mật của đảng ta ở Suối Máu nhé! Mấy anh còn muốn đế quốc Pháp trở lại đây nhé! Tôi đi báo cáo a.
Thấy vẻ mặt e dè của Tây con, họ cười hô hố. Hắn viết khá nhiều, nhưng mỗi tháng một lá được phép gửi đi, mỗi kỳ một tờ thôi. Thư của hắn sau này có thể xuất bản được.
***
Bị chửi bới nhiều phen, Tây con trở nên ít nói, ít thắc mắc. Hắn không trưởng thành trong khói lửa qua cuộc chiến đã tàn, nhưng trưởng thành trong cảnh tù đày. Sau thời gian quan sát, nghiên cứu kỹ càng những toán bổ củi, hắn quyết định xin đổi nghề. Từ nghề phu bát tê sang nghề bổ củi. Do đó hắn lại có thêm biệt hiệu nữa là "Thợ Bổ", thợ bổ củi. Mấy ngày đầu kỹ sư "Bông Sốt" mới vào nghề, cũng lạng quạng sứt sẹo tay chân. Nhưng rồi " lớn lên trong mồ hôi và máu" hắn bổ củi rất khéo, rất đẹp. Hắn nghiên cứu kỹ lưỡng từng loại củi, củi rừng, thứ thớ xoắn khó nhá nhất, củi thông dễ bổ, củi cao su thì dễ nhất, mềm và thẳng. Khúc củi nào là khúc chạc ba tuy khó nhá, nhưng hắn cũng tìm được cách thanh toán nhẹ nhàng. Củi vác từ bãi về phải được bổ ngay, phơi nắng thêm vài ngày, thớ củi khô đi, nhựa quánh lại, khó làm thịt nó. Nếu không phải thật khô. Phải biết cách nắm chiếc búa, chiếc rìu ra sao, dơ cao hạ thấp thế nào cho đúng kiểu. Hắn còn vẽ trên giấy để chứng minh, áp dụng toán học về sức nặng. Làm sao giảm cường độ lao động mà kết quả lại tăng thêm mới là giỏi. Nhà bếp đặt hàng ra sao sẽ có cùi đúng cở như vậy. Củi nấu cơm bổ lớn. Củi nấu canh nhỏ hơn, củi nấu cháo cho người ốm, nhỏ nữa. Khi đã thành thạo "nghiệp vụ", hắn đứng giảng cho anh em nghe kỹ thuật bổ củi. Hắn nói: là "Mình ở tù ăn ít, làm nhiều, phải làm sao tiết kiệm được càng nhiều calorie càng tốt. Hắn chỉ phải đứng cách sao để lưỡi búa không sơi tái ngón chân. Phải kê khúc củi ra sao, phải chèn miếng chêm miếng đệm thế nào cho củi tự động tách ra mà không tốn sức lao động. Có lần tên Chòi "lơ xe đò" quản giáo, tình cờ đi qua cũng phải gật gù khen Tây con "lao động có kỹ thuật".
Ông lính thủy đánh bộ chọc "thợ bổ": ở ngoài các em nó làm thợ bổ, khỏe phây phây, tiền vô đều đều. Còn chú mày ở đây làm thợ bổ, anh thấy vất vả quá! Tây con ngây thơ hỏi lại:
- Vậy hả? Ở Sài Gòn bây giờ cũng có các cô, các bà biết bổ củi à?
Khán giả đứng vây quanh xem hắn biểu diễn dùng búa, được một trận cười thoải mái giữa sự ngơ ngác đáng yêu của Tây con. Riêng tôi, tôi thấy cái bằng Bông Sốt của hắn vào đây chỉ để ứng dụng được toán học để...bổ củi thôi, thì xót xa quá!
Một "sự cố" khác xảy ra càng làm hắn mất tin tưởng vào lũ quản giáo. Hắn đã gọi là "tụi nó" chứ không là "họ" chung chung nữa. Hắn nhận được thư của vợ hắn gửi vào. Lá thư ngắn nhưng chan chứa tình yêu thương kèm theo là một bức ảnh 9x12 đen trắng mà mãi sau này chúng tôi mới được chiêm ngưỡng. Bức ảnh chụp rất nghệ thuật, đó là một nàng có hai dòng máu Âu Á với mái tóc buông lơi như sóng Đại Tây Dương. Mũi cao thanh tú, cặp mắt tây phương với hàng mi cong vút. Bức ảnh này là đầu mối rắc rối cuộc đời cho chú Tây con. Chỉ vì mặt sau nàng đề tặng chàng bằng dòng chữ Pháp: "Với tất cả trái tim em, vợ yêu của anh" , lại thêm cách đề ngày cắc cớ theo lối La Mã 12/V LIXVIIVI. Dòng số này có vẻ đáng nghi thực.
Lá thư bằng tiếng Giao Chỉ, bị mang ra bình trước hội trường cho toàn K nghe. Quản giáo Chòi, "lơ xe đò" bữa đó trở thành một diễn viên hài kịch được khán giả tù tán thưởng nồng nhiệt. Sau khi đã giáo đầu bằng những câu "chưa nói tù đã biết quản giáo định nói gì". Chòi lôi lá thư của Isabelle ra đọc (chắc chắn cô nàng đã phải nhờ một người bạn có trình độ học thức khá, viết hộ).
"Anh yêu dấu!"
Chàng lơ xe đò, đọc từng đoạn để gián tiếp dạy cô đầm lai sống từ nhỏ bên Pháp, cách viết thư.
- Thế là thế nào, chỉ cần viết Anh hay Anh thân thương là hay lắm rồi.
"Em muốn viết nhiều, thật nhiều để anh đọc, nhưng em nghẹn lời không viết ra đây được."
- Thế là thế nào? Viết thì cứ viết chứ, tại sao lại nói không viết ra được. Bây giờ tự do thống nhất rồi, muốn tâm tư tình cảm gì cứ viết ra chứ. Nếu nghẹn cổ thì viết thành chữ làm sao được. Các anh nghe tôi nói có chí lý không?
Toàn hội trường ồn ào. Chí lý! Chí lý!
Tên Chòi đắc ý: Chí lý quá đi chứ - hắn luôn có câu "chí lý quá đi chứ" nên có hỗn danh "chí lý" ngoài "lơ xe đò".
"Lời đầu tiên là em phải hỏi ngay là dạo này anh có được khỏe không, anh ăn uống ra sao, anh có ngủ được không? "
- Tại sao lại hỏi thế. Mỹ cút ngụy nhào rồi, ta phải ăn no ngủ kỹ chứ. Tại sao lại không khỏe? Nhân dân và nhà nước cho các anh vào đây là đã lo đầy đủ cho các anh rồi. Không cần phải lo đến chuyện ăn uống. Vào đây các anh nào có bị đói đâu. Anh nào đói, dơ tay cho tôi biết nào. À, không ai đói cả, anh nào cũng no, cũng khỏe cả. Trả lời tôi nào: "Cỏ được ăn no không?" .
Toàn hội trường cười lớn. "No lắm! No quá đi chứ!".
Vào đây để được học tập, có chúng tôi, có các bạn giúp đỡ là phải khỏe chứ. Hỏi như thế là còn lấn cấn trong lòng đấy. Chưa tin vào cách mạng, chưa tin vào nhân dân đấy!
"Em nghe nói là trong đó các anh học tập chính trị khó lắm phải không? Nhất là anh chưa quen những chữ của xã hội chủ nghĩa..."
- À cái này thì chị ấy chí lý lắm. Học tập chính trị có phải đơn giản đâu, phải đào sâu suy nghĩ, phải động não thì mới nhận thức nỗi tư tưởng ưu việt của cách mạng chứ, có phải là dễ đâu? Đấy các anh thấy không, anh này theo lý lịch khai báo là kỹ sư gì học tận bên Pháp mà đã thấu hiểu chính trị xã hội của ta đâu. Thế mới biết Đảng ta lãnh đạo thật là tài tình. Các anh nghe có chí lý không?
"Chí lý! Chí lý!"
Chí lý quá đi chứ lại... Tiếng vỗ tay nổi lên từng chập sau mỗi lời bình thư - không phải bình THƠ - của đồng chí quản giáo, thứ người chỉ đáng xách dép cho Tây con và vợ Tây con - không phải để cười cợt Tây con - Tiếng vỗ tay không phải để đùa rỡn trên sự nhớ thương của một thiếu phụ mà đó là những tràng đạn vô hình, tiêu cực chế riễu sự ngu dốt, vô học, xuẩn động về hành vi đọc thư người khác để công khai nhạo báng. Đó là một điều không thể chấp nhận được, không thể tha thứ được đối với một thanh niên được nuôi dưỡng trong môi trường tự do phóng khoáng với bảy năm học ở nước ngoài. Đó là một xúc phạm thô bạo đến tự ái, đến quyền tự do của chú Tây con.
Tôi ngồi sát cánh với hắn lúc đó. Mặt hắn đỏ bừng, lắc lắc cái đầu nhăn nhó. Hàm răng nghiến chặc, tôi thấy rõ bắp thịt hàm chuyển động, những gân ở thái dương nổi lên. Giận lắm, nhưng trong hoàn cảnh này hắn không biết phản ứng cách sao được.
Đoạn cuối bức thư có câu:
"Chúng ta hẹn gặp nhau, ngày hội ngộ không phải tại đây mà ở một phương trời khác, yên lành hơn, tốt đẹp hơn".
- Thế là thế nào. Đất nước này của mình, mình ở chứ. Chỉ năm năm nữa thôi, nước ta sẽ giàu đẹp mười lần hơn đúng như Hồ chủ tịch đã dạy. Có hoà bình rồi ở quê hương mình yên lành hơn chứ. Đất nước mình là cái nôi của nhân loại thì mình cứ ở chứ. Chỗ này chị ấy bị lấn cấn rồi đấy, cần phải được giáo dục thêm.
"Ôm anh và hôn anh ngàn lần"
- Ối giời ơi! Hôn gì mà hôn lắm thế! Như thế là có tư tưởng đồi trụy rồi. Người văn mình và có văn hoá không bao giờ phát ngôn tục tĩu như thế. Ôm và hôn là chỉ có bác Hồ, bác Tôn kính yêu ôm các cháu nhi đồng thắm thiết thôi chứ. Với lại để các bác ôm hôn các anh hùng lao động, các khách quý ngoại quốc thôi chứ. Tôi nói thế các anh có đồng ý không, có chí lý không?
Hội trường vừa vỗ tay vừa la lớn "Chí lý, chí lý, đồng ý, đồng ý". Chưa bao giờ ở đây lại có một buổi "lên lớp" hào hứng mà trật tự vượt khỏi sự kiểm soát của tụi quản giáo vệ binh. Khí thế của đám đông rất sôi nổi. Khí thế này là để chống đối ngầm, như muốn hét to vào mặt tên "lơ xe đò" kia đừng có dạy Tây Đầm thế nào là văn mình văn hoá, qua vòng tay ôm và những nụ hôn.
Vụ lên lớp hội trường còn dư âm, nhưng chưa hết chuyện rắc rối. Dùng chữ Pháp đề tặng mặt sau bức ảnh và dòng chữ đề ngày bằng chữ số la mã cũng đã khiến Tây con mất nửa ngày "làm việc" với tên thiếu tá phó trưởng trại kiêm phụ trách an ninh toàn các K. Sau mấy vụ này "thợ bổ" biếng ăn, biếng bổ củi, hoàn toàn mất niềm tin và trở nên căm hờn dữ. Hắn gọi bọn kia là lũ giặc cướp, lũ mọi rợ, lũ bán khai.
Tôi với hắn, trước kia cùng ngành, tôi đã có dịp nói chuyện với vợ chồng hắn ở Bình Dương, hắn thích tâm sự với tôi. Ông già hiến binh và hai ông lính dù và lính thủy đánh bộ kia hắn vẫn mến, nhưng người thì lớn tuổi quá, người thì hay trêu chọc hắn, nên hắn vẫn thích thố lộ với tôi hơn.
Hắn kể, hôm đó có tên Chòi, trưởng K. tên Chách chuẩn uý an ninh K., anh chàng này còn trẻ mặt trắng xanh, nhưng vô cùng sắt máu và lão thiếu tá kia. Vẫn trò bắt chờ đợi, khai lý lịch viết tờ kiểm điểm sai lầm, rồi đến trò thẩm vấn mà chúng gọi là "trà đàm". Có lẽ nhờ nhãn hiệu công dân Pháp mà được dự trà đàm chăng. Sau này chúng tôi đổi lại là "trào đờm", anh nào mà lên đến cấp toàn trại để hỏi cung là sắp trào đờm! Ba kẻ chiến thắng thay phiên nhau cật vấn hắn đủ điều, hỏi từ đời tam đại của Isabelle làm sao hắn biết được, nhất là bên ông bố ở tận bên Bretagne xa lắc.
- Em đã cãi nhau với chúng nó một trận.
- Chú nói gì, chú dám... tôi ngạc nhiên quá sức.
- Tại sao không, đáng lẽ em không nổi nóng, nhưng đến khi nó lên mặt dạy em là tại sao lại để vợ chụp ảnh hở vai hở cổ lãng mạng, khêu gợi vậy... thì em chịu không nổi. Em vặn thằng thiếu tá: Nếu anh nói đọc được dòng chữ Pháp đề sau ảnh thì anh nói tiếng Pháp với tôi đi.
- Tôi có thể nói tiếng Pháp với anh được, nhưng có các đồng chí ở đây, không tiện.
- Nếu vậy, các anh nên trả lại tấm ảnh cho tôi.
- Đâu được, còn phải chờ lệnh ở Thành- Thằng chuẩn uý Chách phát biểu - vụ này do tôi phát hiện, tôi chịu trách nhiệm. Yêu cầu đồng chí thiếu tá không nên tự quyền giải quyết.
- Đồng ý, phải chờ chính đồng chí giám đốc sở kiêm phó chủ tịch thành phố giải quyết - tên thiếu tá gật gù.
- Nếu anh đã hiểu nội dung và những chữ số đó vô hại, tôi tưởng anh nên quyết định. Chuyện này nhỏ, anh là người cấp to chức nhất ở đây. Tôi hứa là lần sau sẽ không có chuyện này nữa, tôi sẽ dặn vợ tôi. Ngoài ra tôi muốn phản đối các anh một việc.
- Phản đối là phản động. Anh để tôi nhốt nó vào thùng sắt (conex), tên Chách (mà chúng tôi đặt tên là "thằng chăn trâu") sừng sộ tay để vào bao súng lục.
- Đồng chí đừng vội, yêu cầu cứ để anh ta nói. Tên thiếu tá can.
- Tôi phản đối việc đem thư từ của tôi ra đọc công khai trước mọi người. Các anh không có quyền làm thế. Tôi là một cán bộ kỹ thuật từ Sở Giao Thông Vận tải thành phố.
- Bây giờ anh là tội phạm. Chúng tôi có quyền, chúng tôi đang điều tra về anh, anh đã mất quyền công dân. Chúng tôi đại diện cho nhà nước, bảo đảm an ninh tổ quốc. Chúng tôi muốn làm gì chúng tôi làm.
- Không có một chính quyền nào lại đem thư riêng của người dân để phỉ báng, làm trò cười. Các anh coi thường nhân quyền, các anh coi thường công pháp quốc tế.
- Kẻ tù tội không có quyền làm người. Chúng tôi không cần công pháp quốc tế.
- Nếu vậy tôi không cần nói chuyện với các anh nữa - Lão thiếu tá tím mặt lại, tên "chăn trâu" xô ghế định hành hung hắn, nhưng lão thiếu tá và Chòi "lơ xe đò" ngăn kịp.
Tôi tin hắn không bịa chuyện. Từ ngày đó trở đi, ánh mắt nể sợ, tin tưởng bọn kia đã đổi thành tia nhìn khinh bỉ. Dưới mắt hắn, bọn kia chỉ là một lũ bán khai, mọi rợ. Cũng từ đó tên thủ trương "lơ xe đò" và an ninh "chăn trâu" kiềng hắn ra mặt. Chúng đặt thêm "ăng ten" lấy thêm tin tức về Tây con. Nhất là tên Chách "chăn trâu" cứ theo tia mắt căm thù của nó, có thể ăn tươi nuốt sống chú Tây con của tôi ngay tại chỗ được.
***
Chuyến thăm nuôi đầu tiên là ngày trọng đại của tù cải tạo. Đó cũng là những ngày quan trọng đối với bọn cai tù. Trăm thương ngàn nhớ dồn lại ngày hôm đó. Cụ thể hơn là những gói quà, thùng quà và gánh quà gói ghém bao tình, bao nghĩa. Bọn cai tù tuy đã bố trí, chuẩn bị kỹ, nhưng vẫn còn sơ hở, vẫn có những vấn đề xảy ra, nhưng chúng không lường trước được. Chúng cho cất những dãy nhà lá mới, kiểu như một khu tiếp tân ở các quân trường bên ngoài vòng rào trại.
Tôi ra để được gặp nhà tôi và ba trong sáu đứa con tôi, cùng một giờ một nhóm với chàng kỹ sư này. Trước đó hắn chuẩn bị kỹ lưỡng, quá kỹ lưỡng, có lẽ kỹ nhất trong K. này. Hắn làm buổi sáng, đánh răng nhiều lần, chải đầu nhiều lần và soi vào mãnh gương vỡ của người bạn, nhiều lần.
Hắn diện một sơ mi và một quần tây mới nhất, chưa mặc đến bao giờ, để được gặp vợ. Hắn vuốt vuốt mãi mái tóc mới nhờ người bạn hành nghề cắt tóc ngang xương ở đây, làm đẹp lại.
- Ông ngó coi em có preosentable không?
- Beau lắm rồi. Vẫn y nguyên là một kỹ sư Bông Sốt như xưa.
- Thực hả ông? Ủa, để em đi kiếm bó hoa tặng "ẻn" mới được.
- !!!
Tôi tưởng hắn nói chơi, nhưng hắn làm thật. Ở trại tù đào đâu ra hồng, lay ơn như ở Sài Gòn, Paris để tặng vợ yêu theo cách thế tây phương. Cộng sản đã bảo dân và bảo tù là phải khắc phục, phải tự túc. Hắn thực hành ngay lối dạy bảo đó. Không cần hỏi ai, hắn đi hái được một bó hoa, thứ hoa không tên, như bông thọ nhỏ, cùng với ít hoa tím hoa trắng mọc dại, bó lại cẩn thận bao giấy bên ngoài, rồi để sẵn ở chỗ nằm. Khi hắn đứng xếp hàng, vai vác đòn gánh với hai bao bố ở đầu đòn thì không ai để ý hắn đã dấu bó hồng trong đó.
Chuyện đầu tiên mới trông thấy nhau trong căn nhà mới cất còn thơm mùi tranh, tre, hai kẻ trẻ tuổi yêu nhau xáp lại và ôm nhau hôn rất tự nhiên. Đó là một cách thể biểu tỏ tình thương yêu rất bình thường, rất "người". Dân Liên Xô, dân Đông Âu cũng biểu lộ tình thương yêu như vậy thôi. Rồi cộng sản Á châu cũng học mót. Ôm nhau, hôn nhau sau mấy tháng xa cách chẳng có gì là tội lỗi. Ôm nhau chưa đủ, chú Tây con, cậu "đâu có", phu bát tê, thợ bổ, còn vô tình ngang nhiên và anh dũng thò ra một bó hoa. Bó hoa nhỏ, nhưng vẫn còn tươi, có màu vàng, trắng, tím và lá xanh. Bó hoa không đáng giá một đồng bạc, nhưng vào thời gian đó, không gian đó, giây phút đó thực là vô giá.
Tôi liếc mắt thấy Isabelle bừng lên một nét cám ơn, trong khoé mắt tây phương đó tôi thấy long lanh giọt nước mắt hạnh phúc, dù chỉ là hạnh phúc trong cảnh khổ đau, tù ngục. Vợ tôi cũng ngó màn kịch đó, tuy thời gian cho gặp nhau ít oi, nhưng vợ tôi cũng khen cô đó đẹp quá, mấy người bộ đội ở đây ai cũng ngó cô ấy.
Thời gian đầu, bên kia có thể là chưa ra tay, có thể là chưa rút kinh nghiệm việc tổ chức thăm nuôi, chúng chưa trắng trợn đặt công an ngồi ngay cạnh để nghe ngóng. Mấy vệ binh và quản giáo chỉ đi rảo bên ngoài. Khí thấy mọi người đều có vẻ hướng về mái tóc nâu sẫm trong này thì, chúng cử một tên nhóc đeo AK bước vào trong. Hôm trùng phùng đó, cô vợ chàng kỹ sư, vừa có máu Bretagne vừa có máu Hậu Giang luân lưu trong huyết quản, chắc đã được phường khóm chỉ dẫn, Isabelle chỉ dám trang điểm kín đáo - móng tay đã tẩy hết màu sơn đỏ, nhưng bàn tay búp măng vẫn nuột nà. Cô nàng chỉ dám mặc một bộ bà ba kiểu, bằng lụa nâu nhưng có thêu những bông hoa nhỏ rất công phu. Khuôn mặt đẹp như Elizabeth Taylor thời còn thanh xuân. Tóc nâu, mắt nâu, mi nâu dài và cong càng làm nổi bật làn da trứng gà bóc.
Tên vệ binh đứng phía cửa nghe ngóng. Chú Tây con trông thấy, bèn xổ ra một tràng tiếng Pháp như để chọc tức. Dĩ nhiên cô vợ phải trả lời bằng tiếng của bố đẻ. Tên lính nhỏ đó, không biết xử trí ra sao, nhưng rõ ràng nó cũng phải nhận thấy vẻ đẹp rất nổi của Isabelle. Nó đứng thộn ra ngó người đẹp. Chú Tây con làm tới, hắn choàng vai vợ và đặt một nụ hôn vào má nàng. Đến "thời điểm" này thì đã có chỉ thị, hắn sấn lại trước mặt cặp vợ chồng trẻ, giở giọng: "Yêu cầu các anh chị nghiêm túc. Phải giữ đúng "lội" qui thăm "lom". Nghe rõ!". Chú Tây con lặng lẽ gật đầu nhưng không rời vòng tay. Người đẹp Bretagne mở to đôi mắt phượng ngơ ngác hỏi chồng, cặp môi hé mở ngạc nhiên.
Thằng nhóc Thái Bình thấy lẻ loi, có lẽ nó chưa bao giờ thấy một người đẹp như vậy trong đời nó, trong khi chung quanh không khí thật là nặng nề, lạ lùng với nó. Chỉ nghe tiếng rì rầm thăm hỏi, chỉ thấy những khoé mắt ác cảm của những ông bà già, những ngấn lệ của người mẹ, của đứa con... Hắn xách súng lặng lẽ rút lui ra ngoài sân.
Trở về K. chú Tây con phải vất vả lắm mới chuyển hết số lương thực thực phẩm khổng lồ về. Chiếc đòn gánh đem theo, không bao giờ được dùng đến vì có bao giờ kỹ sư bên Tây biết gánh? Sức hắn khỏe lắm, nhưng cũng phải hai chuyến đi hắn mới vác hết về được.
Cả ngày hôm đó là ngày hội lớn, ngày cưới thứ nhì của hắn. Hắn tuyên bố như thế. Hắn không thiết, không cần ăn uống gì, tuy bò gà heo cá ê hề, ở trên đầu, ở dưới chân, ở chỗ nằm. Hắn gối tay ngữa mặt nhìn lên mái tôn và lũ chuột đang rình tấn công thực phẩm thăm nuôi thơm phưng phức. Khuôn mặt hắn rạng rỡ, luôn luôn cười một mình.
Ông già hiến binh gật gù: tao biết chú mày sướng rồi!
- Thì bố coi, con chơi cho thằng vệ binh một vố, nó thua luôn.
- Nhưng tao hồi còn trẻ đó, tù thì tù, tao cũng bị Tây bỏ tù rồi chứ bộ, vợ tao không đẹp như vợ mày bây giờ, lâu ngày đến thăm, chết sống gì tao cũng phải làm một cái đã. Muốn ra sao thì ra.
Tay lính dù bồi thêm một đòn:
- Đ.M. nó, gặp vợ trẻ đẹp mà không... ấy được, chết sướng hơn.
Tay lính thủy đánh bộ bỏ bom tiếp:
- Phải mà, chế độ gì kỳ cục. Hôn hít sơ sịt ăn thua mẹ gì. Tớ mà cỏ vợ đẹp như vậy, tớ đâu có chịu nằm đây nữa, tớ "dọc" từ khuya rồi.
Chú Tây con vẫn giữ nụ cười, nhưng nghe các cố vấn tình yêu nói cũng chí lý lắm. Hắn lẩm bẩm:
C'est ca, c'est ca, Oui, oui!
Nhưng hắn không giữ được nụ cười lâu dài.
Trước khi đi lao động sáng hôm sau, chúng tôi nhận được lệnh phải trở về buổi trưa, để ăn uống xong sẽ chịu một cuộc nói chuyện của "các anh ở trên" nữa. Buổi sáng hôm đó trong toán chúng tôi, vắng mặt "chú Tây con".
Đúng hai giờ trưa, thì tên thiếu tá phó trại trưởng mới đến, nghĩ là chúng đã hành chúng tôi, bắt phơi nắng hơn tiếng đồng hồ. Vẫn tác phong khề khà, sâu hiểm như những tên cán bộ khác. Mở đầu hắn ngõ lời chào (!) chúng tôi. Rồi cà kê dê ngỗng kể chuyện đại thắng, chuyện đảng ta, nhân dân kiên cường, bây giờ đã sạch bóng quân thù, thống nhất đất nước. Các anh học tập để trở thành con người mới trong xã hội chủ nghĩa ... Mục đích chính của hắn là nhận xét phê bình về chuyện thăm nuôi vừa qua. Đảng và nhà nước vô cùng nhân đạo, không có tắm máu, ngày xưa ta còn cấp thuyền bè cho Trung quốc phong kiến trở về nước, ngày nay vẫn cho các anh gặp vợ con. Nhưng trong số các anh vẫn còn những hành động không tôn trọng nội qui, thiếu văn minh, không có văn hoá. Điển hình là anh... ở K. này. Anh ấy đâu?
Tên chuẩn uý Chách mặt xanh, Bí danh "chăn trâu" dẫn thủ phạm kỹ sư "Bông Sốt" ra trước đám đông.
- Như anh này đây, xem ra cũng là người có trình độ khoa học kỹ thuật đấy, được bố mẹ có tiền cho đi học nước ngoài cơ đấy. Sau mấy tháng học tập, mới lao động sơ khởi, nhưng qua chuyến thăm nom vừa rồi thấy rõ còn nhiều khuyết điểm lắm. Còn nhiều đầu óc ủy mị, nặng gia đình, có tư tưởng hưởng lạc, đồi trụy xuyên qua hành động thân mật với vợ.
Đứng bên dưới, tôi nghĩ thầm, đây là dịp hắn đáp lễ lại chú Tây con đã cả gan phản đối hắn trong bữa trà đàm. Trong cái nắng chói loá tháng sáu ghê người, trên những cánh đồi thấp ở gần Biên Hoà, cái chói chang của những mái tôn phản chiếu mặt trời, trong giọng chát chúa qua máy phóng thanh, tai tôi ù, mắt hoa nhưng vẫn thấy chú Tây con nhẫn nhục đứng nghiêm trước bọn quản giáo.
- Lại còn hành động trao hoa nữa. Hoa đó đâu phải là hoa do sức lao động anh ấy làm ra, hoa đỏ là của tập thể. Chỉ các đồng chí cấp cao, các khách quý nước ngoài mới được nhận hoa thôi chứ...
Tôi không thấy nước mắt của Tây con, chỉ thấy những giọt mồ hôi chảy dài trên khuôn mặt đẹp trai và đỏ bừng vì căm hờn, vì nắng hè mà thôi. Phải, dưới lớp mũ vải xấu xí và bộ quần áo tồi tàn, hắn đứng như tượng gỗ. Nét mặt bình thản như trước mặt không cỏ bóng người. Tôi hiểu Tây con khinh bọn kia vô tả, tôi hiểu hắn đứng đó nhưng không thèm nhìn ai hết, đứng đó mà không thèm nghe gì hết, mặc cho tên kia đang ông ổng tuôn ra những lời chói tai. Hắn đứng đó nhưng hồn hắn đang bay về Sài Gòn, về bên người vợ thân yêu xinh đẹp với mái tóc biển Manche, với làn da nõn như mây trời Bretagne.
Khi được hỏi : "Anh có gì phát biểu không?"
Hắn suy nghĩ vài giây, rồi mạnh bạo trả lời: tôi không có gì nói cả.
Tên thiếu tá hỏi gặng: anh sẽ xứng đáng để lần sau gặp vợ nữa chứ?
Hắn làm như không nghe thấy câu hỏi đó. Tên thiếu tá phải xoay qua nói thêm với đám đông một chập nữa... Tôi hiểu Tây con đã trưởng thành, hắn biết rằng nói gì nữa cũng bằng thừa, cũng vô ích. Vì hắn đã nói hết, đã nói thẳng vào mất bọn kia rồi. Đây là lúc nín thở qua sông thôi. Tôi biết, lát nữa đây, sau khi về chỗ ngủ để tiếp tục triển khai "lời dạy dỗ của đồng chí thiếu tá", thế nào chú Tây con cũng bị nhiều kẻ trách móc vì lo sợ sẽ bị làm khó khăn cho kỳ thăm nuôi sắp tới, nhưng chúng tôi, già hiến binh, lính dù, lính thủy đánh bộ và tôi sẽ bênh vực hắn.
Sau ba năm khổ sai, tôi trở về. Hỏi thăm, được biết Isabelle đã kịp thời cứu được chồng ra khỏi nanh vuốt, qua sự can thiệp mạnh của toà đại sứ Pháp tại Sài Gòn. Tôi tạm quên thân phận hẫm hiu của mình để mừng cho cặp vợ chồng trẻ đã qua được đất Pháp. Ít nhiều gì con người của Tây con và vợ đã thẩm nhập được những tư tưởng tự do phóng khoáng dân chủ lãng mạn của Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Hugo, Verlaine... nếu còn ở lại Sài Gòn sẽ không chịu đựng nỗi với cái tư tưởng lỗi thời, lạc hậu sai lầm, già nua của Marx, Lenine, Mao, Hồ.
Ở bên trời Tây, có một lúc nào đó, Tây con còn nhớ đến chúng tôi? Và Isabelle, cô còn nhớ đến quê mẹ chăng?
Diệu Tần
--------
Nguồn: VĂN, số 60, tháng 6-1987
Friday, February 16, 2018
CỦA QUÝ NẠM VÀNG
Nguyễn Thạch Giang
Anh bước vào quán cà phê của chú Năm ai cũng ngó, anh vừa "bắn tiếng" là anh đang tìm vợ. Nhưng anh nói trước, vợ anh phải đi làm nuôi anh, anh sẽ là người chồng ăn ở không đi chơi, sáng quán cà phê chiều quán nhậu.
Lúc anh bước ra mọi người bắt đầu bàn tán, xóm nhà lá này vui hẳn lên. Anh Tư Hên nói thằng cha Việt kiều này nói chuyện có hơi "sốc". Chị Ba Điệu thì nói cha này chắc đẻ bọc điều, sướng từ trong trứng sướng ra. Thằng Tửng thì nói ở đây đàn ông đi làm nuôi vợ, cha này thì vợ đi làm nuôi chả, chắc con cu của chả nạm vàng. Mọi người cười ồ thích thú.
Anh tên Thân vì má anh đẻ anh năm con Khỉ, đẻ rớt chớ có đẻ bọc điều chi đâu. Tết năm đó, cái năm Mậu Thân nhớ đời, Việt Cộng lợi dụng lúc hưu chiến mở cuộc tấn công tùm lum. Trong khi bà con nhốn nháo tìm đường di tản thì mẹ anh nửa đêm đau bụng đẻ tìm người đưa đi nhà thương. Đường xá cúp điện tối om, lại thêm giới nghiêm, bà lội bộ đến nhà bảo sanh may mà không đẻ rớt. Bà tủi thân khóc tấm tức, sanh con nhằm năm con Khỉ nên đặt tên anh là Thân cho dễ nhớ.
Tết Mậu Tuất này anh về Việt Nam chơi và có ý định tìm vợ, năm mươi tuổi rồi, trụ lại cũng là vừa, ăn chơi nhiêu đó đủ rồi. Qua Mỹ đã lâu nhưng làm ít mà xài nhiều nên anh vốn liếng giờ cũng chẳng có gì, trên răng dưới củ. Nhưng anh không lo, mà từ trước tới giờ anh có lo gì đâu, giao cho ông trời lo. Giờ cưới vợ để vợ lo.
Nhà cha mẹ anh ở trong cái xóm nhà lá này, anh đi Mỹ hồi nào không ai biết, tới chừng anh là Việt kiều hồi hương thì mọi người bật ngữa. Lâu lâu vài ba tháng là thấy anh ngồi quán cà phê chú Năm. Hỏi anh làm gì ở bên Mỹ mà cứ thấy về Việt Nam chơi hoài sướng quá vậy. Anh nói đang thất nghiệp, tui thất nghiệp về Việt Nam chơi. He he. Nói anh số đẻ bọc điều cũng phải.
Anh năm mươi tuổi mà chưa từng lập gia đình? Chuyện khó tin nhưng có thật. Lúc còn trẻ thì ham vui nay cặp cô này mai cặp cô khác. Giờ lớn tuổi không tiền bạc không sự nghiệp, nhìn gái gái ngó lơ. Muốn có vợ hơi bị khó. Anh chỉ còn nước về Việt Nam thì họa may.
Trong cái xóm nhà lá chỗ anh ở có một căn nhà ngói, nhà của bà Mộng Điệp. Bà Mộng Điệp chuyên kinh doanh quán bia ôm giờ nhiều tiền hùn hạp kinh doanh nhà nghỉ. Tên thật của bà là Đẹt, Lê Thị Đẹt. Bà tên Đẹt nhưng người thì không đẹt, mười ba mười bốn đã phỗng phao như gái mười tám. Da trắng mắt to ngực vun cao mông đầy đặn, bà nổi tiếng xinh đẹp từ thời là gái mới lớn. Từ con Đẹt giờ thành con Đẹp. Lúc bà lấy chồng đẻ con bắt đầu mở quán nhậu thì cái tên Đẹt nhà quê ấy biến thành Điệp, Mộng Điệp, lấy theo tên của bà thứ phi của vị vua cuối cùng triều Nguyễn. Bà nói thà làm thứ phi cho một vì vua còn hơn làm chánh thất cho một người đàn ông không tên tuổi.
Bà có ba đời chồng, ông chồng đầu tiên là có cưới hỏi đàng hoàng, hai ông sau thì chỉ như người tình hờ để bà sai vặt nhờ vã chuyện này chuyện kia. Bà giỏi làm ăn, chỉ thích ra ngoài buôn này bán kia kiếm tiền. Chuyện bếp núc hay chuyện nuôi con giao cho ông chồng và người làm. Suốt ngày bà ở ngoài đường giao tiếp với đối tác bàn chuyện làm ăn. Mà thời buổi này dân làm ăn bàn chuyện làm ăn trên bàn nhậu. Lúc đầu bà chỉ uống chút chút xã giao cho có lệ, lâu ngày quen trớn bà cũng cụng ly dô dô trăm phần trăm như cánh đàn ông. Hết nhậu thì đến tăng hai...mát xa... bước qua tăng ba...kéo nhau ra nhà nghỉ. Đồng hội đồng thuyền, đàn ông gái gú thì mình đàn bà kém chi, không phi công trẻ cũng phi công già. Mình có tiền thì mình có quyền... he he.
Bà chưa từng yêu ai thật lòng, từ lúc mới lớn bà đã được đàn ông bao vây, xung quanh lúc nào cũng có đàn ông để bà sai khiến. Đàn ông theo đuổi tán tỉnh bà chớ bà chưa từng để ý đến ai. Nhưng không hiểu sao từ hôm nghe thiên hạ đồn rằng... anh ta đang "tuyển vợ". Cái anh chàng Việt kiều lối xóm thỉnh thoảng đi ngang nhà, bà thấy ở anh ta có cái gì rất lôi cuốn. Bà thật sự bị lôi cuốn. Bà muốn chiếm hữu người đàn ông này. Cuộc đời của bà chưa từng theo đuổi ai mà không được.
Lấy anh ta phải đi làm nuôi anh ta? Chuyện nhỏ. Bà từng nuôi chồng và từng bỏ tiền ra nuôi trai. Từ trước đến giờ mọi chuyện tiền bạc chi tiêu trong gia đình một tay bà lo. Bà thích như vậy, hễ mình nuôi ai thì mình đặt đâu họ ngồi đó. He he...
Bà nghĩ bà là người đầu tiên ghi danh cho cuộc "tuyển vợ" của anh chàng đang nổi tiếng nhứt xóm nhà lá này. Nhưng không, ở đời mình nhanh thì cũng có người khác nhanh hơn. Cô giáo Minh là người xóm khác nghe tin đã vội nộp đơn trước rồi. Cô là giáo viên dạy cấp ba trường trung học. Cô nổi tiếng học giỏi, đã bốn mươi nhưng chưa chịu lấy chồng. Mà lấy ai ở cái xứ này đây? Cô vẫn còn ham học và vẫn còn mơ về một nơi xa lắm. Mỹ. Ôi giấc mơ Mỹ sao mà nó quyến rũ lạ kỳ.
Người thứ hai dự tranh là con Mộng Ngọc, tên Mộng Ngọc nghe kiêu sa đài các chớ thật ra nó là gái bán bia ôm. Tên thật của nó chẳng ai biết, nhưng điều đó đâu quan trọng. Mộng Ngọc còn trẻ, rất trẻ và đẹp. Nhà nghèo quá ưng đại ông Việt kiều này, ổng ra điều kiện nào cũng chịu vì nghe đồn qua Mỹ rất dễ kiếm tiền.
Bà Mộng Điệp tự tin, không thấy điều gì phải lo lắng. Hai đối thủ của bà, tuy có trẻ hơn, nhưng sao kinh nghiệm "đàn ông" bằng mình, mình lại có nhiều tiền hơn họ. Bà mở tiệc đãi người đàn ông nổi tiếng có một không hai ở thành phố này. Buổi tiệc đặc biệt, gồm toàn đặc sản quê hương. Nào là chuột đồng rô ti, chuột đồng nướng sả, rồi thì thịt rắn cùng với thịt rùa. Ở Mỹ làm gì có mấy thứ này. Nhưng sao chàng không mặn mà cho lắm, món nào cũng chỉ thử qua một miếng cho biết rồi thôi. Chắc là chàng còn e dè khách sáo. Nhưng không hề chi, chàng không ăn thì mình "đút" chàng ăn, mình từng làm chủ quán bia ôm kia mà.
***
Anh Thân và chị Lựu là bà con cô cậu. Hai nhà ở sát cạnh nhau, từ nhỏ hai người chơi đùa cùng nhau thân thiết như đôi bạn. Trong khi anh Thân vẫn còn độc thân thì chị Lựu đã có dâu có rễ, cháu nội cháu ngoại một nhà. "Vậy mà ổng già còn sanh tật, có bồ nhí." Chị than thở với mọi người, nhất định là chồng chị đi ra ngoài ăn vụng. Ai khuyên bảo thế nào cũng không nghe. Chị lại có tật hay xem bói, rất mê và rất tin thầy bói. Thời này mà chị cũng tin ba cái bùa mê ngãi yêu, chị nói chồng chị bị con nhỏ đó bỏ bùa. Mấy tháng nay chị lo buồn thân sơ thất sở ốm o gầy mòn. Hôm nay sẵn dịp anh Thân ghé chơi, chị rủ anh qua nhà thằng Tý Chuột hỏi thử xem nó có bùa ngãi gì không, nó nổi tiếng đồng bóng xóm này, biết đâu chừng nó có. Chị nhất định lôi ông chồng của mình ra khỏi cơn mê tình.
Thằng Tý Chuột không có nhà, chỉ có chị nó đang nấu cơm, hai người ngồi chờ. Chị Lựu tiếp tục kể tội ông chồng, anh Thân ngán ngẫm không muốn nghe đưa mắt ngó ra nhà sau. Lâu lâu bắt gặp chị thằng Tý vén màn len lén nhìn trộm. Nhìn điệu bộ cô nàng anh bỗng thấy tức cười, không biết cô nàng nghĩ gì về mình đây? Hay là cô nghe người ta nói điều gì về mình?
Cơm chín mà thằng Tý cũng chưa về, chị nó mời hai người sẵn bữa ăn cơm với tụi em. Chị Lựu từ chối định đi về "cám ơn em thôi để khi khác." Nhưng anh Thân nói mình ở lại chờ thằng Tý, thật ra anh bỗng dưng thấy thích thích cô gái này. Rồi anh tự nhiên rủ chị Lựu ăn cơm cho vui "chút nữa tui ra tiệm mua đồ ăn khác đền cho nó".
Chị thằng Tý cứ nhìn anh cười tủm tỉm. Anh nghĩ chắc cô nàng nghe người ta nói về mình điều chi đây. Cô hỏi anh tuổi con gì. Chắc cô nàng muốn biết anh bao nhiêu tuổi.
"Người ta tuổi Ngọ tuổi Mùi. Riêng tui cay đắng ngậm ngùi tuổi Thân".
Cô nàng tròn mắt, miệng cười tủm tỉm. "Anh Thân tuổi con khỉ hả? Em cũng tuổi khỉ, nhưng không có tủi thân mà là Canh Thân".
"Mà em biết tại sao anh tủi thân không? Tại vì từng tuổi này mà vẫn còn cu ky một mình"
"Em nghe nói có bà Mộng Điệp nè, người đẹp Mộng Ngọc nè, rồi cô giáo Minh nữa chi"
Wow! Cả anh Thân và chị Lựu cùng lên tiếng "cả cái xóm này ai cũng biết, sao tui nổi tiếng dữ vậy kìa". Rồi anh nhìn sang chị thằng Tý " Em có nghe người ta đồn về anh như thế nào không?".
Chị thằng Tý cười cười ngập ngừng không muốn nói. Anh bỗng cười khùng khục khi nhớ tới lời thằng Tửng nói cái đó của mình nạm vàng. Anh hỏi cô nàng:
"Nếu chồng em nói em phải đi làm nuôi chồng, em sẽ nghĩ sao"
"Em sẽ nói được thôi, em đồng ý đi làm nuôi anh, nhưng với điều kiện em nói gì anh phải nghe theo"
Anh Thân bị giáng trả một đòn đau điếng. Khi buông lời nói nửa đùa nửa thật "ai muốn tui cưới phải đi làm nuôi tui". Anh thích thú với câu nói đó lắm, cảm thấy như mình ngon lành dữ lắm. Giờ bị một cô gái trẻ đáp lễ làm anh cứng họng. Vợ nuôi mà vợ đặt đâu ngồi đó thì vợ ơi thà chết sướng hơn.
Bỗng dưng anh Thân và chị thằng Tý "kết mô đen", bỗng dưng hai người hẹn hò đi chơi chỗ này chỗ kia. Anh Thân là người từng trãi, lại nỗi tiếng đào hoa nay cô này mai cô khác. Ai thấy cũng ngại cho chị thằng Tý Chuột, rồi có ngày anh sẽ một đi không trở lại. Thằng Tửng thương bạn, nói với thằng Tý mầy không nghe người ta nói cái ông đó sao, có một cái củ cải héo mà đi bán cùng làng. Thằng Tý Chuột đáp tỉnh queo, người ta tốn bạc triệu mua rùa mua rắn mà còn chưa thấy gì, chị tao có tốn đồng bạc nào đâu mà cũng có được cái củ cải héo. Kệ, coi như mình đùa hết láng đặt một ván bài, được ăn cả ngã về không. Thằng Tửng dang tay kêu trời, thôi hết ý kiến.
Anh Thân rủ chị thằng Tý đi Vũng Tàu chơi, anh không có tiền năn nỉ mượn chị Lựu mười triệu. Chị Lựu đồng ý cho mượn với điều kiện cho chị đi theo. Chị thằng Tý Chuột muốn nó cùng đi, thằng Tý rủ thêm thằng Tửng cho có bạn. Anh Thân đành chịu thôi. Đông vui hao. Đến Vũng Tàu mướn hai phòng khách sạn, chị Lựu và chị thằng Tý chung phòng, phòng kia dành cho ba ông con trai.
Buổi tối ăn cơm xong cả bọn dẫn nhau ra bãi biển ngắm trăng hóng gió. Một lát sau anh Thân rủ chị thằng Tý đi ngắm cái gì không biết. Chờ hoài không thấy hai người trở lại cả bọn dẫn nhau về phòng khách sạn. Chị Lựu ở trong phòng một mình sợ ma, chị qua phòng thằng Tý ngồi chơi sẵn dịp nhờ nó coi bói. Rồi chị xin nó một lá bùa yêu. Nó nói nó không có bùa. Chị trợn mắt dậm chân "mày không bỏ bùa sao anh Thân mê chị mày dữ vậy".
Chờ đến khuya hai người vẫn chưa thấy về, thằng Tý ái náy sợ có chuyện gì, nó lấy cái phone định gọi. Chị Lựu cười cười nói mầy khỏi gọi, hai tụi nó đang ở trong phòng tự nãy giờ. Thằng Tý chợt nghĩ sao chị biết, thôi rồi chị với anh Thân hai người đã bày mưu tính kế từ đầu.
Từ hôm đi Vũng Tàu về anh Thân coi chị thằng Tý như là vợ của ảnh không bằng. Anh mê chị nó còn hơn là bị bỏ bùa. Hai người dẫn nhau đi làm hôn thú, anh có đem sẵn giấy tờ, công hàm độc thân các thứ. Còn đám cưới ra mắt bà con thì để từ từ, giờ anh chưa có tiền.
Anh nay đã là con rể trong nhà, anh tình thật nói anh không có tiền để làm giấy tờ bảo lãnh cho vợ, nếu có thì ứng trước cho anh mượn đỡ. Thằng Tý Chuột ký ca ký cóp dấu mấy lượng vàng ở trong vách nhà. Mà là vàng nhẫn chớ không phải vàng lá, nó dấu chỗ này một hai chỉ, chỗ kia vài ba chỉ. Nó với thằng Tửng hì hục đục đẻo vách tường cả buổi trời gom đâu được chừng năm lượng. "Công nhận thằng này vậy mà giỏi", thằng Tửng nói, "mày để dành tiền hay thiệt đó Tý, nhưng tao thấy tội cho mày quá, bòn tro đãi trấu giờ đem cho con gấu nó ăn".
"Anh Thân nay là con rể trong nhà, ảnh đã làm hôn thú với chị tao rồi".
"Hôn nhân cũng đâu giữ được chân ai"
Thằng Tý Chuột nhìn thằng Tửng, "Mày lượm được câu đó ở đâu vậy?"
"Kỳ Duyên"
"Hoa hậu Kỳ Duyên?"
"Không phải cô Kỳ Duyên hoa hậu Việt Nam, cô Kỳ Duyên này cũng là hoa hậu, nhưng là hoa hậu Cà Chớn"
Thằng Tý Chuột trầm ngâm nghĩ ngợi, rồi nó nói một câu mà thằng Tửng phải chấp tay bái phục.
"Trong một cuộc hôn nhân, điều quan trọng nhất là khi ly dị người ta chia được bao nhiêu của".
Friday, January 19, 2018
BUÔN THẦN BÁN THÁNH
Nguyễn Thạch Giang
Thằng Tửng mở cửa rào bước vào trong miệng kêu oang oang: "Tý Chuột! Tý Chuột!". Thằng Tý từ nhà sau bước ra, tay cầm con dao miệng nhai nhóp nhép:
- Tao đang nấu cơm, ủa, tao tưởng mầy với thằng Tèo đang ngồi ở quán cà phê chú Năm chớ.
- Tao với nó ngồi đồng từ sáng tới giờ, không biết đào đâu ra một triệu đóng hụi chết. Đang lúc nghèo, mẹ, sao lúc này nghèo dữ không có được mấy chục ngàn ăn sáng.
- Mày đói bụng không, tao luộc mì gói cho mày ăn đỡ chớ cơm chưa chín, mà cũng chỉ có cá kho thôi.
- Ừ, ăn đỡ đói, có còn hơn không, quan trọng là từ đây tới chiều phải có một triệu. Mày có cho tao mượn, hay là tìm cách xoay dùm tao.
Thằng Tý chạy xuống bếp tiếp tục công việc nấu nướng, đó là phận sự của nó. Vì nó không đi làm nên phải làm công chuyện nhà, nấu ăn, giặt giũ, quét dọn lau chùi nhà cửa. Mà nó thích như vậy, không bị bó buộc giờ giấc, xong phận sự là nó dông tuốt ra quán ngồi tán dóc với bạn bè ngó ông đi qua bà đi lại. Nó không đi làm nhưng lúc nào nó cũng có tiền xài, trời cho, chỉ đủ lai rai cà phê thuốc lá, nhưng nó chỉ cầu được như vậy thôi.
Thằng Tý sống với mẹ và chị nó. Nó chưa từng có bạn gái mà chắc nó cũng sẽ không lấy vợ. Từ nhỏ thường bị bạn bè chọc ghẹo cái đó của nó "lớn" bằng trái ớt hiểm. Thằng Tửng thì nói nó sanh không nhằm thời, "Nếu mày sanh thời vua chúa, mày sẽ được làm quan, quan Thái Giám". He he.
Thằng Tý luộc rau xong tắt lửa nồi cá kho, chút nữa má và chị nó về ăn. Nó bước ra nhà trên, thằng Tửng ăn xong ngồi hút thuốc lá chờ nó. Nó bước vào phòng đếm tiền cho thằng Tửng mượn "chữa cháy". Đếm tới đếm lui chỉ có mấy trăm ngàn, nhưng nó không muốn hỏi má nó mà nó cũng không muốn đem bán mấy chỉ vàng. Chợt nhìn thấy bức tượng rất đẹp nó mua ở Campuchia hôm đi viếng khu đền Đế Thiên Đế Thích. Nó nghĩ bụng hay là đem bức tượng "ông Thần" này đi bán. Nó xách ra ngoài cho thẳng Tửng coi.
- Mày thấy "Ông Thần" này có đẹp không? Tao mua hôm đi chơi ở Angkor Wat, giờ túng tiền đem bán cho mày mượn, chớ tao không có đủ.
Thằng Tửng bước đến cầm bức tượng lên ngắm nghía. Coi cũng đẹp, không biết thần thánh gì đây, nửa giống Thái Lan nửa giống Ấn Độ.
Thằng Tý lấy cái bọc ny long bỏ bức tượng vào, hai đứa bước ra ngoài tìm chỗ bán "ông thánh thần".
Hai đứa dẫn nhau đến nhà bà Hồng. Bà này nổi tiếng "giàu" nhứt xóm, chuyên kinh doanh nhà đất có mấy chục căn nhà trọ cho mướn. Bà bận rộn cả ngày, nói chuyện với hai đứa mà điện thoại cứ reo vang. Bà cầm bức tượng ông thần lên ngắm nghía. "Mày mua "ông thần" này ở bên Campuchia hả?". Bà cầm ông thần lên vỗ vỗ, "Bằng gỗ hả? Tượng gì nhỏ xíu chắc là đồ giả ". Bà bước đến khoe bức tượng "thần giữ nhà" bằng đá cao gần năm tấc đặt ở góc trái phòng khách. Bức tượng này cô mua ở Thái Lan, Cô còn nhiều tượng thần lắm, thần giữ của, thần giữ bổn mạng, thần tình ái. Bà dẫn hai đứa ra sân vườn khoe tượng thần, thôi thì lũ khũ ông thánh bà thần lớn có nhỏ có, đủ kiểu nằm ngồi đặt rải rác khắp khu vườn.
Bà có nhiều thần thánh thế kia, ông thần của mình chắc không có chỗ đứng. Thằng Tửng bàn với thằng Tý hay là tụi mình đem ông thần này tới bán cho ông Minh chủ cửa hàng điện máy. Ông này giàu lắm nổi tiếng làm từ thiện. Cúng chùa cúng đình cúng miễu gì cũng có ổng đóng góp. Mà mày phải vẽ vời một chút, nói là thần giữ của giữ bổn mạng. Người ta nghe tin tưởng mới mua. Thằng Tý gải gải đầu. Tao đâu biết nói xạo, biết tên ổng là gì đâu mà nói, mày có giỏi thì nói đi. Mày nói đại cái tên tiếng Miên ai mà biết. Tao nói người ta đâu có tin bằng mày nói, mày đồng bóng xóm này ai cũng biết, buôn bán thánh thần là hợp với cái mạng của mày rồi.
Ông Minh "điện máy" cầm ông thần lên ngắm nghía, ông cười hề hề, ông thần này không được đẹp, mà sao đôi mắt ổng nhắm hít vậy hả, nhắm mắt thì đâu thấy đường mà đếm tiền. Ông lại cười hề hề, nhưng tao thích tượng bằng đá thật, đá thật nhe, không chơi tượng xi măng, mà tượng phải cao lớn như người thật, chưng trong nhà hay để ngoài sân đều thấy đã con mắt.
Hai đứa lại ôm ông thần đi ra tìm chỗ khác bán. Đi tới đâu ai cũng lắc đầu, xứ này người ta chỉ chuộng "ông Thần Tài" chớ còn "ông thần giữ của" thì họ không cần. Của đâu có dư mà cần thần giữ. Buồn tình hai đứa ghé vô quán cà phê chú Năm ngồi nghỉ mệt. Đứa con gái chú Năm thích thằng Tửng, thấy nó là xáp lại ngồi. Cà phê đặc biệt em pha cho anh đó, anh uống thử coi có ngon không. Nói rồi cô nàng tự nhiên lấy cái muổng múc một muổng cà phê đưa vô miệng nhấm nháp hít hà. Ngon lắm, cà phê đặc biệt anh thử đi. Cô nàng lại chạy vào trong lấy cái bánh bông lan bước đến ngồi bên thằng Tửng, bẻ cái bánh làm đôi đưa nó một nửa. Đôi mắt lúng liếng đưa tình, ngon lắm của em làm, anh ăn thử. Thằng Tửng bị gái tấn công lộ liễu quá nó có phần lúng túng. Thằng Tý Chuột xách "ông thần" bước đến chú Năm gạ bán. Chú Năm đưa mắt ngó qua không buồn cầm lên ngắm nghía. Bán một triệu hả? Mắc quá! Tưởng rẻ mua chưng trong nhà chơi. Chừng bao nhiêu thì chú mua? Cao lắm là một trăm ngàn. Thằng Tý không nói gì bỏ "ông thần" vô túi ny long bước đến kéo thằng Tửng đi về. Thần thánh mà ổng trả giá nói mắc nói rẻ, ông Minh "điện máy" thì nói thần không được đẹp, còn bà nội Hương thì nói thần giả, nói cái gì làm giả thì nghe còn có lý, thần thánh sao có hàng giả với lại hàng thật. Bà nội!
Vừa bước vào nhà đã thấy anh Tư Hên ngồi chờ. Anh là người lối xóm, hai vợ chồng đều giỏi, nhưng anh có cái bịnh mê đánh số đề, tiền làm bao nhiêu cũng không đủ nộp cho "Ông huyện đề". Anh thề thốt với vợ không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng cái tật không chừa, bỏ mấy con số "quỷ ám" đó không được. Vừa trả dứt nợ lại bắt đầu chơi tiếp. Hôm nay anh tới đây là biết anh có chuyện rồi. Hỏi anh đi đâu đây, anh nói đi trốn nợ chớ đi đâu. Chiếc xe cầm không có tiền chuộc bán luôn rồi, bả chửi quá trời. Rồi bây giờ bả biết tao thiếu nợ cả trăm triệu, bả làm dữ nhảy đùng đùng tao chạy qua đây ngồi lánh nạn nảy giờ. Chiều nay phải có ba triệu đóng tiền lời, tụi nó mà tới nhà tìm là tao hết đường về.
Thằng Tý Chuột thở dài ngao ngán, đang khổ mà gặp anh còn khổ hơn. Nó lấy bức tượng ông thần để lên bàn. Tui với thằng Tửng cần một triệu, mang ông thần này đem bán lội rả cặp giò chẳng ai mua.
Tư Hên bước đến hai tay cầm bức tượng ông thần để trước mặt. Ông thần ơi! Ông có linh thiêng cho con một con số, con khổ quá! Chiều nay mà không có ba triệu thì con hết đường về nhà.
- Nữa lại số đề! Thằng Tửng lên tiếng.
- Không đánh đề tiền đâu trả nợ, trả nợ xong thì tao bỏ, thiệt đó.
- Đó, thì anh lại vái ổng đi! Khỏi cần đốt nhang.
Anh Tư Hên bước lại ngắm nghía ông thần, anh cầm ổng lên nhìn cho kỹ, vừa định khấn vái xin ổng con số thì giật mình thiếu điều quăng ông thần xuống đất, thằng Tý Chuột la thất thanh như bị ai cắt cổ mổ họng. Nó chạy ra trước sân đuổi con chó miệng lớn tiếng chửi thề. Nó bước trở vô nhà còn bực tức, mẹ, con chó của ông Hai hàng xóm cứ tới nhà mình ỉa. Bữa nào tao phang mầy một trận cho mầy chừa cái tật ỉa bậy.
Cả bọn ôm nhau cười. Tưởng gì chó ỉa. Anh Tư Hên nói tao đang khấn vái ông thần xin số, mày la thất thanh tao hoảng hồn tưởng trời sập tới nơi. Rồi bất chợt anh Tư Hên vỗ bàn một cái bốp. Hay là ông thần cho mình số. Đúng rồi thần cho mình số. Anh móc xấp tiền trong túi ra đếm, còn đúng một triệu, chơi luôn. Một liều ba bảy cũng liều. Tao mua bao ba đài miền Nam số con chó, chó nhỏ chó vừa chó lớn chơi láng cho chắc ăn. Anh bước đến bức tượng ông thần chấp tay xá xá, lòng thành tâm khấn vái. " Ông thần ơi! Ông có linh thiêng giúp cho con trúng số có tiền trả nợ, con sẽ từ bỏ số đề, nếu có chơi thì chơi chút đỉnh cho vui, con nguyện sẽ thỉnh ông về nhà thờ phượng suốt đời".
Thằng Tý Chuột và thẳng Tửng ôm bụng cười lăn khi nghe anh khấn vái. Bái phục sư phụ. " con xin từ bỏ chỉ xin lâu lâu chơi chút chút cho vui cửa vui nhà". Đúng là vui, bỏ uổng sư phụ!
Anh Tư Hên bước ra ngoài, vỗ vỗ vai thằng Tửng nói như thiệt, chú em đừng lo, chú cần một triệu phải không? Xổ số xong ông anh cho mày hai triệu. Nhe. Nhất trí vậy đi.
Đài Đồng Tháp vừa xổ lô đầu, tiếng điện thoại kêu vang. Bên kia đầu dây tiếng anh Tư Hên, đúng phốc mày ơi! Con chó nhỏ số 11, có thằng Tửng đó không? Chút nữa anh qua cho mỗi đứa hai triệu như đã hứa, nhe. Tý có rãnh làm món gì nhậu, xong kết quả ba đài anh ghé mua bia xách qua. Nhe.
Chiều hôm đó buổi nhậu thiệt là đình đám. Anh Tư Hên trúng mánh lớn, cả ba đài đều xổ con chó, chó nhỏ chó lớn chó vừa đủ cả. Bạn bè lối xóm kéo đến chật nhà thằng Tý Chuột. Đám đàn ông thì nhậu, đàn bà con nít xúm lại ngắm nhìn trầm trồ ông thần. Linh quá! Ông thần linh quá! Có người còn vái xin ổng cho số đánh đề. Anh Tư Hên ngồi nhậu nhưng cũng lớn tiếng, còn xổ con chó nữa, chưa hết đâu, tin tui đi, chiều nay đài miền Bắc, tui mua rồi, tối nay mà vô nữa, tui rước ông thần này về nhà thờ ổng luôn.
Thật không ngờ, buổi chiều đài miền Bắc lại xổ con chó cả đầu lẫn đuôi. Anh Tư Hên thắng đậm. Không dừng lại chỗ đó, anh lại trúng đậm ba ngày kế tiếp, cũng mỗi một con số...chó ỉa...thật không thể tưởng tượng nổi. Anh Tư Hên có được mấy trăm triệu trong vòng mấy ngày, thiệt tình trước đây có nằm mơ cũng chưa thấy. Anh trả xong nợ gần trăm triệu, mua chiếc xe tay ga đời mới, sửa nhà bếp nhà tắm, đưa chị Tư Hên giữ một mớ, cho lối xóm nghèo người một triệu. Anh thỉnh "ông thần" năm chục triệu, cho thằng Tửng mười triệu, còn lại bao nhiêu anh giữ lâu lâu chơi chút đỉnh cho vui. He he.
Quán cà phê chú Năm mấy hôm rày ăn theo đám trúng đề, bà con tụ tập ồn ào từ sáng tới chiều, nói cười rôm rả quanh đi quẩn lại cũng chỉ cái việc Tư Hên trúng số đề. Thằng Tửng thì nói Tý Chuột mua "ông thần" có một triệu bán được năm chục triệu. Nó chợt có ý nghĩ hay là mình nhảy ra "kinh doanh thần thánh", nghề này dễ ăn chưa ai làm. Nó bàn tính với thằng Tèo và thằng Tý Chuột, ba đứa hùn vốn qua Campuchia, Thái Lan mua tượng thần thánh về bán. Gì chớ thần thánh thì không sợ bị ế, người ta mua bán "một vốn bốn lời", mình mua thần bán thánh một vốn bốn mươi lời, đôi khi còn nhiều hơn thế nữa, vô giá. Ba đứa thích chí cười vang, tưởng như sắp giàu tới nơi... rồi đây ba đứa tha hồ nhậu. Trong quán lúc ấy có anh Tám Tàng đang làm thinh ngồi nghe. Vợ chồng anh kinh doanh đủ thứ ngành nghề, rất giỏi trong việc đi đầu đón gió, luôn chạy theo phong trào. Thời buổi này là thời buổi chụp giựt, hễ làm gì "có ăn" là phải nhanh tay lẹ chân đi trước thiên hạ. Chậm lụt quá sao nắm được thời cơ. Anh về nhà bàn tính với vợ, vợ anh nghe qua là chịu liền, vợ chồng hạp chỗ đó, hễ làm gì có tiền vô là không bỏ lỡ cơ hội. Chị nôn nóng nói anh bao xe đi liền, qua Campuchia, Thái Lan "hốt" tượng thần thánh về bán.
Tưởng mặt hàng nào quý hiếm, chớ thần thánh thì nơi đâu cũng có, đầy dẫy, tràn ngập ... đủ loại đủ kiểu. Trong vòng ba ngày vợ chồng anh Tám Tàng gom đủ tượng các loại chất đầy một xe tải nhỏ. Về đến nhà là anh lẹ lẹ tìm người kẻ bảng hiệu. "Tám Tàng chuyên mua bán tượng thánh thần đủ loại". Nhưng cái anh chàng họa sĩ này viết kiểu cọ, chữ tượng anh viết màu khác lại hơi nhỏ nằm nghiêng gát lên chữ thánh thần. Ai đi ngang nhìn phớt qua bảng hiệu cứ đọc là "Tám Tàng chuyên mua bán thánh thần đủ loại". Nhưng có lẽ nhờ vậy mà gây được sự chú ý của bà con. Mấy ngày đầu khai trương, thiên hạ kéo đến nườm nượp thấy ham. Nhưng người xem thì đông mà người mua thì ít, thậm chí chẳng có ai. Nhiều người thấy tượng lạ mà đẹp, muốn mua về nhà chưng chơi, nhưng khi hỏi giá thì họ bỏ trở lại. Thánh thần chớ phải đồ chơi đâu mà rẻ.
Nhiều người tò mò hỏi vậy chớ ông thần này là thần gì?. Anh nhanh nhẹn trả lời, thần giữ của, đôi khi nói nhầm thần giữ bổn mạng cũng chẳng sao. Thần giống thần. Có người lại hỏi "thánh nữ" kia tên gì. Chị nhanh nhẩu, "thánh nữ ái tình" đó cô, mua về thánh nữ sẽ phù hộ cho cuộc đời luôn tràn đầy tình ái. Nói vậy mà cũng chẳng ai chịu mua. Dân ở đây chưa quen với ông thần bà thánh xứ lạ. Mười người vô tiệm thì hết chín người hỏi mua "ông Địa" với lại ông "Thần Tài".
Qua tuần lễ thứ nhì, tình trạng buôn bán cũng chẳng khá hơn. Là người có nhiều kinh nghiệm trên thương trường, anh Tám Tàng thấy cái điệu này kéo dài hoài không xong, anh bàn với vợ thôi bán bỏ, lổ bao nhiêu cũng bỏ... dẹp tiệm. Thế là thần thánh mua một tặng một, giảm giá năm mươi phần trăm. Nhiều cô cậu thấy rẻ mua chơi, nhưng họ chỉ lựa những tượng lớn mà đẹp. Vợ chồng anh Tám Tàng bán tháo bán đổ, giá nào cũng bán, coi như mất của hốt lại được bao nhiêu thì hốt. Hai người học được bài học nhớ đời, buôn thần bán thánh đâu phải chuyện đùa.
Tháng 01-2018
Tuesday, December 19, 2017
NGƯỜI ĐẢNG VIÊN GIÀ
Diệu Tần.
Ông về hưu với quân hàm bốn sao một gạch. Đại uý Thoả như thế nghỉ hưu đã lâu. Suốt hai mươi lăm năm trong bộ đội, ông mãn nguyện với "ve áo" đó. Là mẫu người chất phác, trong sạch, ông đã phục vụ trong ngành hậu cần, nhưng bàn tay không bị dính bẩn, ông vẫn tự hào về điều ấy. Bà vợ khen ông là hiền lành tròn trịa, không mất lòng ai. Nhưng có lúc bà chê "Hiền quá hoá đần". Nhà cửa tiện nghi đồ đạc trong nhà vẫn tềnh toàng cổ lổ. Toàn những thứ sắm từ những năm sáu mươi. Ông sống giản dị, nhiều khi quá quê mùa. Ông không bao giờ mặc quần áo may bằng sợi tổng hợp (đa-công, pô-li-ét-tơ). Ăn uống thế nào xong thôi, không uống rượu, không mê một món gì khác.
Bà Thoả là dân gốc Thái Bình, thường bị chê là dân Thái "Lọ". Năm Ất Dậu chết đói đầy đường, do tội của Phát-Xít Nhật gây ra. Theo bố mẹ anh em lây lất kéo nhau lên Hà Nội kiếm ăn, cả nhà chết dần chết mòn, lê lết đến ga Hàng Cỏ thì chỉ còn một mình cái đĩ Tũn, là bà, sống sót. Bà không nhớ và không hiểu tại sao bà còn sống được. Cho đến bây giờ bà không biết quê mình ở cái thôn xã xơ xác nào tận Thái Bình. Đến tên thật của mình, bà cũng không biết, sau năm 54, kiểm tra, bà mới làm khai sinh lại, tự đặt tên là Dậu. Ý muốn kỷ niệm cái đói năm Dậu khủng khiếp. Cái đĩ Tũn dạo đó đi lang thang cầu bơ cầu bất, đi ở cho nhà người ta, chán rồi gồng thuê gánh mướn, lưu lạc mãi lên Thái Nguyên. Ở đó cô Dậu gặp anh bố cu Thoả. Chẳng là Thoả, không có tiền nộp lệ làng, là dân đen bị khinh bỉ, buồn đời bỏ đi theo Việt Minh. Hai người gặp nhau tại chiến khu, thương cảm nhau cùng cảnh nghèo rồi nên vợ nên chồng, chả cần cheo cưới gì. Đến bây giờ các con đều chọc ông bà Thoả "không ai vô sản chuyên chính hơn bố mẹ".
Ông vô sản thật, nhưng đến khi có con lại đặt tên con theo từ Hán Việt nghe kêu lốp bốp. Thứ tự là Lễ, Tín rồi cái Trinh cái Thục. Bà không bằng lòng nhưng nể chồng, phải chịu. Cứ như bà thì nên đặt cho có tính quần chúng hơn như No, Ấm, Hiền, Lành v.v... Bà bị cái đói năm đó hành hạ, nên luôn luôn muốn được no và mong các con không bị đói.
Cả đời bà vất vả ngược xuôi. Thời kỳ ấy, không nhà không cửa, bà gánh hai cái thúng, một thúng chăn, áo và cu Lễ, thúng đầu kia là gạo, khoai, theo chồng khắp mọi mặt trận kháng chiến. Đến lúc này bà vẫn không thuộc mặt chữ và mặt số. Chỉ phân biệt đồng bạc này với đồng bạc kia bằng màu sắc, khổ giấy mà thôi. Dạo còn con gái không được đi học, khi muốn học lại bận nuôi con, nuôi chồng. Khi về già bà bảo: "Thôi tôi già rồi, học làm gì cho mệt. Các anh các chị nhớn cả rồi, chữ nghĩa giỏi giang, đọc cho tôi nghe là đủ rồi". Chữ nghĩa bà không thông, nhưng bà tính toán, thu va thu vén nhanh như cắt.
Thục hai mươi bảy, chưa chịu xây dựng với ai, cứ cười bà "Chắc con thừa kế được cái giỏi tính của mẹ". Thục đã tốt nghiệp trung học kế toán và đang làm việc trong một xí nghiệp. Lễ, Trí đã có vợ. Trinh cũng đã lấy chồng. Tất cả đã là đảng viên, trừ vợ Trí chưa vào và Thục không muốn vào. Năm đảng viên hợp với ông bố già nữa là sáu, ông "cựu trào" nhất với 38 tuổi đảng, có thể lập một chi bộ đảng ngay trong nhà với ông là ủy viên thường vụ.
Khi mới về hưu, ông sắm lưới sắm te, tong tẩy đi đánh cá. Đó là một trong những nghề cũ hồi ông còn là dân đinh hèn mạt. Vừa tìm vui vừa có cá tươi cải thiện bữa ăn cho cả nhà. Mấy năm nay, cựu đại uý nhà ta bị một bịnh quái ác là liệt nửa người, hậu quả của đời chết sống cực khổ trong bộ đội. Là người năng động, phải nằm một chỗ, ông đau đớn lắm. Ông đang hy vọng hai năm nữa, vào dịp được nhận huy hiệu 40 năm tuổi đảng, sẽ tổ chức một tiệc trà với kẹo ăn mừng. Ông đã tự nhủ dốc lòng theo đảng đến hơi thở cuối cùng. Ngã bệnh, không những không đi đánh cá được, còn phải phiền đến vợ con, ông khổ sở lắm. Thuốc thang, thầy thợ tiêu pha về ông khiến nền kinh tế trong nhà suy sụp đến phát hoảng. Đồ đạc trong nhà, đội nón theo nhau khỏi nhà mau quá. Lương hưu của ông không đủ để ông ăn bữa sáng. Đấy là hai bìa đậu phụ nóng, bác sĩ dặn phải cho ông ăn để không tăng áp huyết, tránh tai biến đột xuất cho người bệnh.
Ngày xưa, trong đơn vị, tuy không là chính trị viên, nhưng ông rất sốt sắng công tác đảng. Về hưu, rất chăm lo đóng đảng phí đúng kỳ hạn, rất mong đến kỳ sinh hoạt chi bộ đảng. Ông buồn vì phải nằm bẹp một chỗ. Nhưng lòng tin vào đảng không suy suyển mà còn tăng thêm. Niềm vui duy nhất của ông chỉ còn có bấy nhiêu thôi. Cũng như mấy bà già tin vào vía cô vía bà lên đồng lên bóng ấy mà. Trên đầu chõng ông nằm treo ảnh cụ Hồ để ông luôn được chiêm ngưỡng bác. Đấy là niềm tin, là tượng trưng cho đảng.
Dạo chưa bị bán thân bất toại, vào kỳ sinh hoạt thì mưa gió giá rét cách mấy, ông cũng đi cho kỳ được. Nằm một chỗ rồi, ông tha thiết nói với con, với dâu rể tình nguyện đề nghị chi bộ xóm chuyển địa điểm họp đến nhà, để ông được họp. Những hôm ấy, ông vui hớn hở từ sáng sớm, giục phải lau sạch bàn ghế, đun đầy mấy phích nước sôi, mua chè, thuốc lá bằng tiền hưu của ông, để sẵn đãi các bạn có đảng tịch trong xóm.
Có nhẽ nhà ông Thoả thuộc loại nghèo nhất xóm. Những nhà khác chỉ có vài người trong biên chế, còn lại họ chia người để chạy ngoài. Hàng xóm bên trái là nhà chuyên buôn bán đường dài. Buôn đủ mặt hàng thuộc diện quản lý của nhà nước. Khi thì cà phê Phú Thọ, Buôn Mê Thuột, tháng thì chè Bờ-Lao hay Thái Nguyên. Có dạo họ kiếm đâu ra rất nhiều những hộp dầu ăn thực vật từ thời Mỹ để lại. Chả thấy tay công an kinh tế nào thò mặt ra bắt bớ cả. Láng giềng chếch bên phải chuyên buôn thuốc Tây. Cả nhà, nhớn bé chỉ phe phẩy món hàng đắt tiền ấy thôi. Họ làu tên thuốc hơn cả Lễ, Trí là hai cán bộ y tế con trai ông. Hỏi mua món thuốc gì cũng có. Những người này vào Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Mình, Đà Lạt, ngược Bắc Thái, ra Hải Phòng xoành xoạch.
Sâu mãi trong xóm phải kể gia đình làm chủ đề, là kẻ mạnh thế nhất. Mỗi tuần xổ đề đông nườm nượp. Lại có hai nhà chứa bạc gần như công khai. Họ không thèm đánh những loại bài lâu ăn thua, chỉ chơi toàn bài Tây và xóc dĩa, đặt bằng nhẫn và vàng lá. Chủ "đề" nghe đồn là anh em kết nghĩa với bí thư quận. Có ai báo công an quận thì con bạc đã biết trước, thản nhiên ngồi uống cà phê, tán chuyện trên trời dưới biển, như không có gì xảy ra. Còn chú công an khu vực thì bị "mua" từ lâu rồi. Sinh hoạt của những nhà này, vì họ có tiền, nên ầm ĩ, sặc sỡ, vênh váo lắm. Nhà ông Thoả kẹt vào giữa, cùng một lúc được nghe đủ các loại nhạc loạn xị từ các loại máy khác nhau, phát ra không kể giờ giấc, bất chấp sự cần yên tĩnh của xóm giềng. Có ai phản ứng gì, mấy thanh niên đó nhăn răng ra cười: "Ấy nhạc Cu-Ba anh em, nhạc Xì-Pa-Nít chứ có phải nhạc đế quốc Mỹ đâu. Khi họ mở nhạc giựt gân thì họ giải thích: "Nhạc Châu Phi, nước Ăng-Gô-La và Li-Bi-A anh em đây, không phải nhạc mất gốc, đồi trụy đâu.
Ghét họ, bực họ, nhưng ngoài chuyện mở nhạc ầm ĩ, họ cũng chẳng trực tiếp làm hại đến ai. Ngược lại, đôi khi họ còn giúp đỡ cho láng giềng nữa. Như trường hợp có lần bệnh ông Thoả bị trở chứng, hai con là y tá, có khả năng cấp cứu bố nhưng không thuốc. Nhà phe phẩy thuốc Tây sẵn sàng đưa thuốc mà chả bao giờ hỏi tiền. Cho đến bây giờ bà Thoả quà cáp lại vẫn chưa đủ giá tiền hộp thuốc quý giá ấy.
Trong nhà họ, thôi thì đủ món tiện nghi xa xỉ. Nào là tivi, tủ lạnh, máy cát- xét. Có nhà tậu cả máy vi-đê-ô nữa, chiếu phim chưởng liên tục. Bữa cơm của họ, mua thẳng ở ngoài chợ, chả cần qua cửa hàng nào, thịt cá, rau cỏ tươi rói, ê hề. Con cái họ cả nam lẫn nữ vận quần bò, áo phông theo đúng mốt. Cái đài đối với họ thì quá thường.
Vào dịp đại hội đảng kỳ sáu vừa rồi, Thục phải sang nói khó với nhà sát tường cho ông bố được nghe đài những hôm đảng họp đại hội. Đài đang tường thuật hùng hồn, đến chỗ chủ tịch Võ Chí Công tuyên bố, ông đang cố theo dõi ra chiều thích thú, bỗng vỗ xoạch một cái, một điệu nhạc nhảy ồn ào oà lên, làm ông thất vọng quá. Lúc đó nhìn nét mặt ông thật tội nghiệp. Hai má ông giật giật, ông vừa buồn vừa giận, hai hàng nước mắt chảy dài. Các con tê tái xót xa về cảnh nghèo túng, định cố gắng mua cho ông cái máy thu thanh chạy pin mà vẫn chưa mua nỗi. Cũng chẳng giận gì người ta được, của riêng họ muốn nghe băng tần nào, tuỳ họ chứ. Cũng như đám con gái nhà bên, phấn son, cái mặt như diễn viên đoàn văn công sắp lên sân khấu biểu diễn ca múa. Thế mà, nhiều chị vợ cán bộ rủng rỉnh tí tiền cũng mắt trước mắt sau, bắt chước.
Đại uý già nghỉ hưu, nằm một chỗ, lở cả lưng, đâu có hiểu rõ được thực trạng xã hội. Ông những tưởng cứ hồ hởi phấn khởi như hồi đánh Pháp, đánh Mỹ. Nghe kể những chuyện tiêu cực trong cơ quan, đơn vị, ngoài xã hội, ông bị "sốc" mạnh. Nặng nhất là hôm đài hàng xóm tình cờ mở đúng vào chương trình dân ca chèo. Trong bài chèo ca ngợi đảng có câu: "Đảng cầm tay dẫn ta đi..." Bỗng có tiếng cười hô hố của người bố:
- Ối giời ơi! Kìa, chúng mày đưa tay cho đảng cầm nào!
Lũ con hàng xóm cười ồ lên, chúng nháo nhào:
- Con chả dại!
- Con chả dám! Theo đảng chỉ có nước uống nước lã cầm hơi.
Trinh và Thục bên này thấy ông đỏ mặt, lẩm bẩm "Láo quá! Hỏng hết, hỏng hết". Rồi ông cựa quậy, bắt con dựng ông dậy cho tựa lưng vào gối. Ông thở hỗn hễn như bò thở, đập tay vào chõng, bàn chân còn cử động được dậm dậm xuống chiếu. Nước mắt ông trào ra, nửa miệng méo xệch. Khuôn mặt thật thảm hại. Cô chị tức quá, đập vào tường như muốn bảo bên kia im đi. Thục từ tốn hơn, bảo:
- Thôi chị ơi, hơi đâu mà nói với họ.
- Họ phát biểu xúc phạm đến đảng quá. Họ làm cho bố mình đau đớn.
Thục là đứa con chưa vào đảng, nói như dàn hoà:
- Họ cũng là quần chúng như em, chỉ vô tình nói thế thôi.
Hai chị em phải an ủi dỗ dành bố già mãi. Người bóp tay, người nắm chân và chậm nước mắt cho bố. Trinh và chồng là hai giáo viên. Chỉ có vợ Trí là công nhân. Trừ vợ chồng Lễ đã có tí nhau và vì công tác địa điểm xa, đã ra riêng, còn đều sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp. Thục chưa chịu vào đảng, không muốn sinh hoạt đoàn nhiều, dù đã là đoàn viên. Do đó chả bao giờ được đề bạt là đối tượng cả.
Nhờ Thục phe phẩy tí chút mà thỉnh thoảng nhà có cá tươi ăn. Hay khéo xoay sở đổi được gạo trắng ngon cho bố ăn. Hỏi làm sao kiếm được mấy của quý đó, Thục chỉ cười "thời buổi này, không ngoại giao là hỏng kiểu hết".
Lễ hỏi cô em út:
- Sao cái Thục không phấn đấu thêm để được kết nạp?
- Vào để làm gì? Vào đảng thì được gì thời buổi này, hả anh?
- Vào để...để trở nên một công dân hoàn toàn của chế độ. Đâu phải vào để hưởng thụ.
- Anh là đảng viên, gần như cả nhà này là đảng viên, thử xem lại đã làm được gì, đã được hưởng gì? Anh có thấy các cán bộ cấp cao đã là công dân gương mẫu chưa?
- Thục đừng lý luận tản mạn. Để lúc nào rỗi, anh sẽ bàn thêm với Thục.
Lễ nói thế, nhưng không thấy bàn rộng vấn đề này với em. Có nhẽ Lễ thấy khó mà thuyết phục nổi cô em gái thông minh.
Thục đã nói lên một phần rất ít của thực trạng xã hội. Bốn anh em từ nhỏ đến lớn được học đến đầu đến đũa. Chỉ biết ăn và học. Trưởng thành rồi thì ăn và đi làm, không có cái tháo vát ngược xuôi như mẹ, trừ Thục. Ngày xưa gọi là lương ba cọc ba đồng, bây giờ là công nhân viên nhà nước chấp hành nghiêm chỉnh giờ giấc, hoàn thành mức độ công việc tốt, cứ chờ đến kỳ để được lên lương. Đồng lương lên không thể nào kịp với giá sinh hoạt nhảy vọt. Thứ lương chỉ tiêu năm ngày là hết. Tiền thưởng ở cơ quan và bỗng lộc rất hiếm hoi. Được vài trăm bạc, đã lấy làm vui sướng lắm, phởn phơ lắm. Người không làm công nhân viên nhà nước là bà Thoả lại là trụ cột trong nhà. Tiếng nói của các giáo viên, y tá, công nhân thảy đều không có trọng lượng. Tất thảy là nghiêng về sự quyết định của mẹ già và của cái Thục đanh đá.
Trong nhà ai có đề ra ý kiến mua sắm này nọ, nghe ra đều có lý, nhưng tiền thì không ai đưa ra cả. Thậm chí đơn giản nhất là ước ao được ăn một bữa gọi là có chất tươi ngày chủ nhật như canh riêu cá hay hoang tí nữa như bún chả nhưng không thấy ai xung phong góp tiền. Bà Thoả chỉ bảo: "đưa tiền đây" là không người nào thò ra đồng bạc. Đúng là:
"Dễ trăm lần, không tiền cũng chịu
Khó vạn lần, tiền liệu cũng xong."
Nhại câu nói của cấp lãnh đạo, thay chữ dân bằng chữ tiền.
Ông Thoả có đôi lần cáu gắt với vợ. Chung qui cũng do đồng tiền eo hẹp gây ra cả. Ông bảo:
- Tôi ăn uống không bao nhiêu, chỉ cần nóng sốt và tinh tươm một tí. Thỉnh thoảng cho tôi miếng thịt kho.
Bà trả lời:
- Ông cứ đòi hỏi bồi dưỡng làm gì. Ông thừa biết riêng lo cho ông, tôi đã cực nhọc chừng nào?
- Cơm gạo hẩm tôi nhai không được. Tôi xin nước mắm kha khá một tí.
- Giời ơi! Có đứa nào đưa tiền cho tôi nuôi ông đâu. Chỉ có độc mình tôi lo thôi.
- Trước tôi mạnh khỏe, bà có nhăn nhó thế này đâu.
- Bây giờ ông muốn tôi phục vụ ra sao nữa?
Ông phải lặng im. Bệnh nhân nằm nghỉ một chỗ thường có mặc cảm. Về già hai vợ chồng đâm ra lục đục. Sống cả đời với nhau đẹp thế, yên thế, bây giờ thì...
Ông bị dày vò đang ăn bám, bị người thân, bạn bè, xóm giềng quên lãng, thờ ơ. Ông tự ví mình như cây cung đã gãy. Như một khẩu AK vỡ nòng rỉ vất xó nhà. Ông chưa oán đảng và nhà nước, chỉ giận mình, giận vợ, giận con. Giận chán ông lại thương chính mình, thương họ. Họ có làm gì để ông phải giận đâu. Họ cũng chẳng sung sướng hơn gì ông. Phải lao động "đổ mồ hôi, sôi nước mắt" quần quật tối ngày.
Mới tuần trước, chi ủy khu phố theo chỉ thị trên, ra lệnh chi bộ xóm tổ chức lấy ý kiến quần chúng phê bình đảng viên, chuẩn bị triển khai thực hiện cuộc vận động đổi mới của đồng chí Nguyễn Văn Linh. Xóm đếm được ba mươi hai hộ, chỉ có tám hộ cử người đến dự. Suốt cuộc họp kéo dài hai tiếng đồng hồ, chỉ đúc được bốn ý kiến chung chung. Gọi là ý kiến "không địa chỉ" có ý là ý kiến hay lời phê bình chả biết nhằm vào ai, gửi đến cơ quan nào. Ý kiến ba phải, vô hại, sợ mất lòng, sợ trả thù.
Bà Thoả thoạt đầu không đi, bà cũng là một quần chúng. Ông giục mãi bà mới miễn cưỡng đi. Thục còn dặn với:
- Mẹ đi, nhưng đừng phát biểu gì đấy nhé. Kẻo mang họa vào thân đấy, mẹ ạ.
Bà chán nản:
- Dà à ò ôi, phê với chẳng phán! Chán mớ đời.
- Đấy, bao nhiêu lần rồi, có thấy các ông đảng viên sạch hơn được tí nào đâu.
Bà đi rồi, ông nhì nhèo với con gái:
- Sao con lại nói thế.
- Bố nằm một chỗ, bố không biết đấy thôi. Đảng viên hạng bét như nhà này cứ đói dài. Phải là đảng viên cán bộ cấp lãnh đạo cơ, hay phải ngồi chỗ "bờ sôi ruộng mật" cơ. Phê phán như đấm bùn sang ao thôi.
Ông nghe con gái nói, cô gái quý gần ông nhất, rên hừ hừ. Hai gò má bắt đầu giật giật, dấu hiệu sự xúc động.
- Đừng nói nữa. Hừ...hừ...
- Bố không nghe được câu người ta nói "cán bộ đi trước, tiêu cực theo sau" đâu. Không có chức quyền làm sao tham ô được. Chính vì thế nên con không muốn vào đảng.
- Không còn có pháp chế, kỷ luật gì à?
Đang sẵn Đà, Thục vẫn nói:
- Bố biết không, hiện nay có câu đồng dao:
"Mỗi người làm việc bằng hai, để cho chủ nhiệm mua đài mua xe
Mỗi người làm việc bằng ba, để cho thủ trưởng xây nhà xây sân".
Ông lẩm bẩm:
- Đâu đến nỗi thế.
- Thật đấy bố, cứ như giáo viên nhà này "ăn" cái gì. Chỉ còn nước bán quà vặt cho học sinh thôi. Cán bộ y tế à, tháng trước, anh Tín vào nước biển cho một bệnh nhân, nhỡ đánh vỡ bình phải đền năm trăm đồng đấy.
- Sao không thấy nói...
- Chuyện không xa, ngay giám đốc nhà máy của con này, cách đây hai năm đồ đạc có gì đâu. Nay đến nhà mà xem, ti vi, tủ lạnh, cát xét không thiếu thứ gì. Còn thủ kho chạy xe Honda 70 chứ không thèm lái Honda 50 đâu. Trưởng phòng kế toán trong nhà có cả vì-đê-ô nữa. Tiền đâu mà mua.
- Hừ...hừ... Đó chỉ là cá thể. Nhìn chung vẫn là tốt chứ.
- Dà ào...ơi, bố không biết đấy thôi. Thủ trưởng, giám đốc nào không ăn cánh trên dưới, trước sau gì cũng bị đi học hay bị điều đi chỗ "chó ăn đá gà leo thang" không thôi, bố ạ.
- Đảng bao giờ cũng đúng, ở dưới chấp hành sai đấy.
- Cái đó con không biết. Chỉ biết nói dân làm chủ mà chỉ thấy dân thấp cổ bé miệng kêu ca rồi bỏ đấy. Nhà nước quản lý nhưng quản lý tồi quá mà báo cáo rất hay. Mới đây bản thân ông tổng bí thư đảng tuyên bố là Hội đồng Chính phủ cũng muốn đổi mới người và việc mà không biết đổi mới cách nào. Dột từ trên dột xuống.
Ông bắt đầu hỏi giọng mệt mỏi:
- Liệu ông Linh cỏ làm được gì không?
- Con không biết, hôm nào bố hỏi anh Lễ, anh Tín xem.
- Không biết cuộc vận động có thực chất không.
- Đó là việc đảng của bố và các anh chị, con không muốn biết. Chỉ biết con đang cố "ngoại giao" để đổi gạo trắng cho bố xơi thôi.
Ông im lặng, vẻ suy tư rất sâu. Sau buổi nói chuyện ấy, ông trở nên ít nói hẳn. Ông ăn uống ít đi, chỉ hay ngước lên nhìn ảnh bác Hồ.
Cả nhà hiểu và thương ông. Cứ nghe tiếng rên hừ hừ và tiếng thở dài thườn thượt. Cả một đời ông hoạt động, thành kính một niềm tin, một lý tưởng. Nếu con gái không nói cho biết, ông vẫn như người từ một thế giới khác. Trước thực trạng xã hội xuống dốc, ông Thoả bị hụt hẫng. Mà hụt chân rất nặng. Thân xác ông đã phải nằm xuống vì sự tàn phá của bệnh tật. Tinh thần ông, tư tưởng ông chỉ còn biết bám víu vào đảng vào các lãnh đạo.
Từ đấy, Thục không dám phát ngôn nói lên sự thật bên ngoài nữa. Mọi người bảo nhau giấu diếm sinh hoạt xã hội ngoài cho ông khỏi buồn phiền. Càng ngày ông càng ít ngủ đi. Trong lúc này tình hình kinh tế ngày càng khó khăn. Cả nhà chả ai dám xin nghỉ việc để chạy ngoài. Vì cái "mác" đảng viên và biên chế buộc họ lại. Họ có tiếng mà không cỏ miếng, Thục nói với mẹ cho cô nghỉ việc để phe phẩy ngoài, nhưng bà không chịu. Năm người chỉ góp gạo, họa hoằn lắm mới được ít tiền để bà quản lý dùng chung.
Bà bảo Thục: "Mẹ còn sức tần tảo được, con cứ phấn đấu đến xí nghiệp đi". Từ khi lấy ông đến nay bà tần tảo sớm hôm nuôi các con thay chồng cho đến khi trưởng thành. Nhờ tay bà chèo chống, đã vượt qua nhiều khúc hiểm nghèo. Không hiểu kỳ này gay go nhất bà còn đủ sức không. Bà nuôi đàn gà, con lợn, mớ rau mớ cỏ vất vả sớm hôm. Thục thương bố và quý mẹ. Chưa bao giờ bà kêu ca phàn nàn chế độ cả. Không phải bà yêu gì chế độ. Thời Pháp cai trị, bị cường hào ác bá làm khổ, sau 54 bị cán bộ cấp xã làm khó khăn, thời nào đối với bà thì bà vẫn cứ khổ và cứ phải nai lưng ra làm đầu tắt mặt tối. Bà tự an ủi là cái số phận xui ra như thế. Bà quan niệm cuộc đời rất giản dị, là bao giờ trên đầu trên cổ người dân cũng có bóc lột. Cũng như cả đời bà phải tranh đấu làm sao không bị chết đói.
Một chuyện xảy ra, càng khiến ông, người đảng viên già, bị lung lay niềm tin còn sót lại.
Do nhiều y tá xin nghỉ việc hay tự ý bỏ nhiệm sở để chạy chợ trời, do khó khăn về dược liệu, bệnh viện tuyến quận đã bỏ sự chăm sóc tại nhà cho ông Thoả. Họ viện cớ, một là ông chỉ là cán bộ quân sự đã về hưu, hai là quân hàm ông chỉ là đại uý.
Lúc nhận được tin này, ông giận dữ la mắng:
- Đãi ngộ người bệnh thế ấy à. Tệ quá!
Thục can bố, chưa bao giờ cô thấy bố nóng nảy đến thế.
- Bệnh viện từ xưa cũng chẳng giúp bố là bao.
- Tao gần bốn mươi tuổi đảng - chưa bao giờ ông xưng tao với con cái- chúng nó đãi ngộ thế còn quần chúng thì chúng nó xử tệ đến thế nào? Ít ra cũng còn cái tình cái nghĩa chứ. Tao không cần mấy viên thuốc lá lẩu ấy, nhưng phải nhìn đến tao chứ.
Chưa bao giờ bà thấy ông cáu giận quá thế, bà nhẹ nhàng bảo:
- Thì chi bộ xóm và quận vẫn nhớ đến ông mà. Cẩn thận kẻo mang tiếng công thần đấy.
Ông đập tay xuống chõng.
- Mấy thằng ở quận ở tỉnh còn biết nghĩ đến ai. Thật là cạn tàu ráo máng.
Bắp thịt ở má ông lại giật giật. Hai hàng nước mắt lại chảy dài. Thục thấy ngay là ông bị động chạm đến quyền lợi riêng mới phản ứng dữ dội thế.
Chả biết phải an ủi ông cách nào, bà chỉ yếu ớt khuyên:
- Cáu giận làm gì. Tình hình khó khăn cả nước. Thuốc men là do chợ trời nắm, chứ có phải bộ y tế, bộ ngoại thương nắm đâu.
Biến cố cuối cùng xảy ra do việc mua và ép mua công trái. Hôm nhận lương hưu, Lễ được ủy quyền vẫn ký nhận tại quận bị hụt đi một nghìn đồng trong số hơn bốn nghìn đồng thường lệ. Mọi kỳ thì tuỳ ý mua hay không, nhưng kỳ này họ trừ béng ngay vào sổ lương . Ông Thoả chưa bao giờ mua công trái cả, nói lương ít, bệnh lại hiểm nghèo.
Ông đếm tiền rồi sửng sốt hỏi:
- Đâu mất một nghìn?
Anh con trả lời;
- Họ mời mua công trái đợt này đấy, bố ạ.
- Không mua gì xất, ai bảo mua?
- Thì họ bảo chỉ thị ở trên.
- Nhất định là không mua, phải để tự nguyện chứ.
Lễ nghe bố thở mệt nhọc, nói luôn:
- Thôi để chúng con bù vào chỗ ấy. Bố nằm nghỉ đừng nghĩ gì thêm nữa.
Mặt ông tái mét, lớn tiếng:
- Ít nhất phải dộng viên trước đã chứ. Làm ăn gì lạ thế?
Thục nhẹ nhàng chêm vào:
- Thì cũng là công trái nhà nước, có phải vé số hay số đề đâu.
- Nó ép mua để lấy thành tích báo cáo đây mà. Nó cướp không lương của tao. Nó giật mất cơm trắng, đậu phụ của tao.
Thấy ông găng quá, bà phải can thiệp.
- Tôi sẽ lo đủ cho ông. Thôi đừng nói nữa. Ông là đảng viên phải gương mẫu chứ.
Đến đây thì thấy ông im. Chỉ nghe tiếng thở mạnh, ông thôi đập tay chân xuống chõng. Không thấy ông phản ứng thêm, mọi người tưởng ông đã nguôi ngoai. Thục bước lại gần thấy mắt ông đã trợn ngược, hai vệt nước mắt chảy ngược chếch trên trán. Đầu ông bị hất lên, những sợi tóc bạc trắng xoã trên gối. Một tay còn nắm chặc lấy những tờ giấy bạc rất có ít giá trị. Một chân thõng xuống thành chõng. Khoé miệng, bên chưa bị liệt, thường vẫn thẳng, lúc này đã xuôi cụp xuống như khoé bên kia, khiến cho miệng ông như đang khóc.
Thục nức nở:
- Bố ơi, bố!
Bà Thoả gào to lên.
- Giời đất ơi! Sao thế này.
Thục vùng lên định chạy sang hàng xóm xin thuốc cứu cấp. Lễ hiểu ý em, lắc đầu bảo:
- Còn đi đâu nữa, muộn rồi, Thục.
Sau khi để tay vào mũi ông và vuốt mắt cho ông, Lễ không khóc nổi. Mắt nhoà lệ. Thục nhìn ông bất động, chợt nhìn lên ảnh lãnh tụ, cô thấy hình như miệng lãnh tụ cũng méo xệch như đang khóc.
Lễ và Thục hiểu rằng bố mình không chết vì hụt mất nghìn bạc hưu. Ông chết vì câu nói sau cùng của con gái và bà vợ. Bí mật này cả hai sẽ không bao giờ dám nói cho mẹ biết.
Diệu Tần
-------------
Nguồn: VĂN
Số 77, tháng 11-1988
Thursday, December 7, 2017
ĐỂ LẠI SAU LƯNG
Nguyễn Thị Ngọc Nhung
Đạm lau nước mắt. Hồ quàng vai vợ, vỗ về. Mọi người đã ra về gần hết. Một người khách từ giã về, rán nán lại, nói dăm ba lời cùng Đạm, nước mắt nàng lại tuôn ra theo lời chia buồn. Hồ không muốn vợ xúc động nhiều có hại cho cái thai gần ngày, đứa con đầu tiên sau bảy năm lấy nhau. Chàng nói nhỏ với Đạm.
- Sửa soạn về em.
Hồ dìu Đạm ngồi xuống chiếc ghế nệm gần cửa. Mấy cái băng gỗ mòn nhẵn ngồi gần cả tiếng cho buổi lễ làm Đạm ê cứng cả người. Hồ vào văn phòng người quản trị tính toán giấy tờ. Đạm sờ mặt mình, da mặt cứng ngắt. Đạm có cảm tưởng lớp son phấn loang lổ trên mặt như lớp vôi dày nứt nẻ theo đường nước mắt. Nàng mở ví lục loại tìm cái gương nhỏ soi mặt. Mắt Đạm đỏ như mắt cá với đường chì nâu kẻ mắt còn có phân nửa phía đuôi nhoè nhoẹt. Lớp phấn hồng đánh nhẹ giờ chỉ còn đôi chút gần màn tang. Nước mắt và lớp kem lót làm da mặt Đạm ngột ngạt. Nàng có cảm tưởng như một lớp mụn sẵn sàng ngoi đầu dậy. Đạm lấy khăn giấy lau sạch hai má, đánh lại tí phấn, thoa đường chỉ nâu trên mắt đều ra. Xong xuôi, nàng bỏ mọi thứ vào ví, sực nhớ đến son môi, Đạm lại lấy gương ra. Nàng đang chăm chú tô kẻ môi thì có người ngồi kế bên nặng nề. Đạm liếc nhìn. Chú Hoà mở nút cổ áo thở phào. Nóng quá. Nóng quá.
- Trời thế này chú còn chê. Mấy khi San Francisco có được một ngày nắng mà không có gió, nhất là vào đầu năm.
Chú Hoà nới rộng cà vạt. Tiếng thở nặng nề của chú làm Đạm khó chịu. Chú Hoà người mập đẩy đà. Khi trời nóng, chú có vẻ chậm chạp uể oải, chú thở từng hơi ngắn hỗn hễn như sắp lên cơn suyển. Đạm ghét lại gần chú mỗi khi chú mệt, nhất là từ khi nàng có mang. Cái thai quấy nàng nhừ tử mấy tháng đầu và Đạm đâm ra khó chịu hơn mỗi khi nghe tiếng thở ngắn của chú Hoà. Đôi khi Đạm tưởng như nàng bị hụt hơi theo tiếng thở. Đạm nhích xa về phía đầu ghế nhưng giả vờ như đang kéo cho thẳng nếp áo. Chú Hoà không để ý.
- Cháu có thấy cô bé bồ thằng Công không? Chú chép miệng. Cứ như con mèo ướt vậy.
- Phải cái cô mặc quần jean, tóc rối bù đứng gần cửa không chú?
- Không, cô đứng kế bên kìa. Hình như cô tóc rối cháu nói là chị em chi đó, chú trông hai cô mặt giống nhau lắm.
Đạm cố mới trí nhớ, đông người quá nàng chẳng nhớ được ai ra ai, nhất là đám người ngoại quốc.
- Cháu chỉ nhớ có mỗi cô tóc rối thôi. Cô kia thế nào chú tả cháu xem nào.
- Cô đó tóc dài ngang vai, mặc áo đầm đen. Trông tưởng như người Việt mình vậy.
Đạm ngẫm nghĩ xong lắc đầu.
- Cháu chịu. Nhiều cô Việt Nam mặc đầm đen hôm nay. Thế thì cháu hàng. Cháu chỉ nhớ cô tóc rối vì phần đông ai nấy đều mặc đầm hay áo dài, cô ấy lại mặc jean, tóc quăn rối như da đen, trông khác ngay. Mới đầu cháu tưởng là người Việt, cháu chỉ anh Hồ xem cô bé nào đầu tóc táo bạo. Anh Hồ đoán là người Nhật vì cặp mắt tròn, da trắng.
- Không, chú Hoà nói giọng quả quyết, người Tàu, sinh ở phố Tàu.
- Sao chú biết được?
- Thằng Trí nhà chú có quen với đám đó, cũng qua thằng Công chứ đâu. Chúng nó đấu láo tiếng Mỹ nghe là biết ngay. Dân Việt mình nói thế nào vẫn nghe lơ lớ giọng, trừ mấy đứa bé con, trong khi mấy cô bé đó nói nghe như ...Mỹ đấy.
Đạm cười lời phê bình của chú Hoà. Chú nói tiếp.
- Nó với thằng Công định mua nhẫn cưới rồi đấy. Cháu với chị Cả có biết không?
- Cháu còn chưa biết mặt cô bồ thằng Công thì làm sao biết tin tụi nó định cưới nhau.
Chú Hoà lại chép miệng, hơi thở có phần đều hoà hơn lúc nãy.
- Cả đám trẻ biết tất mình thì cứ như ngỗng trời nghễnh ngãng.
- Cháu ngồi hàng đầu tiếp chuyện với mấy bà cụ có biết gì đâu.
Đạm đảo mắt nhìn quanh chợt dừng lại nơi hàng hoa phúng điếu. Chú Hoà nhìn theo phê bình.
- Xứ này lạ quá. Phúng điếu lại đi hoa đủ màu rực rỡ như đám cưới.
Đạm rưng rưng nước mắt khi nhìn thấy giá đỡ quan tài trống trơn. Chú Hoà thấp giọng.
- Này này, đủ rồi cháu ạ, cẩn thận tránh không làm nhoè lớp phấn vừa đánh lại.
- May là cháu để mẹ cháu ở nhà. Cháu còn dằn không nổi huống gì mẹ cháu thương biết bao nhiêu mà nói. Đạm chậm nước mắt nơi mi, tránh không để rơi xuống má, nói tiếp. Tối qua trời mưa, chú hay không, cháu khóc gần cả đêm. Cứ đi ngang căn phòng trống lại nhìn vào, tưởng như...
Đạm bỏ lửng câu nói nhìn lên. Hồ bước tới.
- Về em, xong rồi.
Đạm chần chờ nhìn Hồ, Hồ nói nhanh.
- Khoảng hai tuần sau họ sẽ cho vào ngăn mình đã lựa.
Đạm đứng dậy chậm chạp. Chú Hoà đỡ một bên.
- Thôi mình về. Thế là xong. Người chết yên thân, khổ người sống thôi.
Chú Hoà vừa lẩm bẩm vừa theo Đạm, Hồ ra cửa. Sân đậu xe chỉ còn rải rác dăm ba chiếc. Trí lái chiếc station wagon đầy nhóc người ngừng trước mặt ba người.
- Con về trước cậu nhé, cậu đi nhờ xe chị Đạm, xe con đầy quá rồi. Anh chị về sau với cậu em.
Chú Hoà xưa tay.
- Chúng mày về đi. Dặn mợ dọn bàn sẵn cậu về ngay.
Xe Trí đi rồi, Đạm, Hồ và chú Hoà thong thả bước ra xe. Trời trong, xanh ngắt không vẫn chút mây. Đạm nghĩ thầm, nếu mình có chết được chôn vào một ngày như thế này cũng thích. Hồ cắt ngang ý nghĩ của Đạm. Em cẩn thận. Đạm nhìn xuống, một cục đá nằm lăn lóc trên đường. Hồ đá vào bên lề. Tiếng lăn cộc lốc vang vang. Trời thật êm khi không có gió. Khí trời ấm áp một cách kỳ lạ sau những ngày lễ cuối năm, mưa dầm cả tuần. Đạm để tay lên bụng như vuốt ve đứa bé. Hồ mở cửa cho vợ. Chú Hoà vào băng sau, miệng không ngớt than phiền.
- Xe gì cửa bé tí, có cái cửa mà cũng bần tiện.
Hồ nhìn Đạm tủm tỉm cười. Đạm bấm tay Hồ. Lần nào lên xe Đạm chú Hoà cũng than phiền là cửa xe nhỏ, ra vào khó khăn. Chú to béo quá so với chiếc Honda nhỏ bé của vợ chồng Đạm. Hồ vòng xe ngang cửa nhà thờ theo con đường dẫn ra cổng lớn, hai bên cỏ xanh mượt, dốc thoai thoải. Chú Hoà lại lên tiếng.
- Chôn những chỗ này khối đứa dẫm lên đầu mình không hay. Dân mình chôn phải có mộ bia cao ráo cho ra hồn, đàng này chúng nó cứ đặt mộ bia dẹp lép sát bên sân cỏ. Chúng nó chẳng biết trọng mồ mã ông cha là gì cả. Nghĩa địa mà nhìn xa cứ tưởng như sân golf. Phải không? Chú Hoà lay vai Đạm. Phải không?
Đạm gật đầu. Chú Hoà có tật nói dai. Chẳng trách Trí tránh đi xe với bố cũng phải. Đạm cười thầm với ý nghĩ của mình. Chú Hoà không ngừng miệng.
- Chú mà chết, nhất định không chôn ở đây. À, gần đây có cái nghĩa địa Tàu, lúc sáng đi ngang chú thấy. Tí nữa đến chỉ chúng mày xem. Y hệt như nghĩa địa xứ mình. Chú bảo thằng Trí, con nhớ nhé, có gì bố không về chết ở quê cha được thì đừng có chôn bố ở cái nghĩa địa tân thời của Mỹ, bố không an nghĩ được đâu, mộ bia còn thấp hơn cả ngọn cỏ. Cứ chôn tạm bố ở nghĩa địa Tàu này là bố tạm hả dạ rồi. Đạm quay nhìn Hồ. Chàng lái xe chăm chú. Đạm biết Hồ tránh không tiếp chuyện chú Hoà để chú bớt nói. Hình như sự im lặng của Đạm và Hồ không làm chú Hoà nản chí.
- Nói đến Tàu chú lại nhớ. Cảnh sát có nghi ngờ gì nữa không?
Đạm lắc đầu, tỏ ý hiểu chú Hoà muốn nói gì.
- Chú nghi là nó bị giết.
Hồ nhìn chú Hoà qua kính chiếu hậu.
- Chuyện qua rồi sao chú cứ nhắc đến mãi.
Hồ có vẻ không bằng lòng với câu nói của chú Hoà. Đạm ngạc nhiên ngơ ngác.
- Chú nói thế là sao? Hẳn hòi là nó tự tử kia mà.
Chú Hoà tránh ánh mắt của Hồ trong kính chiếu hậu, thấp giọng.
- Chú nhìn đám bạn của nó đoán được ngay, khó gì. Phố Tàu có khối băng du đãng tranh chấp nhau. Chúng giết người không gớm tay. Nhiều khi nó bị giết lầm thế thôi. Con nít đời nay ngu lắm, chẳng biết lựa người mà chơi.
- Không phải thế đâu chú ơi. Hồ chêm vào. Chú tưởng tượng hơi nhiều.
- Tưởng tượng gì. Đứa nào dám gan ra cầu Golden Gate mà nhảy xuống? Nội cái gió vù vù cũng đủ ngán rồi nói gì đến lội bộ ra tận giữa cầu mà nhảy. Cảnh sát lo tìm dấu trên xác nó, còn cái gì mà tìm? Rửa nát gần hết...
Đạm rùng mình. Nàng không nhìn được xác vì thai nghén nhưng trí tò mò không bỏ được nàng. Nàng nghe gai ốc nổi lên trên da. Đêm qua Đạm đã mơ thấy cái xác trong trí tưởng tượng của mình. Cái xác tơi tả, quần áo rách bươm, gương mặt chỉ còn ba cái hố lở loét, miệng tét mất môi dưới trơ răng như đang cười. Đạm chợt muốn khóc. Nàng nhìn ra cửa. Cái xác trong giấc mơ vẫn còn biết nhìn Đạm bằng hố mắt buồn phiền, bàn tay còn có xương trắng nắm chặc tay Đạm trong cơn giận dữ. Đạm nói, giọng nói rưng đầy nước mắt.
- Phải biết thế đừng cho nó đi đâu cả.
Chú Hoà ngỡ Đạm đồng ý với mình.
- Chúng nó giết người bí mật làm sao ngăn được.
- Không phải thế. Cháu nghĩ tại cháu nhiều hơn. Cháu nặng lời với nó nhiều quá. Dù sao nó còn trẻ con ham chơi, cháu rầy rà nó thế không phải, có vẻ khắc nghiệt với nó quá.
Hồ đanh mắt lại nhìn Đạm.
- Anh đã bảo không phải lỗi tại em, cớ gì em cứ nhận lỗi về mình chi vậy? Chuyện đã qua rồi. Nó chết rồi. Em đổ lỗi mình có làm nó sống lại không? Em phải lo giữ sức khỏe cho em. Cháu nói câu nầy chú đừng giận, cháu phải lo cho Đạm, buồn phiền có hại cho Đạm, chú đừng nhắc đến nó nữa.
Chú Hoà có vẻ hậm hực. Đạm khóc lặng lẽ. Nàng cảm thấy mình là người có tội. Mỗi lần đám bạn của Công nhìn nàng, nàng có cảm tưởng như chúng đang chê bai nàng. Thế nào Công lại chẳng kể cho tụi nó nghe về nàng. Tao có bà chị khó chịu. Có lần Công nói thế trên điện thoại vô tình Đạm nghe được. Đạm nghĩ đến lời đồn thiên hạ về mình. Tại chị nó mà nó chết. Bà ấy khó chịu khắc khe với nó lắm... Càng nghĩ, nước mắt Đạm lại tuôn ra nhiều hơn. Mình đâu có ý cấm đoán nó gì đâu. Chị em có hai đứa, không thương nhau thì thương ai bây giờ. Phải cái nó xài tiền không suy nghĩ thì phải ngăn ngừa nó chứ. Đạm tưởng như mình đang đứng trước một hội đồng buộc tội, hàng ngàn ngón tay xỉa xói mặt mình. Đêm đó nàng đã giận dữ bảo Công đừng về nhà xin tiền nữa, đừng về nhà chỉ để ăn cắp đồ đem bán, đừng về nhà làm phiền nàng nữa. Đạm biết em nàng có tự ái lớn, mới mười chín tuổi có khôn hơn ai đâu. Có lẽ nàng nói quá nặng, đã lỡ lời bảo Công đi đâu cho khuất mắt. Giờ Công đi khuất thật, nàng lại hối tiếc. Công không thèm để lại lời nào biện minh cho hành động của mình. Tại sao? Đạm không biết, nàng có cảm tưởng Công muốn hành hạ lại mình cho bỏ ghét, nên không để lại một chữ một lời. Nàng nhớ lại lần cuối cùng gặp Công. Ôi nó vui vẻ biết bao, còn đùa nàng rằng thế nào nó cũng có cháu trai. Biết đâu đó là dấu hiệu rằng nó đã quyết định. Ô, Đạm không biết. Nàng cứ đoán, cứ ngẫm nghĩ, cứ trách mình rồi lại khóc. Có khi Đạm nghĩ thế mà khỏe nợ. Nhưng rồi hối hận cho ý nghĩ tồi tệ của mình. Đạm buộc tội mình nặng nề hơn nữa. Chưa bao giờ nàng lại nghĩ rằng Công chết bởi tay người khác. Như ra khỏi cơn mê, Đạm sực nhớ lời chú Hoà. Nàng lau nước mắt, hỉ mủi vào chiếc khăn giấy Kleenex xong nhét nó vào gạt tàn thuốc trên xe. Hồ nhìn theo.
- Em đừng nhét vào đó nữa. Nó đầy lắm rồi. Cứ bỏ đại trên sàn xe anh tính sau.
Đạm lôi dúm khăn ra, ngần ngừ giây lát rồi bỏ trên nệm ghế của mình. Chú Hoà lại chắc lưỡi định nói thêm câu gì, bắt gặp ánh mắt của Hồ qua kính chiếu hậu, chú lắc đầu im ngay. Đạm nghe tiếng thở của chú Hoà ngắn và nặng nề như sát bên tai nàng. Bỗng chú Hoà nhấp nhổm nhìn lui.
- Cái nghĩa địa Tàu đâu đây mà sao nãy giờ đi mãi không thấy nó đâu cả. Chú đổi giọng mừng rỡ. Kia rồi. Nhìn mà xem, chúng mày thấy nó có giống nghĩa địa Việt Nam không? Hừm, mùi hương thơm phức đây này.
Đạm và Hồ cũng nhìn theo hướng chú Hoà chỉ. Cái nghĩa địa nhỏ tí so với cái nghĩa địa cỏ xanh um ba người vừa rời khỏi, chung quanh lại là vách tường cao bao phủ, trước cửa là một cổng sắt đen lớn. Đạm chỉ thấy thấp thoáng qua những song sắt cửa. Nàng tưởng như mình vừa thấy lại Việt Nam trong chớp mắt. Và nhất là mùi hương, y hệt như lễ Thanh Minh đi tảo mộ.
- Chú nói phải đấy. Chôn tạm ở đây cũng đỡ được phần nào nhớ nhà.
Chú Hoà có vẻ hả dạ với khám phá mới của mình, Khệnh khạng lôi bút mực trong túi áo ra.
- Đường này là đường gì nhỉ? Nghĩa địa tên gì cháu có nhớ không? Chú phải ghi ngay kẻo lại quên. Cái này tối cần. Chị Cả biết là rối lên đi xem ngay đấy.
Hồ nhíu mày.
- Đường này là El Camino Real, còn cái nghĩa địa thì cháu chịu. Hình như họ để chữ Tàu trên cổng.
Đạm gật đầu.
- Đúng rồi anh, trên cổng toàn là chữ Tàu không. Chú lo gì, cứ ghi là nó khoảng block 17000 là mò ra ngay.
- Con bé này thế mà khôn. Chú chẳng nghĩ ra điều đó, cứ muốn ghi tên của nó. Chữ Nho lâu ngày không dùng đến cũng quên mất cả.
Từ đoạn đường đó về, chú Hoà đắm chìm trong suy nghĩ chi đó nên im lặng không nói thêm lời nào. Đạm và Hồ lấy làm lạ nhưng không muốn khơi chuyện, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Hồ chợt đưa tay vỗ nhẹ tay Đạm. Nàng nhìn Hồ mĩm cười. Hồ nhìn nàng cười lại xong quay đi nhìn thẳng ra phía trước. Đạm không hề biết là Hồ đang nghĩ đến Công. Chàng nghĩ đến Công như một của nợ vừa dứt. Tuy ý nghĩ có hơi trắng trợn nhưng Hồ không sao xua đuổi nó ra khỏi đầu mình được. Chàng hoàn toàn không chút cảm tình với Công, nếu không muốn nói là ghét bỏ nhưng chàng khôn khéo che dấu Đạm. Hồ không muốn tiếp tục nuôi một đứa em chỉ biết ăn chơi xài tiền phung phí. Công là một thất bại trên mọi phương diện. Đôi khi Hồ có thương hại Công nhưng chàng không muốn phí thì giờ chỉnh đốn Công. Theo chàng, Công đã là một căn bệnh không thuốc chữa. Học hành thì khoá nào Công cũng đóng tiền rồi giữa khoá lại bỏ gần hết, GPA không lên nổi trên 2. Đã mấy lần trường gửi thư cho Công cơ hội chỉnh đốn việc học nhưng rồi đâu lại vào đấy. Bạn bè thì Hồ không đếm được bao nhiêu mà nói trừ bạn gái ra. Công xấu trai, rất xấu trai, mặc dù Công có được dáng cao lớn nhưng Hồ để ý thấy không có cô nào muốn chơi với Công. Lúc này Hồ lại thấy Công quen toàn là những cô Tàu, Đại Hàn hay Phi Luật Tân, nhưng cũng chẳng kéo dài bao lâu. Hồ biết Công mặc cảm về điều đó nhưng chàng không muốn dính dáng đến, dù chỉ là một lời khuyên hay trấn an. Dĩ nhiên chàng không trách thói quen xài tiền phí của Công được. Gia đình Đạm giàu có tiếng ở Sài Gòn. Của hồi môn của Đạm gồm nhiều thứ nữ trang mà chính Hồ còn ngạc nhiên khi nhìn thấy. Công là con út nên sự cưng chiều của mợ Công dần dà biến thành loại vì trùng nghiệt ngã khoét sâu vào con người Công. Đã nhiều lần Công dọn ra khỏi nhà, lấy cớ mình lớn cần tự lập nhưng chỉ được vài tháng lại dọn về. Cũng có khi Công tỏ vẻ hăng hái muốn tìm việc làm để không phải mang tiếng là ăn bám, nhưng cũng chỉ kéo dài được dăm ba tuần thì bị đuổi, phần lớn là vì lỗi của Công. Hồ cũng chẳng buồn để ý đến Công với những chuyện gấu ó. Chàng không muốn mang tiếng dính dáng vào chuyện gia đình vợ, hơn nữa, Hồ tự cho mình không có trách nhiệm hay bổn phận gì với Công, một thanh niên gần hai mươi tuổi. Đôi lần Hồ có ý trách móc Đạm để phòng Công trống không ích lợi. Công dọn đi dọn về trăm lần, trong khi đứa bé sắp ra đời rồi sẽ lớn, cần một phòng riêng. Mỗi lần hai vợ chồng tranh chấp về phòng Công là mỗi lần Đạm buộc tội Hồ không thương Đạm. Hồ chẳng hiểu Đạm dựa vào đâu để kết luận một cách ngộ nghĩnh buồn cười như vậy. Chàng chỉ muốn Công dọn ra hẳn hoặc có thái độ dứt khoát để Hồ còn toàn tính cho con mình. Những lúc Đạm rầy rà Công, Hồ tưởng Đạm nghĩ như mình nhưng chàng đã lầm. Đạm rầy rà Công trước mặt nhưng lại mãnh liệt bênh vực em sau lưng. Lắm lần Hồ cười Đạm rằng Đạm tối mắt trong tình cảm, cho dù Đạm biết rõ hơn ai hết sự hư hỏng của Công, nàng vẫn sẵn sàng che dấu mọi thứ với tất cả mọi người kể cả Hồ là chồng Đạm. Sau đó, Hồ lại hối hận đã nói thẳng tim đen của vợ mình. Dù sao, Đạm chỉ có mỗi Công là em, giữa hai chị em lại là khoảng thời gian khá dài, mười năm, Đạm nửa như chị, nửa như người mẹ thứ hai của Công. Và cứ thế, Đạm cũng chìm Công không khác gì mợ của Đạm. Hồ cũng tự đắc nhờ mình mà Đạm có mở mắt đôi chút để bớt nuông chìu em, đẩy Công ra để Công rán tự lập. Hồ cho rằng công của mình trong việc uốn nắn Công đã bị mọi người bỏ quên, không có chàng chắc chắn Công còn xuống dốc thể thảm hơn nữa, nhất là từ khi cả nhà đặt chân lên xứ này.
Hồ ngừng xe nơi ngã tư, đèn đỏ sáng rực. Hai cô gái vừa đi vừa nhún nhẩy theo điệu nhạc vẳng ra từ chiếc radio cầm tay. Hồ nhìn theo hai gương mặt con nít đầy son phấn, quần áo màu sắc sặc sỡ. Con mình không thể nào giống như vậy được, Hồ nghĩ thầm. Chàng chép miệng nói với Đạm.
- Em thấy hai cô nhỏ đó em có sợ không?
Đạm lắc đầu.
- Có gì mà sợ? Hai con bé con diện có phần quá đáng đôi chút chắc là mới tập tễnh dùng son phấn mới loè loẹt thế kia.
- Thế mà em không nghĩ ra sao? Ăn mặc thế kia, đi nhún nhảy như thế, miệng chưa ráo sữa mà đã bày đặt này nọ, chỉ tổ làm cha mẹ thêm đau tim mà thôi.
Đạm có vẻ thờ ơ.
- Ăn nhằm gì mình. Con thiên hạ thì thiên hạ lo, có phải con mình đâu mà anh lo quàng.
Chú Hoà ngồi phía sau vọt miệng.
- Con nít xứ này chú trông ghê quá. Mới mười ba, mười bốn mà đứng muốn cao hơn mình cả đầu, xe cộ lái như đi ăn cướp, đầu tóc nhìn cứ tưởng như chưa bao giờ nghe đến cái gương cái lược là gì. Chú cũng chẳng hiểu sao bố mẹ chúng lại chịu được. Con chú mà thế là chú từ nó ngay. Làm nhơ danh cha mẹ.
Đạm nhìn Hồ như có ý trách sao lại khơi chuyện cho chú nói.
- Dân xứ này hết trọng đàn bà lại đến trẻ con đến chó mèo. Chú thấy ngứa mắt thêm thôi. Người nào có địa vị người nấy, chó mèo chỉ là súc vật, trẻ con chỉ là con nít con nôi, chúng biết gì mà đòi này đòi nọ. Trứng đòi khôn hơn rận sao được. Còn đàn bà thì lo bếp núc, bày đặt đòi bình đẳng bình quyền, mãi rồi sanh loạn chúng mày xem, chú nói không ngoa đâu. Ông bà mình xưa đã dạy thế, thì mình cứ thế mà thi hành. Trong nhà trước sau đâu ra đấy thì xã hội không thể nào trụy lạc được. Con phải biết bố mẹ trên đầu, vợ phải biết nép mình nghe chồng, học trò phải biết kính thầy cô. Xứ gì hở ra là bố mẹ thưa trường, thưa thầy cô, thế thì làm sao lũ trẻ trọng thầy cô lo ăn học được. Con Tâm nhà chú, về nhà cứ than phiền lương thấp với lại lương cao so với mấy tên đàn ông cùng sở. Chủ bảo nó có "dốp" là may lắm rồi, ở đó còn so đo kỳ thị nam nữ. Đừng có bắt chước mấy con Mỹ đòi này đòi nọ, chúng đuổi thì đói cả lũ. Đàn ông con trai thì tháo vát hơn đàn bà con gái, lương cao hơn là phải, kỳ kèo nữa là thế nào.
Chú Hoà chắc lưỡi, lắc đầu. Đạm có cảm tưởng như là chú đang bênh vực cho cả một nam phái sắp hàng sau lưng chú. Nàng nghe ngột ngạt khó chịu với ánh nắng gay gắt xuyên qua kính xe. Đạm quay kính xuống một tí. Gió ùa vào vù vù.
- Gió làm chú khó chịu không? Cháu mở kính xe cho dễ thở một tí.
Chú Hoà lắc đầu.
- Không, không sao cả. Chú cũng muốn ngộp thở. Xứ gì kỳ quá. Đóng kín cửa thì ngộp, mà mở kính thì lại gió lạnh. Chỗ thì sương mù kín mít chẳng thấy đường sá đâu cả, chỗ thì lại nắng chang chang. Cái thành phố này chú trông nó quái đản làm sao ấy. Phong thổ như thế chẳng trách người ngợm cũng không ra gì. Cái đất ở ảnh hưởng con người ghê lắm đấy, chúng mày có nhận thấy thế không?
Đạm và Hồ gật gật đầu không nói. Chú Hoà gần như độc thoại suốt đoạn đường còn lại. Chúng mày không thấy mấy thằng "ghê" đó sao. Chúng nó tụ về đây là phải. Đất đai phong thổ chướng thế này, chúng nó cũng chẳng phải là giống người. Nếu ai cũng như chúng thì diệt chủng còn gì. Bồ bịch gì lại là đàn ông với nhau. Trông chướng không thể tả. Xứ thanh bình quá nên đâm ra loạn là thế. Sống yên ổn quá rồi bày đặt. Xứ chiến tranh như mình làm gì có thì giờ nghĩ vẫn nghĩ vơ, bệnh tâm lý với lại phân tâm học. Đi ngược với thiên nhiên thế chẳng chóng thì chầy, xứ này diệt chủng. Hồ cười thầm khi nghe chú Hoà nói thế. Xứ này có diệt chủng cũng vài trăm năm nữa! Sợ chú Hoà biết mình đang cười, Hồ làm mặt nghiêm nhìn thẳng lái xe. Chú Hoà tiếp tục thao thao. Đạm thở dài mệt mỏi. Chú Hoà nói nhiều câu Đạm không đồng ý và nàng muốn cãi lại. Đó là cái tính xấu của Đạm, mỗi khi ai nói câu nào không vừa ý với quan niệm của Đạm là nàng nhất định cãi lại cho bằng được. Từ lúc có mang đến giờ, nàng cố tập cho mình bớt cái tính đó. Nàng muốn đứa bé con sinh ra tính tình đằm thắm dịu dàng. Đạm che dấu không muốn Hồ biết rằng nàng muốn con gái hơn là con trai. Con trai, nàng chỉ sợ nó giống Công, dù sao, máu huyết của nàng, làm sao tránh khỏi? Hồ cười nàng lo nghĩ viễn vông nhưng Hồ nào biết rằng Đạm không thể tránh được ý nghĩ buộc tội mình, buộc tội Công. Công đã mất rồi nhưng lời nói đùa vẫn ám ảnh Đạm, nặng nề hơn bao giờ hết. Thế nào chị cũng có con trai, mà con trai thì phải giống em mới được, đừng giống anh Hồ, cứng đơ lạnh lùng như khúc gỗ, nó phải giống em, nhiều tình cảm. Đạm không muốn con mình giống Công. Công là món nợ Đạm vừa thoát khỏi, một thứ nợ buồn phiền chua chát hơn là quấy rầy phá rối
Đạm sực nghe chú Hoà nhắc đến tên Công, nàng lắng nghe.
- Cái thằng cũng kỳ. Chú nói gì nó cũng cãi lý cho bằng được, giống con Đạm như hình với bóng. Nó bảo chú cổ hủ như cái bình tích. Cái thằng, ăn nói ngang không? Nó bênh mấy thằng "ghê" bạn nó đó mà. Nó kêu đấy chỉ là bệnh thôi. Bệnh gì? Bệnh thì có thuốc chữa. Nó lại cãi ong óng rằng bệnh tâm lý, phải chữa bằng tâm lý, thế này thế kia, xứ tự do, ai muốn sống sao thì sống. Đời sống cá nhân khác đời sống xã hội. Úi giời, thằng Công dùng toàn chữ kêu như sáo ấy. Con Đạm cũng thế.
Đạm bực dọc, bỗng dưng chú Hoà lại bảo là Công giống nàng.
- Công nó giống cháu là thế nào? Chị em giống nhau là chuyện thường tình, nhưng đâu có nghĩa là cứ anh chị em thì phải giống nhau. Cháu thấy nhiều anh chị em tính tình một trời một vực.
- Đấy, đấy. Chú Hoà cười sằng sặc, chú có nói ngoa đâu. Chị em chúng mày ưa cãi lý lắm, giống chị Cả. Cái này là từ chị Cả mà ra. Gì cũng cãi cả, tánh nóng như lửa ấy. Gì không hài lòng là nói ngay. Đuối lý vẫn cố cãi như thường, cãi chầy cãi cối cũng tiếp tục cãi.
Đạm liếc chú Hoà một cái.
- Cháu cãi chú bao giờ. Chú bảo thằng Công giống cháu. Vâng nó giống cháu, giống là giống mặt mày tướng tá chớ còn tính tình thì không. Nó không biết lo, không biết suy nghĩ sâu xa, thích lo cho bạn bè hơn là gia đình thân thuộc.
- Tại nó nhiều tình cảm. Hồ buộc miệng.
Đạm quay qua Hồ, có vẻ gây sự.
- Anh bảo nhiều tình cảm là sao? Nhiều tình cảm thì phải thương gia đình trước chứ nhiều tình cảm để người dưng có lợi à?
Hồ vả lả.
- Anh nói nhiều tình cảm nhưng đặt không đúng chỗ.
- Anh nói thế mới phải. Đạm có vẻ vừa lòng với câu nói chữa của Hồ. Nó ngu nên chỉ biết bạn bè. Bây giờ nó chết rồi, đem theo được đứa bạn nào nói em nghe thử. Nhiều lắm là dăm bữa rồi tụi bạn nó cũng quên. Ai ngồi đó thương tiếc nó suốt đời? Cái thằng nhiều tình cảm mà ngu. Nói gì nó cũng chẳng hiểu được mình. Nói gì nó cũng bảo là mình khó chịu, bảo thủ. Nói gì nó cũng bảo nó là em chứ không phải là con mà mình muốn đặt đâu nó phải ngoan ngoãn ngồi đó. Mình lo cho nó mà cứ bảo là mình xen vào đời tư nó.
Mắt Đạm long lanh ướt. Giọng nói bắt đầu muốn nghẹn.
- Mình nghĩ tốt cho nó, phải biết chuyện của nó mới phụ nó giải quyết được, nó lại bảo mình nhiều chuyện, đời nó để nó lo. Còn lên giọng giải thích, nó là nó, mình là mình, độc lập. Không ai có quyền ảnh hưởng ai. Bảo nó lo đi học thì nó lại gân cổ rằng đi học như chị xong ra trường đi làm, chỉ có thế thôi, cuộc đời gì mà chán nản, phí phạm. Hỏi nó muốn làm gì với đời nó thì nó bảo sống.
Sống như thế nào mới được chứ? Đâu phải chỉ nói sống là đủ. Sống bằng gì? Phải thực tế chứ, mợ đâu sống hoài để nuôi nó đi chơi. Cuộc đời đâu đo bằng bạn bè hay bồ bịch. Cái thời trung học ngu dại đã qua rồi, nó phải biết thế, phải nhận thức thế. Cái thằng cứng đầu. Nói êm dịu nó chẳng thèm nghe. Làm dữ thì nó giận hờn bỏ đi. Dù gì đi nữa, nó phải hiểu nó là em, có lo cho nó, có để ý đến nó, mình mới rầy la nó. Không hiểu sao nó lại dại đến thế, đi tự tử làm gì? Khối người muốn sống lại không được sống, trong khi nó có mọi thứ quanh mình.
Chú Hoà không dằn được, lỡ lời.
- Đã bảo nó điên gì đi tự tử, phải có người khác nhúng tay vào. Biết mình nói hớ, sẵn trớn, chú Hoà nói luôn cho hết ý nghĩ của mình rồi ra sao tính sau. Người ta ai chẳng ham sống huống chi nó còn trẻ, còn ham sống thì không có cớ gì để nó tự tử cả. Có ai hờn anh chị mình chuyện la rầy nhỏ nhặt đi tự tử bao giờ. Thử tưởng tượng ra nó đứng đấy, gió lạnh vù vù, chưa kể đi bộ bao xa mới ra đến giữa cầu? Không ai thấy nó đi sao? Vô lý lắm. Nó phải đậu xe gần cầu rồi đi bộ dọc theo cầu. Trong khoảng thời gian đi như thế, thánh cũng phải nguôi cơn giận. Chưa kể nhìn xuống nước biển xa tít mù, gió ào ạt, thằng Công làm gì đủ gan để ra đó nhảy xuống.
Đạm nhăn mặt, cố tránh cơn nôn ngấp nghé tới cổ họng. Mặt Đạm dần dần xanh mét theo cái xác rửa nát tưởng tượng trong trí qua từng lời nói của chú Hoà. Đạm nhắm mắt, như chợt thấy rõ ràng dáng Công đi lửng thửng trên cầu. Đạm lại mở mắt, chung quanh nàng mờ ảo như sương mù lấp đầy trong xe, nàng nghe ngộp thở. Dáng Công nghiêng nghiêng trèo qua lan can cầu, đứng cheo leo. Đạm thở mạnh dồn dập, nàng choáng váng như vừa uống một ly rượu mạnh. Hình ảnh Công nơi cầu không thay đổi. Đạm muốn đưa tay giữ em mình lại. Quá trễ, Công đã nhảy xuống, gió vù đưa xéo vào chân cầu xi măng. Trong khoảnh khắc, Công lại trôi lên, mặt mày rửa nát, chỉ còn mấy hố sâu, hàm răng nhe mất môi trên như đang cười, quần áo te tua rách bươm. Cá rỉa, cá rỉa. Đạm nhắm mắt, buông mình theo tay níu của Công.
Chú Hoà rướn người lắc vai Đạm. Tỉnh dậy Đạm, Đạm, sao kỳ thế này. Hồ ơi! Chạy nhanh lên, về nhà đi, không, chở nó vào bệnh viện luôn. Nó bất tỉnh rồi.
Hồ nhấn ga, đưa tay mặt sờ Đạm, tay nàng lạnh ngắt. Mặt Đạm xanh mét. Hồ mở cửa kính xuống cho ít gió lùa vào xong đóng lại. Chàng lái xe thẳng vào bệnh viện trên đồi gần nhà. Mắt Hồ chai cứng với cơn giận. Chú Hoà tránh không nhìn Hồ cho đến mười mấy giờ sau, khi cả hai cùng đứng trước phòng trẻ sơ sinh.
Nhìn đứa bé trai mắt nhắm kín đỏ hỏn, chú Hoà vỗ vỗ vai Hồ.
- Lên chức bố rồi đấy nhé. Chú có người gọi bằng ông rồi. Tóc nhiều thế kia, tướng tốt. Tốt. Tốt.
Hồ chẳng hiểu sao chú Hoà cứ lập đi lập lại chữ tốt. Chàng đang vui sướng với chữ bố nên cảm thấy vị tha. Hồ muốn xá tội cho tất cả mọi người, kể cả chú Hoà, kể cả Công.
Nguyễn Thị Ngọc Nhung
--------
Nguồn: VĂN
Số 28, tháng 10-1984
Subscribe to:
Posts (Atom)