Tuesday, October 27, 2026

 Cao Thủ Tứ Sắc


ThaiNC 



tu-sac-2.jpg

Hình ChatGPT

  

Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây.


Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.


Trải chiếu: Không rõ những nơi khác thế nào, nhưng người Huế thích ngồi chơi dưới đất, vì vậy phải có người… trải chiếu. Ngặt nỗi như một định mệnh nào đó, người trải chiếu hôm đó thường sẽ thua. Ông tôi là chủ nhà nhưng không bao giờ chịu trải chiếu. Để không ai chịu thiệt, tôi luôn được chọn làm nhiệm vụ thiêng liêng này.


Nhưng đó chỉ mới khởi đầu. Một cuộc tứ sắc là một thế chiến với rất nhiều hỷ nộ ái ố mà tôi có nhiệm vụ phân giải. Đơn cử một vài diễn biến thông thường nhất:


Chia bài: Luật tứ sắc ai tới ván trước phải chia bài cho mọi người ván sau. Đây không phải việc dễ dàng với những ôn mệ tuổi già mắt kém. Chia cho bốn người, mỗi người hai mươi cây (nhà cái thì hăm mốt). Chia phải  đúng, ai thừa hay thiếu một cây phải xóa bài chia lại, tốn thêm nhiều thì giờ. Chưa hết, mấy mệ đa số nhỏ người tay ngắn, chia bài phải cực nhọc mới rướng tới người đối diện, lại thêm lớn tuổi bàn tay không vững vàng nên lúc chia thỉnh thoảng vụng về làm rớt bài xuống chiếu là chuyện thường. Nhiêu khê vậy đó thì tiếc chi không chi cho thằng nhóc tui vài đồng là hắn lãnh nhiệm vụ chia bài giùm. Bảo đảm chính xác trăm phần trăm, gọn gàng và mau lẹ. Các ôn mệ mặc tình chơi liền tay, không cần ngưng nghĩ.


Bốn người trong sòng kể cả ông nội tôi, mấy người kia cũng sàng sàng sáu bảy mươi cả rồi, ngồi tý là có người muốn… ra ngoài. Các vị đã già cả, mấy nhà xí ngày xưa ở quê đều ở ngoài vườn sau và khá xa, đi đến, xong việc, và trở lại tốn một thời gian không ít trong khi cuộc chiến đang hồi hấp dẫn, không lẽ ngưng lại ngồi chờ? Mà đâu chỉ một người? Cả bốn người đều lần lượt phải ra ngoài, như vậy thời gian sát phạt thì ít, mà chờ nhau mới nhiều.


No problem. Không sao hết. Các ông bà chú bác không phải chờ đợi gì cả bởi vì đã có nhóc tui thế chỗ chơi giùm cho vài ván. Đúng vậy, sau bao ngày ngồi chầu rìa học hỏi, và nhứt là chắc có thiên phú cờ bạc nên chẳng mấy chốc tôi đã thành một cao thủ tứ sắc không thua kém ai, và rất công bằng với tất cả mọi người. Mỗi lần thế chỗ cho ai là chơi hết mình, không hề có chuyện nhân nhượng hay thiên vị ai, nhất là rất có tinh thần trách nhiệm, chơi đàng hoàng tính từng nước một như đang chơi tiền của mình vậy. Có lần tôi thế chỗ bà kia ngồi tay trên ông nội đánh rát quá làm ông than:“Cha mi. Có phải tiền mi mô mà mi đánh dữ rứa?” Đó, ngay cả ông nội mà tôi cũng không hề nương tay chút nào nũa là!




Ngoài việc thế chỗ chơi giùm vài ván, tôi còn nhiệm vụ khác không kém phần quan trọng, đó là được mấy ông bà tin cậy cho làm trọng tài phân xử:


Như đã nhắc đến ở trên, tứ sắc là môn bài khó chơi vì luật lệ, cao thấp hơn thua nhau rắc rối vô cùng. Cùng là rác lẽ phải đánh ra, nhưng con nặng con nhẹ khác nhau. Con gối đầu, con trong bụng cũng phải tính nặng nhẹ. Đánh ra không đúng luật, để người khác tới, phải đền cho cả làng. Biết vậy, nhưng cao thủ tứ sắc vẫn sẵn sàng chơi phá luật để tranh lợi thế giành phần thắng. Có câu “Không vào hang cọp sao bắt được cọp con” là vậy. Xui xẻo bị cọp vồ thì chịu. Chơi tứ sắc cao thấp là ở đây.


Mấy cụ nhà mình coi vậy chứ bướng lắm. Đánh quân bài không đúng bị người khác tới, đền rõ ràng mà vẫn cứ cãi bướng. Thực ra không phải mấy cụ muốn bướng mà vì lớn tuổi nên mù mờ lẫn lộn. Hơn nữa luật tứ sắc nhiều khi có thể sửa đổi chút ít tùy sòng, nhưng phải giao trước mới được. Mấy cụ hay cãi “Tui chơi chỗ tê như ri không đền”. OK, sòng đằng tê không đền,nhưng sòng ni… thì đền mệ ơi, vì chưa giao. Trong trường hợp này, tôi là trọng tài công bình, thiết diện vô tư như Bao Công. Tôi xử thua là thua, đền là đền, không ai cãi hết.


…


Qua Mỹ, tôi cũng có vài dịp điều binh khiển tướng như ngày xưa, chủ yếu là hầu tiếp mấy vị cao niên tiền bối cho họ vui, không tính ăn thua gì cả, nhưng cũng có một lần làm nhớ hoài.


Bữa đó nhân ngày Tết tôi đến nhà cô bạn gái người Huế mới quen chơi, gặp lúc nhà cô đang có 3 tay tứ sắc đang ngồi chờ người thứ 4 tới đủ bộ ráp sòng, nhưng người đó điện thoại nói xe hư không đi được. Có khổ không. Chỉ ba tay đâu thể lập sòng dù cơn ghiền đang đến? Lớ ngớ thế nào tôi vô tình nói mình cũng biết chơi. Vậy là họ mừng như bắt được vàng, nài nỉ tôi ráp sòng cho đủ số bốn người. Mình đang cua con cháu họ, đâu dám chối từ! Vả lại nàng cũng… gật đầu OK, còn lý do gì từ chối nữa.


Cao thủ tứ sắc một thời vậy mà bữa đó thua te tua!


Mèn ơi, cao thủ tới đâu mà bắt ván nào cũng cỡ chục con rác thì có Độc Cô Cầu Bại của ông Kim Dung cũng… đứt chến, nói gì tôi.


Hmmm…!


Tại sao gọi “đứt chến”?


Mỗi sòng tứ sắc khi mới nhập cuộc, không phải ai muốn ngồi đâu thì ngồi, mà phải bốc thăm, trúng màu nào phải ngồi vị trí màu đó, không được tranh cãi. Nhưng vấn đề là gặp chỗ xui xẻo không lẽ cứ bắt một người phải ngồi một chỗ cố định suốt cuộc chơi hay sao? Bất công. Cho nên mới có danh từ “chến” ra đời.


Chến là bốn người bắt đầu chơi cùng bỏ ra một số tiền như nhau gọi là “đậu chến”. Chơi đến khi một người bị thua hết số tiền bỏ ra đó thì gọi là “đứt chến”. Chến bài kết thúc.


Chến kết thúc nhưng cuộc chơi dĩ nhiên vẫn tiếp diễn, bắt đầu đậu chến mới, bốn người lại bốc thăm chọn chỗ lại. Việc này như đã nói ở trên, để người nào đó bốc thăm nhằm chỗ xui xẻo chến trước có cơ hội đổi chỗ khác. Còn nếu đã bốc thăm lại mà vẫn cứ phải bị ngồi chỗ cũ thì đúng là… ý trời.


Như vậy một buổi họp mặt tứ sắc có thể có nhiều chến tùy theo chơi lâu hay mau, và chỗ ngồi cũng thay đổi liên tục. Đứt một chến chưa chắc đã thua bởi vì có thể gỡ lại những chến sau. 


Bữa đó tôi nhớ đứt liên tiếp hai chến.dù đã đổi chỗ..


Thua cháy túi, nhưng ra về tự an ủi thôi thì đen bạc đỏ tình!


Ai ngờ tình cũng… đứt chến nốt!


Mấy tháng sau không biết vì duyên cớ chi tôi và nàng Huế cũng chia tay. Ta nói khi vận đen đến thì tình tiền gì cũng theo làn gió cuốn bay xa.

 

ThaiNC 


Nguồn: Việt Báo 


 Bà mẹ quê


Tô Văn Cấp


Có nhiều cách gọi về song thân tùy theo địa phương, nhưng ở quê tôi, một vùng thuộc tỉnh Kiến An, Hải Phòng thì con gọi bố mẹ là thầy bu, vì thế tôi xin giữ hai từ ngữ này mở đầu cho bài viết về mẹ tôi, một bà mẹ quê.


Thầy tôi qua đời ngày 15 Tháng Giêng, năm 1947, hưởng dương 41 tuổi! Ông cụ mất đi khoảng sau 2 tháng bị bệnh mà thuở ấy người vùng quê chỉ biết gọi là bệnh “thương hàn”(?). Những ngày thầy tôi lâm trọng bệnh và khi các con tiễn chân ông cụ ra cánh đồng thì nay tôi không còn nhớ gì nữa!


Kỷ niệm duy nhất còn sót lại trong đầu tôi là khi ông cụ tháo vai cày ra khỏi cổ con trâu rồi đưa sợi dây thừng cho tôi dẫn nó đi ăn: Đang nhai cỏ mà khi đến bên bờ hồ trước cửa nhà thờ, nó nhào xuống nước, ngước mũi lên thở phì phò. Còn tôi, một thằng bé chăn trâu mới 6 tuổi, không thể kéo nó lên được nên đành buông dây thừng, đứng trên bờ khóc vì sợ con trâu sẽ chết đuối…


Với bu tôi, một bà mẹ quê thì tôi nhớ nhiều, nhưng chưa một lần có dịp nhắc đến những kỷ niệm này với anh chị em và con cháu. Khi thầy tôi mất, bu tôi mới 43 tuổi với một nách bẩy đứa con, tất cả cùng sống trong căn nhà tranh vách đất ba gian hai trái, một mảnh vườn, dăm ba sào ruộng thuộc làng Cựu Viên, tỉnh Kiến An, thành phố Hải Phòng, chỉ cách hai nơi này chừng hơn 3 cây số.

Một hình ảnh tuy đã hơn 60 năm rồi, tôi vẫn còn như đang thấy trước mắt. Đó là cảnh hoàng hôn, bu tôi đứng ở góc vườn, hướng ra nghĩa trang mà kêu tên thầy tôi trong tiếng nấc, sau khi đã chôn cất thầy tôi.


Bu tôi cả ngày chân lấm tay bùn với ruộng lúa vườn rau. Mỗi buổi chiều về, sau khi thổi cơm cho con, nấu cám cho lợn (heo) xong thì mặt trời đã lặn, giữa lúc tranh tối tranh sáng, bà lẳng lặng ra góc vườn, lúc thì ngồi ngắt đọt khoai lang, khi thì đứng hái lá chè mà thút thít khóc. Các con không hề hay biết.


Đã rình rập từ lâu, rồi một buổi tối, chim đã về tổ, tôi leo lên cây cau ở góc vườn để bắt ổ chim sáo đen khi nghe chim con kêu “chíp chíp.” Và tôi thất kinh, suýt rơi xuống đất vì bất chợt thấy bóng đen đứng khóc góc vườn. Tuy nhiên tôi kịp hoàn hồn ngay khi nhận ra dải khăn tang trắng vấn trên đầu, hai đuôi khăn chạy dọc sống lưng của bu tôi. Vội tụt xuống định chạy vào nhà… nhưng rồi khựng lại, ngồi thụp xuống bên gốc cây cau vì tôi nghe tiếng bu khóc: “Ối ông ơi! Trời đã tối rồi! Ông đi đâu mà sao không về ăn cơm uống nước với các con ông ơi!”


Ở tuổi lên 6, tuổi nghịch ngợm của trẻ nhà quê không biết sợ ma nhưng tôi rùng mình nổi gai ốc khi nghe bu tôi kêu lên như thế. Bà khóc trong nấc nghẹn, cố kềm trong họng không cho ra tiếng vì sợ các con nghe được: Chắc bà muốn cam chịu thương nhớ một mình, không đành lòng chia nỗi buồn với các con.


Anh chị em chúng tôi không ai hay biết: Sau một ngày quần quật với ruộng lúa vồng khoai, ai cũng đã mệt nhoài, đi nghỉ sớm để sáng mai, khi gà vừa gáy và tiếng chuông nhà thờ “bính-boong” lúc 5 giờ sáng là đã phải dậy để chuẩn bị ra đồng.


Riêng mình tôi biết bu tôi khóc, tôi chẳng nói cho ai hay. Nhưng tiếng khóc của bà xoáy vào đầu tuổi thơ khiến tôi cứ đứng sau hè mà nhìn bu tôi rũ xuống như tàu lá chuối héo, nghe bà nấc nghẹn mà ứa nước mắt theo. Nhiều khi tôi thấy bà vịn cành chè rồi sức nặng của khổ đau kéo luôn cành chè gẫy xuống! Rồi một tối, tôi nghe tiếng nói bên kia vườn, cách bụi tre, vẳng sang: “Mẹ Quán sao cứ khóc mãi thế! Hãy để cho Quán nó yên nghỉ.”


Đó là tiếng cụ Dưỡng, chú của thầy tôi. Chắc cụ cũng xót ruột vì tiếng khóc mỗi chiều tối ngoài góc vườn. Bu tôi là cháu dâu rất vâng lời chú chồng, từ đó bu tôi không đứng khóc ngoài góc vườn nữa. Nhưng nỗi sầu chồng chất trên nấm mồ chồng chưa xanh cỏ làm sao vơi, nước mắt bu tôi vẫn âm thầm rơi cùng những tiếng nấc nghẹn trong xó góc bếp giữa đêm khuya.


Mùa Đông tháng giá, tiết trời khá lạnh ở vùng quê, căn nhà lá nhiều khe hở để gió lùa vào, anh em tôi nằm ổ rơm, đắp chiếu, kín đầu thì hở đuôi và ngược lại kín chân thì thò đầu. Cái lạnh đêm khuya lại thêm dạ dày trống đúng với câu “bụng đói cật rét” nên giấc ngủ chúng tôi chập chờn.


Nửa đêm về sáng, gà vừa gáy, thức giấc thấy ánh lửa từ nhà bếp hắt lên, tôi bò dậy mon men tới sưởi ấm thì thấy bu tôi đã ngồi nấu cám heo, một tay cầm que, tay kia nắm mớ rơm đẩy vào tiếp cho lửa cháy. Bóng bà in lên vách bếp, chập chờn theo ánh lửa bập bùng. Thấy con thức dậy bò xuống bếp, bà biết ngay là con đang thiếu cái gì: Vừa trông thấy tôi, bà vội kéo vạt áo lau nước mắt, nói: “Đói hả? Ngồi xuống đây sưởi đi. Bu nướng cho con củ khoai.”


Bếp nhà quê đun bằng rơm rạ, tiếng nổ lép-bép bắn ra những tia lửa tựa pháo bông, kéo theo tro bụi phủ lên người ngồi nấu. Bu tôi đứng dậy khẽ phủi tro trên tấm khăn tang trắng rồi lấy củ khoai lang ở thúng treo sau lưng vùi vào đám tro giữa ba “ông đầu rau”…


Có thể nhiều người không biết “khoai nướng vùi bếp tro” là gì, mùi vị nó ra sao. Ngay như con cháu nội ngoại của bu tôi hiện nay đang sinh sống trên đất Mỹ cũng thể không biết được. Nhưng với tôi, củ khoai lang vùi bếp tro mà bu tôi “ban” cho thì không có gì so sánh bằng.


Người ta thường dùng chữ “ban” để nói về những “hồng ân” mà Thượng Đế, Chúa, Phật ban cho con chiên, Phật tử. Còn bu tôi đã “ban” cho tôi củ khoai nướng vùi bếp tro giữa đêm Đông giá lạnh mà xung quanh bếp chỉ có rơm rạ, tro bụi, bóng tối và tình mẹ con. Bà khều củ khoai trong đám tro ra, vò nắm rơm chà lên vỏ ngoài cho sạch chỗ cháy rồi đưa cho con: “Khoai còn nóng lắm…

Ăn từ từ.”


Đúng rồi, khoai nướng thơm và ngon với trẻ em miền quê, nhưng nếu háu đói mà vội ngoạm ăn, quên cả bóc vỏ thì sẽ bị nóng phải hả miệng ra, ngửa mặt lên mà thổi “phù-phù.” Cũng như ăn vụng mà nuốt vội miếng khoai lang, dễ bị nghẹn.


Bụng đói, cật rét mà hai tay nắm được củ khoai nướng nóng thì thích lắm. Không hiểu sao cái tật tham ăn biến đi đâu mất, tôi cũng chẳng hiểu chữ “hiếu” là gì, nhưng vẫn cứ bẻ củ khoai ra làm hai, đưa bu tôi một nửa mà không nói một lời! Nếu văn hoa chữ tốt thì trong hoàn cảnh ấy, ngàn vạn lời nói cũng bằng thừa, là sáo ngữ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu tôi chỉ vì tôi thấy bu tôi kéo vạt áo lau nước mắt, chỉ vì trong ánh lửa rơm chập chờn giữa đêm khuya, tôi thấy mắt bu tôi đỏ. Tôi đưa nửa củ khoai cho bu vì tôi biết bu tôi cũng đói nhưng nhường miếng ăn cho con, như tất cả các bà mẹ nào khác.


Cầm miếng khoai trong tay, bu tôi nhìn tôi không nói gì… nhưng rồi bà choàng tay qua kéo tôi vào lòng. Tôi biết bu tôi đang thổn thức. Rồi nghe bà khẽ nói: “Con lên nhà đánh thức các anh chị dậy ăn cơm để còn kịp ra đồng.”


Hai chữ “ra đồng” là chỉ việc ngoài đồng ruộng như cuốc đất, nhổ mạ, cấy lúa, làm cỏ, trồng rau, trồng khoai, trồng bắp (ngô), v.v… Những công việc của nhà nông làm ra thực phẩm. Người “thành phố,” nhất là các bạn trẻ ngày nay, không bao giờ có thể hình dung ra được sự thể lam lũ vất vả như thế nào.


Ngày qua ngày, bầy gà một mẹ bẩy con đùm bọc quây quần dưới mái tranh được bao quanh bởi lũy tre, rồi chạy loạn chiến tranh! Khi hồi cư, làng cũ chỉ còn hoang tàn đổ nát, mẹ con lại chạy theo dòng người di tản. Thấy họ đi thì bà mẹ quê cũng dắt con đi, mà không biết đi về đâu và làm gì! Những lúc gian nan khốn khổ như thế, chắc hẳn bu tôi lại kêu tên thầy tôi, mong chồng chỉ lối đưa đường cho lũ vợ góa con côi được bình an.


Cuối cùng, gia đình tôi thành dân di cư trôi dạt vào Nam, về làng Bến Súc, quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương, năm 1954. Người nông dân thường có sức chịu đựng như “cỏ dại,” vất đâu cũng sống được với đất: Mẹ con chúng tôi ra đi, chỉ có hai bàn tay trắng, phải xoay sở ngược xuôi: Anh chị tôi lúc ấy đã trưởng thành nên phiêu bạt về thành phố, gia đình tôi lại di chuyển về 172/41 đường Đỗ Thành Nhân, Khánh Hội, quận Bốn, Sài Gòn.


Bu tôi, một bà mẹ quê “lạc” về thành phố, bỏ lại sau lưng xa tít mù khơi cái mái tranh, lũy tre, ruộng vườn… và mồ mả chồng mà không biết bao giờ được nhìn lại, bu tôi như tàu lá úa và chỉ hồi sinh khi nghe được tiếng bập bẹ “bà bà” của các cháu nội ngoại. Có lẽ đây là giây phút hạnh phúc nhất của bu tôi cũng như các bà mẹ khác: Thương cháu, chăm sóc cháu hơn cả thương con.


Vẫn tưởng được vui hưởng thái bình với cháo rau đạm bạc bên con cháu cho tới lúc bu tôi đầu bạc răng long thì chiến tranh lại tràn về, các con trai con rể của cụ lên đường tòng quân: Thằng cao nguyên, đứa Đông Hà, con trai út ở núi Sơn Trà thì con trai áp út ở mãi tận mũi Cà Mau. Đâu đâu cũng đều vang tiếng súng nổ! “Đại bác đêm đêm vọng về thành phố,” bà mẹ quê vẫn khốn khổ thức giấc ngồi tựa, mắt nhắm, tay cầm tràng hạt, miệng đọc thầm chuỗi Mân-Côi, cầu xin Thượng Đế ban ơn lành cho đàn con đang xông pha nơi lửa đạn.


Hằng ngày bu tôi vẫn nhói tim, nhìn những xe nhà binh GMC chở quan tài phủ cờ chạy qua cửa! Nghe mấy bà hàng xóm kháo nhau rằng áo quan phủ cờ vàng sọc đỏ là của lính chết trận,… bu tôi lại vịn tường ngồi xuống đất đọc kinh tiếp.


Rồi sáng ngày N Tháng Sáu, 1966, một xe GMC chạy vào xóm, từ từ dừng lại khiến bu tôi hốt hoảng khuỵu xuống… Nhưng người lính TQLC tìm vào nhà bà Châu hàng xóm, cũng là người cùng quê, để báo tin con trai bà, thằng Mão đã tử trận! Bà Châu xỉu, bu tôi hoảng hốt lo lắng muốn xỉu theo: Mão và tôi là bạn cùng tình nguyện vào TQLC. Mão Tiểu Đoàn 1, tôi Tiểu Đoàn 2, cả hai vừa đụng trận ở ngã ba sông Định, thuộc Bích La Thôn Quảng Trị. Nó tử thương, tôi bị đạn xuyên khuỷu tay, thấy không sao nên bảo hậu trạm đừng báo tin về cho gia đình biết. Khốn thay, hậu cứ ở Thủ Đức cứ theo thủ tục báo tin nên hai ngày sau lại một xe nhà binh đậu trước cửa hỏi nhà bà Tiệp, tên anh cả chúng tôi. Người báo tin chưa kịp nói gì thì bu tôi đã ngất xỉu, không còn biết gì nữa!


Chỉ bị thương nhẹ, tôi xuất viện ngay để đi phép. Đang nằm bệnh, thấy tôi về, bu tôi ngồi bật dậy ngơ ngác nhìn con, hai tay vuốt mặt con, nắn vai, nắm tay con lắc lắc như muốn biết đây là thực hay chiêm bao! Bu tôi không nói gì mà chỉ khóc, khóc mừng rỡ là còn cầm được tay con vừa từ mặt trận trở về.


Những bà mẹ của lính chiến thấy mặt con lúc nào thì hạnh phúc lúc đó. Tôi xin mượn ý bài thơ Màu Tím Hoa Sim: “không chết người con lính chiến mà chết người mẹ hậu phương”… Người lính chiến nếu có chết, chỉ chết một lần; nhưng bà mẹ hậu phương thì chết giấc vì con, chết dần chết mòn!


Bu tôi đã chết giấc nhiều lần như thế khi thấy mấy đứa con, đứa cháu trong họ hàng và cùng ở TQLC lần hồi tử trận như Tô Chiêu, Tô Sơn, Vũ Tuấn, Nguyễn Thanh, v.v… Cuối cùng, ngày 19 Tháng 6, 1969, trên con kinh Cán Gáo thuộc tỉnh Chương Thiện, những tiếng nổ đã loại tôi ra khỏi vòng chiến, nhưng vẫn may mắn hơn Chiêu, Sơn, Tuấn, Thanh v.v…, tôi còn nặng nợ, nên khi tỉnh dậy, thấy mình nằm trên giường bệnh bệnh viện, toàn thân những dây cùng nhợ! Mờ mờ nhìn qua lớp băng quấn đầu, tôi nhận ra bu tôi đang lấy tay cạy vết máu bầm, vết sình đã khô trên mặt tôi. Qua hơi thở của bình dưỡng khí, tôi mấp máy đôi môi: “Mẹ”.


Tiếng “Mẹ” phát âm dễ thương là thế nên tôi quen với chữ “Mẹ” từ đó.


Tôị trọng thương, bị loại khỏi vòng chiến thì cũng là lúc mẹ tôi bớt được một phần lo âu: Thấy tôi lê lết với đôi nạng gỗ kẹp nách, mẹ lại mỉm cười: “Con cứ như thế này thì mẹ đỡ lo.”


Chưa trả hết nợ, tôi được hạnh phúc quanh quẩn một thời gian bên bà mẹ già nhà quê, bà mẹ không biết viết, không biết đọc mà chỉ biết khóc vì con.


Thế rồi đất bằng lại dậy sóng, các bà mẹ lại tiếp tục vất vả vì các con. Lần sau cùng nghe mẹ khóc là khi tôi cáu kỉnh nhìn mẹ rồi vất đôi dép làm bằng vỏ xe hơi mà cụ đã len lén để vào túi xách cho tôi lên đường đi “học tập cải tạo”: Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, ba anh em trai tôi cùng hai người anh rể đều lên đường để “được” cải tạo làm con người! Chẳng cần nói thêm, ai cũng biết một bà mẹ già trong hoàn cảnh ấy thì “có vui bao giờ”! Nghe hàng xóm xì xào bán tán, mẹ tôi thật thà đi mua quần áo đen và dép râu cho các con, với mong ước là chúng sớm được về đoàn tụ!


Quá khứ lính chiến đời tôi đã khiến mẹ lo âu sợ hãi nhưng chưa lần nào tôi hỗn với mẹ như lần này: Tôi lôi đôi dép râu ra khỏi túi xách và quăng nó vào góc nhà. Mẹ nhìn sững tôi… Chắc bà tự hỏi tại sao con lại vất những thứ cần thiết ấy, nó sẽ giúp con sớm được về với mẹ mà.


Làm sao tôi hiểu thấu được tình thương mênh mông của bà mẹ quê trong khi bà cũng không biết được con trai mẹ đang chín từng khúc ruột. Tôi lẳng lặng cầm túi xách với bộ quần áo lên đường, không lời từ giã mẹ già đang ngồi tựa vách, mắt nhìn theo gót chân con!


“Cải tạo” tới năm thứ chín thì tôi hay nằm mơ thấy mẹ, linh tính cho biết có điều chẳng lành. Tôi hỏi người nhà mỗi khi đến thăm nuôi thì được biết mẹ tôi vẫn bình thường. Mà sao vẫn thấy mẹ trong giấc mơ. Tôi đem chuyện hỏi lại, lúc đó vợ tôi đành lôi trong túi xách ra một xấp hình đám tang mẹ tôi mà vợ tôi đem theo nhưng vẫn muốn giấu kín.


Tôi không còn nước mắt để khóc: tôi đã không có mặt khi mẹ ra đi. Nhưng chính tôi cũng đã không biết là ai vĩnh biệt ai. Mẹ tôi đã khóc vì các con phải đi xa, khiến mẹ mù lòa! Mẹ tôi ra đi vĩnh viễn khi tôi vẫn chưa quay về!


“Lòng mẹ thương con như biển Thái Bình dạt dào.” Lòng mẹ như bị dao chém mỗi khi nghe tin con trở về, “trở về trên đôi nạng gỗ, trở về hòm gỗ cài hoa”! Lời nào nói cho đủ, chữ nào viết cho hết trong vài trang giấy!


Những bà mẹ dù quê hay thành phố, dù bên này hay bên kia đều là Mẹ Việt Nam. Mẹ Việt Nam thì lúc nào cũng vui và khổ đau theo đời sống thăng trầm của các con, không vui khi các con không vui với nhau.


Khổ đau biết bao những bà mẹ của các anh lính chiến luôn canh cánh bên lòng, lo sợ phải rên rỉ câu: “Lá vàng đeo đẳng trên cây, lá xanh rụng xuống lấp đầy quê ta!”


Những ai đó còn mẹ, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, xin chớ có cử chỉ đáng trách như tôi đã phạm đối với “Bà Mẹ Quê” để sau đấy khỏi phải ân hận khôn nguôi.


Tô Văn Cấp



 Vĩnh biệt nhà văn Mường Mán: Tiễn anh ‘qua mấy ngõ hoa’…


Theo thông tin từ gia đình, nhà văn Mường Mán đã từ trần lúc 17 giờ 45 ngày 28.1.2026 tại nhà riêng, thọ 79 tuổi - khép lại một đời văn với bút lực sung mãn…


Tôi biết đến tên tuổi của anh qua bài thơ Qua mấy ngõ hoa nổi tiếng từ trước 1975 (một bài thơ rặc những phương ngữ Huế: mô, tê, răng, rứa…)


“Chim vỗ cánh nắng phai rồi đó

Về đi thôi O nớ chiều rồi

Ngó làm chi mây trắng xa xôi

Mắt buồn quá chao ôi là tội… 

Có chi mô mà chân luống cuống

Cứ tà tà ta bước song đôi

Đi một mình tim sẽ mồ côi

Tóc sẽ lệch đường ngôi không đẹp… 

Không ngó anh, răng nhìn xuống đất

Đất có chi đẹp đẽ mô nờ

Theo nhau từ hôm nớ, hôm tê

Anh hỏi mãi, răng O không nói…". 


Năm 1985 tôi được một cô bạn gửi tặng truyện dài Thương nhớ người dưng của Mường Mán. Chao ôi, những bài thơ, những tập truyện của ông này sao mà thấm đẫm hương vị học trò, rất dễ thương và thật cuốn hút…

nha-van-muong-man-va-nha-van-cung-tich-bien-ngoi-1769660744703862072430.jpg.webp

Nhà văn Mường Mán (ngồi bên trái) và nhà văn Cung Tích Biền (ngồi bên phải)

ẢNH: TGCC


Đầu thập niên 1990, nhà văn Đoàn Thạch Biền ra tập san Áo trắng và cái tên Mường Mán xuất hiện đều đặn trên tập san dành cho tuổi học trò này, khi là bài thơ, khi truyện ngắn và cả những tranh vẽ minh họa. Lúc đó, tôi là trưởng Gia đình Áo trắng Đồng Nai và có mời nhóm chủ trương tập san Áo trắng về giao lưu với Bút nhóm Hương Trắng tại thị xã Long Khánh (Đồng Nai). Lần đầu tiên giới yêu thích văn chương Long Khánh được diện kiến các nhà văn Đoàn Thạch Biền, Mường Mán, nhạc sĩ Vũ Hoàng… Đêm đó, tại Trung tâm Văn hóa Long Khánh, khán giả đã yêu cầu nhà văn Mường Mán đọc bài thơ Qua mấy ngõ hoa, giọng Huế của anh thật trầm ấm nhưng đọc hoài mà… không có lối ra (bài thơ dài đến 18 khổ, mỗi khổ 4 câu).


Tôi về Sài Gòn làm báo, anh Đoàn Thạch Biền thường dắt tôi đến quán Ruốc lai rai để "ủng hộ" quán của bạn. Thực đơn của Ruốc toàn là đặc sản Huế - quê hương của vợ chồng anh. Vợ anh - chị Phương Bình đẹp đằm thắm, cô cựu nữ sinh trường Đồng Khánh (Huế) từng là nguyên mẫu trong những bài thơ, cuốn truyện của anh. Chị thường nói sinh nhật nào của anh đều có mặt bộ "tam sên": Mường Mán, Đoàn Thạch Biền và nhà văn - nhà biên kịch Ngụy Ngữ (cả ba ông đều sinh năm 1947). T

Quán Ruốc nổi tiếng với món mép bò kẹp trái vả chấm ruốc Huế. Tôi thích ăn con nuốt (đồng loại với con sứa nhưng nhỏ và ăn giòn hơn) kẹp trái vả và chiêu một ngụm rượu làng Chuồn (tức làng An Truyền quê anh), rượu này nấu từ gạo de An Cựu nên rất chất lượng, sủi tăm và thơm. Có lần tôi dắt tiến sĩ Frank Gerke (tức Trịnh Công Long, đã mất) đến đây, đãi anh rượu làng Chuồn, Frank khen còn ngon hơn rượu Vodka của Nga… Tôi luôn đi theo quán Ruốc dù nó đã 3 lần đổi địa chỉ, từ đường Trần Huy Liệu, về con hẻm nhỏ đường Duy Tân rồi 145 Nguyễn Đình Chinh (tất cả đều ở quận Phú Nhuận cũ)… Tại địa điểm mới, ngoài việc phụ vợ giới thiệu các món ăn xứ Huế còn là nơi anh gặp gỡ bạn bè văn nghệ và là chỗ "triển lãm" những bức tranh sơn dầu cũng đầy chất thơ và vô cùng lãng mạn của anh.


Tính tui ưa nghịch nên lấy là Mường Mán cho khác đời"

Mường Mán tên thật là Trần Văn Quảng, làm thơ viết văn từ năm 1963, cái bút danh nghe có vẻ "dân tộc thiểu số" của anh là do anh lấy từ tên một truyện ngắn của Tô Thùy Yên. Anh nói: "Nhiều người viết văn, làm thơ thích lấy những bút danh mỹ miều. Tính tui ưa nghịch nên lấy là Mường Mán cho khác đời", theo nhà văn Từ Kế Tường thì ít ai biết Mường Mán còn có một bút danh rất "con gái" là… Trần Thị Gioan. 


Chỉ tính trước 1975, anh đã có khoảng 100 truyện ngắn và 2 truyện dài viết cho tuổi học trò, tựa truyện nghe rất giàu thơ và gợi cảm: Lá tương tư, Một chút mưa thơm… Sau 1975, Mường Mán lưu lạc vào tận miền Tây Nam bộ, chật vật mưu sinh. Một người từng có những tác phẩm nổi tiếng, vậy mà cũng cầm gậy lùa vịt rồi cảm khái làm bài thơ Chăn vịt ở phương Nam, bài thơ hay đến nỗi nhạc sĩ phải phổ nhạc (Châu Đình An và Khánh Ly song ca). Đến thời đổi mới (sau 1986), Mường Mán mới trở lại với văn chương bằng tiểu thuyết Hồng Hạ được NXB Mũi Cà Mau xuất bản với số lượng 35.000 bản (một kỷ lục thời bấy giờ).

 Từ đó, bút lực của Mường Mán ngày càng sung mãn. Anh không chỉ viết truyện mà còn viết kịch bản phim (phần nhiều chuyển thể từ tác phẩm của anh), như: Người trong cuộc (1987). Gió qua miền tối sáng (viết chung, 30 tập, 1995), Chuyện ngã bảy (1997), Trăng không mùa (1998), Duyên phận (16 tập, 2003)…

1769663018264_muong-man-1769660744609754985527.jpeg.webp

Nhà văn Mường Mán

ẢNH: T.L


Năm 1995, được bạn bè động viên, anh rời miền Tây về TP.HCM tiếp tục sự nghiệp văn chương. Nhờ tiền nhuận bút viết truyện và kịch bản phim, anh mua được căn nhà ở Gò Vấp và rước vợ con từ ngoài quê vào, rồi mở quán Ruốc (người con trai duy nhất của vợ chồng anh chẳng may qua đời vì bạo bệnh năm 2013, từ đó anh sống âm thầm như trầm cảm…). Năm 2008, nhân kỷ niệm 45 năm cầm bút và 30 ngày cưới của anh chị, Mường Mán đã cho ra đời tập thơ lục bát Dịu khúc, đó cũng là tác phẩm cuối cùng của anh.

Nhớ thời anh biên tập và vẽ minh họa cho Áo trắng, anh ngồi cùng phòng với anh Trần Thức ở Công ty Văn hóa Phương Nam (TP.HCM). Anh giao cho tôi phụ trách mục Góc thầm thì trên Áo trắng. Báo sắp ra mà chưa có bài là anh a lô liền: "Nguyên ơi, Mệ đây!". Ở Sài Gòn có 2 ông nhà thơ, nhà văn gốc Huế, ưa xưng mình là "Mệ" và "Cậu" là nhà văn Mường Mán và nhà thơ Lê Nhược Thủy, dù chẳng dính dáng gì hoàng tộc.

Với anh Mường Mán và chị Phương Bình, tôi là một người em thân thiết. Hôm nay bàng hoàng nghe hung tin anh giã từ cõi tạm. Xin đốt một nén nhang tiễn biệt anh và xin chia sẻ sự mất mát lớn lao này đến chị Phương Bình cùng tang quyến. 

Kính tiễn anh "qua mấy ngõ hoa".


Tác phẩm của nhà văn Mường Mán sau năm 1975: 

Hồng Hạ (Tiểu thuyết - NXB Mũi Cà Mau 1987), Thương nhớ người dưng (Truyện dài - NXB Trẻ 1988), Kiều Dũng (Tiểu thuyết - NXB Văn Nghệ TPHCM 1989), Ngon hơn trái cấm (Tiểu thuyết - NXB Thuận Hóa 1989), Bâng khuâng như bướm (Truyện dài - NXB Văn Nghệ TP.HCM 1989), Tuần trăng mê hoặc(Tiểu thuyết - NXB Mũi Cà Mau 1990), Khóc nữa đi sớm mai (Truyện dài - NXB Tiền Giang 1990), Người đàn ông tội nghiệp của tôi (Tiểu thuyết - NXB Trẻ 1990), Mùa thu tóc rối (Tiểu thuyết - NXB Văn Nghệ TP.HCM 1990), Chiều vàng hoa cúc (Truyện dài - NXB Trẻ 1991), Trộm trái vườn người (Tiểu thuyết - NXB Thuận Hóa 1993), Bèo nước long đong (Tiểu thuyết - NXB Văn Nghệ TP.HCM 1995), Vọng (Thơ - NXB Văn Nghệ TP.HCM 1995), Trăng không mùa(Truyện dài - NXB Trẻ 1995), Những ràng buộc êm ái (Truyện ngắn - NXB Phụ Nữ 1995), Chuyện kể từ đồng bằng (Truyện ngắn - NXB Trẻ 1996), Người đàn ông hay cười (Truyện ngắn - NXB Văn Nghệ TP.HCM 1996), Cô bé gác mây (Truyện ngắn - NXB Đồng Nai 1997), Muối trăm năm (Truyện dài - NXB Trẻ 2000 - Giải thưởng Hội Nhà văn VN), Phố hoa phai (Truyện dài - NXB Kim Đồng 2002), Cạn chén tình (Truyện ngắn - NXB Trẻ 2003), Sáu Giang Hồ và những mảnh đời phiêu dạt khác (Truyện dài - NXB Trẻ 2005), Dịu khúc (Thơ - NXB Trẻ 2008).

Thơ phổ nhạc: Hãy là viên kẹo hồng (Đynh Trầm Ca phổ nhạc), Chăn vịt phương Nam (Châu Đình An phổ nhạc), Ru ta một mình (Nhật Ngân phổ nhạc), Vị nhớ (Lý Minh Phương phổ nhạc)…



Nguồn: https://thanhnien.vn/vinh-biet-nha-van-muong-man-tien-anh-qua-may-ngo-hoa