Tuesday, June 21, 2016
ĐẦM LẦY HẠNH PHÚC
TRẦN VŨ
Chàng thức giấc vào nửa đêm. Tấm màn tuyn mỏng ở ô cửa gió thổi bay phập phồng. Chàng rời khỏi giường định đóng hai cửa sổ, nhưng hình ảnh tấm màn trắng lên xuống giữa khuya làm chàng bất động. Chàng vừa chợt bắt gặp một hình ảnh lạ mà chàng cho là đẹp. Tấm màn làm buồm, căn gác là chiếc thuyền trôi nổi giữa khuya. Con tàu lênh đênh, nhấp nhô trên thành phố im lìm tựa một mặt biển đêm đen phẳng lặng. Chàng bước tới như bị hút vào cửa sổ. Hình bóng chiếc thuyền nhỏ có cánh buồm tuyn trắng trôi nhẹ giữa dòng đời làm chàng ngây ngất. Con thuyền không bến dừng lại nơi vườn Lục Xâm Bảo cuối bùng binh. Công viên trong ngày tấp nập, nơi chàng thường bắt chước người Pháp ngồi đọc sách mỗi cuối tuần, vào nửa đêm co mình hoang vắng như một khu rừng đen bóng bị lãng quên. Những suy tư lạ lùng thật đẹp, đến bất ngờ làm chàng tỉnh ngủ. Chàng bước hẳn ra ngoài bao lơn, để nghe gió mang hương vị mùa Hè ập chiếm vào hồn. Không gian thoảng mùi lá cây ma-rông mà chàng cho là hương mùa Hè. Chàng cúi đầu ngắm con đường Rue Soufflot bên dưới, còn thắp sáng nối liền đại lộ Saint Michel xuôi dài ra tận dòng sông. Sông Seine mà ở bao lơn không trông thấy, chàng tưởng tượng đang đen ngời lấp lánh sau những nóc nhà. Chàng mỉm cười bâng quơ, thấy hài lòng với thành phố và đời sống mình. Một đời sống bên ngoài tầm thường, nhưng đầy nội tậm rộng lớn vùng tư tưởng thênh thang, trừu tượng chỉ mình chàng chiếm hữu. Chàng đứng lâu ở bao lơn và chỉ quay vào khi đầu gối bắt đầu mỏi. Ánh điện vàng từ đền Panthéon gần đó, theo bước
chân chàng tỏa lan vào phòng thành tấm lụa ánh sáng tờ mờ, huyền ảo.
Chàng quay vào giường, cử động thật nhẹ sợ làm nàng thức giấc. Mền gối trên giường xiêu lệch. Đêm Hè nóng, nên nàng ngủ rướn người đẩy lớp chăn mỏng xuống chân. Chàng ngây người ngắm nàng ngủ say. Nàng có dáng nằm duỗi như con trăn hiền từ lười biếng. Nàng nằm xấp như nàng luôn thích nằm xấp, mặt hơi nghiêng úp trên gối, tóc loà xoà rơi trên mặt drap nõn. Chàng bật một que diêm, ánh lửa rực rỡ của điếu Paul Mall loé lên trong gian phòng. Gió đêm mát rượi tiếp tục theo màn cửa tuôn vào, làm khô rịn giọt mồ hôi nhỏ óng ánh đọng trên lưng nàng. Chàng nhìn khoảng lưng trần đắm đuối si mê không chớp mắt. Rồi không cưỡng được ham muốn, chàng thả năm ngón tay mơn trớn bờ vai nàng. Tấm lưng nàng mịn, thoai thoải chạy dài xuống chỗ trũng ở eo rồi theo hình dạng ngọn đồi trồi lên cong vút. Chàng si mê liên tưởng đến những ngọn đồi xanh bát ngát, những triền núi cỏ êm tươi tốt của miền Nam nước Pháp. Chàng dụi mẫu thuốc vào gạt tàn, áp hẳn mặt mình lên bờ lưng trần của nàng mê đắm.
Nàng ú ớ cựa mình tỉnh giấc. Nàng từ từ mở mắt bắt gặp sàn nhà trải thảm nâu lợt. Khoảng nặng trên lưng có lọn tóc đâm lưa thưa làm nàng biết đầu chàng đang tựa trên hông mình. Nàng muốn với tay bật ngọn đèn ngủ, nhưng cánh tay chàng đè lên tay nàng nặng trĩu. Nàng hỏi trong đêm tối.
- Mấy giờ rồi anh ?
- Thành phố còn đêm.
Chàng gục đầu trả lời lơ đãng.
Nàng hơi bực mình vì chàng không chịu trả lời đúng câu hỏi của mình. Nàng xoay người cho dễ thở. Lợi dụng cơ hội, chàng úp mặt xuống bụng nàng hôn âu yếm. Nàng để yên, cố vươn tay mặt lên xem giờ. Kim đồng hồ dạ quang chỉ con số ba lập loè như đóm lửa ma trơi. Đêm mùa Hè ngắn sắp hết. Nàng nghe hết buồn ngủ và cảm giác những nụ hôn đê mê của chàng trên bụng làm nhột. Nàng ngó trần nhà, chú ý chỗ đóm sáng vàng như loài uất kim hương nở trộm trong đêm. Ánh đèn từ điện Panthéon hắt vào phòng soi lờ mờ từng góc tối. Căn gác của nàng hoàn toàn yên lặng, chỉ có tiếng thở của chàng trong đêm, đều và chậm. Nàng ngữi thấy mùi thuốc Pall Mall len lén trong không khí.
Nàng chợt thấy thật bình yên và ao ước nỗi hạnh phúc an lành này kéo dài mãi mãi. Nàng hơi ngước đầu, định hỏi chàng về dự tính chung sống dài lâu của cả hai, nhưng nàng vụt nhận ra chàng đang lần mò ve vuốt sâu trong cơ thể mình. Nàng vùng dậy chống cự.
- Anh để em dậy, sáng rồi !
- Đêm còn dầy mà.
Chàng thả tay, miễn cưỡng. Dư âm của hạnh phúc theo chiếc áo ngủ nàng trùm lên người biến mất. Nàng rời giường đi vào nhà tắm.
- Với em đã là một ngày mới.
Nàng dứt khoát can đảm. Từ sau lưng mái tóc nàng bồng nhung, lưng chừng vai đen tuyền như màu đêm bí mật.
- Với anh còn là ngày hôm qua.
Chàng vớt vát tiếc rẽ, thấy nhịp sống của nàng nhanh hơn mình.
- Anh chậm lụt như thế mà cứ muốn theo đuổi em !
Nàng quay lại chế diễu chàng trước khi đóng cửa buồng tắm. Ánh đèn hồng bật sáng bên trong và có tiếng vòi nước hoa sen chảy xối. Chàng còn lại một mình hình dung mình vừa trễ chuyến tàu tốc hành. Nhưng chàng không giận hờn nàng chút nào, vì biết chuyến tàu khứ hồi. Không lên toa này chàng cũng lên toa sau. Và nàng vẫn chở mang đời chàng, như nàng đã chấp nhận từ một năm nay. Chàng nằm một mình trên giường, dang xoải tay chân thật rộng. Chàng lăn qua lăn lại, mắt đập vào tấm màn tuyn trắng đang phập phồng tung bay. Chàng lại phiêu du bằng tư tưởng, nổi trôi theo dòng sông trên chiếc thuyền buồm lúc nãy. Đầu óc chàng mông lung với cánh buồm tuyn no gió. Con tàu độc thân ra khơi một mình giữa sóng biển bao la. Chàng yêu cuộc sống phiêu lưu hải hồ.
Tiếng động của cánh cửa buồng tắm lôi chàng về thực tại. Nàng từ bên trong bước ra. Chuyến tàu khứ hồi đẹp tươi mát. Nàng đã thay chiếc áo ngủ hồi đêm bằng áo kimono chàng mua tặng. Chiếc áo kiểu Nhật may khéo, ôm lấy thân hình nàng mềm mại.
- Anh ăn sáng chưa em làm cho ?
Nàng ân cần, vừa sấy tóc, cánh tay cầm lược chải lên xuống.
- Anh chưa đói. Chàng đáp.
- Uống cà phê vậy, em pha nhé.
Nàng đề nghị và bật đèn. Ánh đèn trần rực sáng làm chàng loá mắt. Chàng vội xua tay.
- Đừng ! Tim anh... hơi yếu dạo này, cà phê vào đập mạnh không tốt !
- Vậy em đãi anh Malibu.
Nàng đã sấy xong tóc, cất lược và máy sấy vào hộp.
- Malibu ?
- Dạ thưa anh rượu dừa, nhà em nghèo không có Champagne.
Nghe nàng giả giọng cô đào hát trong vở tuồng vidéo hai người xem hồi tối, chàng bật cười. Ánh điện chói chang nên chàng không thấy nét mặt nàng châm chọc. Nàng quá hiểu chàng là con sâu rượu.
- Được rồi, em cho gì anh uống đó. Nhưng tắt đèn đi, chói quá. Anh yếu mắt em quên à ?
- Cho anh chừa. Ra đường thấy đàn bà là liếc ngang liếc dọc !
Nàng thẳng thừng. Câu nói được phát âm có đôi chút hờn mát. Tuy vậy nàng cũng điều chỉnh cho đèn mờ bớt. Nàng ra tủ lạnh lấy một cái ly và chai rượu màu trắng đục, rồi trở lại giường.
- Em, anh có cảm tưởng mình đang sống đêm trăng mật với nhau !
Chàng đỡ lấy ly không, cố tình tán hưu tán vượn cho nàng hài lòng.
- Mình đã lấy nhau đâu mà tưởng đêm trăng mật. Anh lại ba phải rồi !
Nàng điềm nhiên rót rượu không đùa bỡn. Chàng biết mình hố to, song không tìm ra câu chữa, chàng uống một hơi cốc rượu nàng rót cho bớt ngượng ngập.
- Anh tính chừng nào mình lấy nhau chưa ?
Nàng quỳ gối bên giường, kẹp tóc, hỏi bất ngờ. Chàng giật mình làm sánh những giọt rượu mùi.
- Lấy nhau ? ?
Nàng gật đầu. Không để ý đến ánh mắt châm biếm và nụ cười mỉa mai của nàng, chàng hỏi dồn.
- Ai bày em thế ? Em nghĩ chuyện đó từ bao giờ ?
- Không ai bày em hết, em mới nghĩ đây. Nhưng thôi để em tính.
Nói rồi nàng nhoài mình lên giường, đẩy chàng nằm xuống. Nàng gối cằm lên ngực chàng vân vê những sợi râu chưa cạo. Chàng trông rõ khuôn mặt mình đang ngụp lặn, bơi ếch trong mắt nàng.
- Hay là cứ sống như vầy mà hay. Lấy nhau biết đâu mình sẽ kém hạnh phúc hơn...
- Anh hoàn toàn đồng ý !
Chàng nhẹ thở, sung sướng khoan khoái thấy nàng đổi ý. Chàng thú vị kéo nàng xuống hôn ghì trong tóc. Chàng vuốt ve gáy tóc nàng, muốn thả một bàn tay vào trong cổ áo Kimono mở rộng để nghe nhịp tim nàng đang đập rào rạt. Nhưng giống bao lần, mỗi bận chàng toan tính làm một việc gì nàng đều đoán trước. Nàng truồi người, hất tay chàng ra khỏi ngực, thoát ra khỏi vòng ôm của chàng tham lam hụt hẫng.
- Này, ông đừng sàm sỡ với đàn bà ! Không phải em giữ kẻ, nhưng tim anh yếu, nên điều độ bảo trọng sức khỏe !
Bên ngoài khu vườn Lục Xâm Bảo đã bớt tối sẫm. Một ráng hồng đầu tiên mọc trên nụ hoa sứ tươi màu, nàng trồng ngoài cửa sổ. Chàng tiếc rẻ nhìn theo dáng nàng đi về góc phòng trang điểm . Chàng tự an ủi có người tình thông minh. Hôm nay thứ bảy, nàng còn phải đi làm ở tiệm bánh mì mở sớm. Chàng sẽ được sống một mình nguyên ngày tự do thong dong. Chàng đứng lên vớ mớ quần áo mặc vào người, sửa soạn trở về nhà riêng. Trong màu sắc và âm thanh của rạng đông nhẹ nhàng vọng lên từ dưới phố, chàng nhìn tấm màn tuyn vẫn đang phất phới tưởng tượng mình sắp ra khơi.
Thứ hai tuần sau, chàng tan sở không về nhà mà ghé lên căn gác nhà nàng số 21 đường Soufflot, bên vườn Lục Xâm Bảo. Chàng nao nức mong gặp nàng suốt ngày hôm đó. Cả buổi làm việc trong hãng xịt rửa những tấm tôn bẩn bằng acide, chàng không ngớt nghĩ đến nàng. Chàng nhớ nàng tha thiết vì đời chàng chưa yêu ai nhiều bằng. Chàng yêu si mê, nhưng cũng rất thận trọng. Những lần nàng rủ rê dọn về sống chung cho đỡ tốn tiền nhà, chàng đều một mực từ chối. Tình chỉ đẹp khi còn đang dở, tình mất vui khi đã vẹn câu thề ! Câu hát cải lương, nhưng chàng thấy rất đúng và cố tránh những nhàm chán trong đời sống lứa đôi hằng ngày với nàng. Chàng tự cho mình thuộc trường phái lãng mạn tuyệt đối, nên rất sợ sự chuyển biến của trạng thái tình yêu thành tình thương hại...rồi tình nghĩa chịu đựng ! Đối với chàng đám cưới là cái mốc chấm dứt sự thơ mộng. Một cuộc tình đẹp không bắt buộc kết thúc bằng hôn nhân. Trái lại hôn nhân giết chết tính chất trữ tình của tình yêu. Khi yêu người ta có thể viết những bức thư tình thật đẹp, những bức thư được viết và những bức thư không cần phải viết.
- Nhớ em quá !
Chàng ngã vào vòng tay nàng, đuối sức sau khi leo sáu tầng lầu không thang máy. Nàng ôm chàng, ve vuốt những sợi tóc dài bù xù mà chàng chưa có thì giờ hay chưa có tiền đi hớt. Nàng âu yếm vỗ về như một người mẹ.
- Nhớ em thật sao ?
Chàng gật đầu, lập lại những lời nhớ nhung, trong lúc dúi mặt vào cổ nàng thưởng thức hương da thịt thơm tho quen thuộc.
- Lấy em làm vợ đi. Anh sẽ được sống bên em, gặp em mỗi ngày ít ra liên tiếp trong ba hay bốn mươi năm nữa !
Chàng rụt người, nghĩ đến những suy nghĩ ám ảnh khi nảy. Chàng đẩy nhẹ nàng ra, cuộc chiến vừa được khơi lại, đốm đen duy nhất trong cuộc tình.
- Mình còn trẻ, hãy còn thời gian...
Giọng chàng trầm, bình tĩnh.
- Mình yêu nhau phải không anh ?
Nàng lặng lẽ, cũng bình tĩnh không kém. Chàng thấy phục khí phách của nàng. Hai người như hai võ sĩ so găng, gườm nhau trước hiệp đấu. Nhưng tình yêu là đồng nghĩa chung sống hoà bình. Chàng muốn tìm một giải pháp trung lập.
- Mình yêu như vầy...em không thấy đẹp ?
- Anh băm lăm rồi ! Nàng buông trái đấm direct.
- Em chưa đến... ba mươi.
Chàng hơi choáng váng, trái đấm dứ của nàng coi vậy mà nguy hiểm.
- Em hai mươi tám, xấp xỉ hai mươi chín. Với người Việt Nam hai mươi chín là gái già anh biết không ? Yêu em tại sao anh trốn tránh? Thời gian tìm hiểu một năm chưa đủ cho anh ?
Nàng nói nhanh, tiếng nói hơi rung vì quả quyết. Trái đấm dứ được nàng bồi bằng tiếng O.K. Chàng ngã vật xuống giường mệt nhọc. Căn gác nhà nàng lần đầu tiên hỏng thang máy. Lầu sáu coi vậy mà cao kinh khủng.
- Tiền đâu làm đám cưới ?
Chàng hỏi vọng lên, yếu ớt trống không. Âm thanh xoáy trong gian phòng đụng vào trần hắt dội xuống. Nàng bỏ rơi chàng và chiếc giường bơ vơ giữa nhà, ra đứng bên cửa sổ. Mắt nàng đam mê xuống khu vườn Lục Xâm Bảo êm ả bên dưới. Những đọt lá cây trong nắng Hè mướt xanh nõn. Ngày mùa Hè dài, thật dài như không thể chấm dứt. Nhưng rồi mùa Hè cũng phải đi qua cho mùa Thu u ám tới.
- Không cần rềnh rang, chỉ cần anh thương em. Mình làm lễ trong nhà thờ với hai nhân chứng đủ rồi.
Nàng chậm rãi nghiêm trang khi nói. Nàng đứng dựa màn cửa, nơi đêm nọ chàng bắt gặp hình ảnh cánh buồm trắng trôi trên giòng đời. Chiếc thuyền tình lúc này bị nước xoáy đang đẩy trôi vào một bến đậu.
- Em cho anh một tháng suy nghĩ. Em muốn cuốn Hạ, khi trả lời em, anh phải thật chín chắn !
Nàng đột ngột quay trở lại. Giọt nắng rơi trong mắt nàng đen mun, lấp lánh. Nhưng không hiểu sao, lúc đó với chàng lại là ngọn lửa ác nghiệt đang thiêu đốt chuyện tình của cả hai.
Đêm về khuya. Ánh điện vàng của đền Panthéon len vào căn gác nàng không đủ sáng. Chàng nằm trong vũng tối lơ mơ chưa ngủ. Qua thú đau thương, chàng áp mặt vào lưng nàng. Nàng nằm nghiêng quay mặt vào vách, không nằm xấp như mọi khi. Chàng biết nàng còn thức, đang suy nghĩ. Chàng hôn lên vai và cắn nhẹ vào lưng nàng để chứng tỏ một cử chỉ yêu thương. Nhưng nàng vẫn nằm im bất động. Chàng muốn xoay người nàng để được trông thấy mặt và đọc những suy tư trong đôi mắt nàng. Nhưng chàng không dám cử động, sợ làm tan vỡ bầu không khí còn bình yên giữa hai người. Đêm Hè, có mùi hạt dẽ nướng từ dưới đường, nơi quầy bán dạo rang xông lên. Một vài bước chân bộ hành của du khách đi khuya gõ trên mặt hè văng vẳng. Chàng nghĩ mình đã chiến thắng, lèo lái chiếc thuyền buồm ra khỏi vùng nước xoáy để tiếp tục ra khơi. Nàng chưa biểu lộ một cử chỉ nào khác thường hay khả nghi. Chàng xem như mình đã thành công trong việc giải thích quan niệm sống của mình về hôn nhân, gia đình, đời sống lứa đôi cho nàng hiểu. Chàng nhớ lại nét mặt nàng hồi tối, nghiêm nghị và quan trọng khi nghe chàng trình bày. Chàng và nàng không thể lấy nhau. Hôn nhân giết chết tình yêu và vì yêu nàng chàng không muốn giết chết cuộc tình của cả hai. Chàng đã quyết
định, dù chuyện gì đi nữa cũng không đi vào con đường gia đình cổ truyền. Chàng yêu nàng, nhưng cũng yêu đời sống độc thân tự do. Chàng chọn cả hai. Hôn nhân sẽ đến khi nào phải đến, do số phận quyết định, nhưng không thể lúc này. Chàng chưa muốn kết thúc thời gian làm tình nhân đẹp đẽ và chấm dứt trang tiểu thuyết lãng mạn của cả đôi. Nàng đã im lặng nghe chàng nói hết những điều đó
Thời hạn giao ước một tháng đã qua. Sau bữa tối, chàng được phép ở lại đêm và được quyền chung chăn gối với nàng. Chàng tin tưởng như thế là nàng đã chấp thuận và những yêu đương lúc nãy làm nàng thay đổi ý kiến, gắn bó với chàng hơn. Chàng an tâm úp mặt vào tóc nàng cố ru giấc ngủ. Đêm thanh vắng, gian phòng lơ lững mùi dầu gội đầu toát ra từ chân tóc nàng.
Nàng nằm bất động, thõng một tay xuống sàn vẽ những hình dạng vô hình, lạnh lùng. Nàng suy nghĩ nhiều lắm, những dấu tích tình yêu còn đọng trên da làm nàng ray rức dằn vặt. Coi như lần chót trước khi xa nhau. Nàng lấy móng tay vạch một đường sâu trên thảm tối. Nàng muốn bỏ ý định chia xa giữa hai người. Yêu chàng, nàng không muốn ngăn cách, nhưng đành lòng công nhận chàng thiếu sòng phẳng trong tình yêu. Nàng xoay người trong vòng tay ôm của chàng. Nàng nằm ngữa nhìn lên trần. Nàng biết đã đến lúc cuộc tình phải tan vỡ.
- Sáng mai trước khi đi, anh nhớ để tiền cho em trên bàn đêm.
- Tiền gì ??
Chàng vừa nhắm mắt, nhổm dậy tưởng mình mơ ngủ.
- Từ nay về sau, mỗi bận muốn ngủ với em, anh chỉ việc trả tiền. Em không đòi hỏi anh phải cưới em nữa. Em chỉ lấy anh ba trăm quan thôi !
Nàng vẫn nhìn lên trần, ánh mắt lạnh như băng.
- Em vẫn...chưa hiểu anh ?
Chàng lắp bắp, thấy tấm màn tuyn trắng đang lay động lao xao với cơn giông. Nàng lại xoay mình, lần này đối mặt cùng chàng. Tiếng Bắc của nàng đêm nay êm và ấm hơn bao giờ.
- Em hiểu chứ. Anh muốn em làm bạn đối ẩm, làm tình nhân, làm người nội trợ và làm con sen cho anh, nhưng không được làm vợ. Trong tình yêu anh thiếu thành thật, muốn chiếm đoạt em trọn vẹn mà vẫn giữ riêng tự do bay nhảy.
- Nhưng tình yêu không bắt buộc phải lấy nhau !
Cơn bão kéo đến bất ngờ làm chiếc thuyền không bến lắc lư, nghiêng ngữa. Chàng xoay trở khó khăn. Nàng đặt một bàn tay lên gò má chàng ve vuốt. Năm ngón tay nàng dài mơn trớn , giọng nàng ngọt lùi.
- Em hiểu anh mà, em có đòi anh thành hôn với em nữa đâu. Em chỉ xin anh ba trăm quan. Đến với em một đêm ba trăm quan mà anh tiếc ?
Nàng tát trái chàng thật mạnh. Cái tát tai toé lửa, in dấu trong đêm. Chàng nổ đom đóm mắt chưa kịp định thần thì nàng đã vả tiếp. Chàng nhận nguyên cái tát tai thứ nhì đau điếng mặt mày, nhưng đồng thời cũng làm chàng tỉnh hẳn. Chàng vung lên, vương tay chận cái tát trái thứ ba.
- Em ...ngừng lại !
- Đồ sở khanh !
Nàng lồng lên. Chưa bao giờ chàng thấy nàng hung dữ như vậy. Những ngón tay nàng cào cấu, xỉa xói vào mặt chàng trầy xước. Nàng dữ tợn như một con sư tử cái bị thương.
- Đồ đểu giả, anh ra khỏi giường tôi !
Nàng đứng phắt dậy, giật mạnh tấm drap giường làm chàng té lăn xuống đất. Chàng lồm cồm bò lên, đã thấy ly tách, đèn ngủ bay ào ào vào mình.
- Em điên rồi !
Chàng la thất thanh trong lúc đồ vật bay tới tấp, xối xả vào người. Cái truyền hình nhỏ xách tay rớt bể dưới chân chàng, tung toé . Máy điện thoại bay vèo qua đầu chàng. Từ trong tường đã có tiếng đập phản đối của nhà hàng xóm bên cạnh bị phá giấc ngủ.
- Anh ra khỏi nhà tôi ngay ! Tôi không phải đầm, tôi là đàn bà Việt Nam, tôi không lang chạ với đàn ông, anh làm nhục tôi !
Nàng la hét vỡ đêm. Tiếng rú tru tréo của nàng xoáy vào óc chàng đau buốt. Chén dĩa từ tủ buffet và những chai lọ khay đá trong tủ lạnh bây giờ bay rào rào vào người chàng như cơn bão. Cánh buồm tuyn trắng rách tả tơi...
- Anh van em...
Chàng bám núp dưới thành giường sợ hãi.
- Anh đi đi, tôi hận anh.
Nàng ném mạnh lọ hoa bằng sứ vào mặt chàng. Con thuyền không bến đụng đá chìm lỉm. Chàng thấy máu mũi mình vấy lên áo sơ mi đang chồng vội. Chàng tung cửa và đổ cầu thang xuống đường trong cơn hốt hoảng. Mặt chàng sưng húp và máu mũi tùm lum. Chàng không thấy đường đụng vào cột đèn chỗ đậu xe. Chàng buộc miệng văng tục, trong đời chàng chưa có cảnh nào khốn nạn bằng. Một vài bộ hành muộn, nhìn chàng chui vào xe kỳ cục. Chàng đề máy và nắm tay lái lao đi. Lúc đạp thắng gấp để quẹo tròn theo bùng binh, chàng mới nhận ra mình đi chân đất và bỏ quên ví tay trên nhà nàng.
Trời mưa. Một tuần sau khi đoạn tuyệt với nàng, chàng trở lại căn gác số 21 đường Soufflot. Trận mưa đầu tiên từ khi Hè, nên bao nhiêu hơi nước chất chứa u uẩn trong mây đổ tuôn xối xả. Khu vườn Lục Xâm Bảo chìm mờ trong mưa. Chàng đến để lấy lại ví tay. Chấm dứt với nàng làm chàng đau xót, nhưng chàng vẫn cứ cho như thế đẹp hơn là một kết cuộc bằng hôn nhân. Hơn nữa tự ái chàng bị tổn thương nặng, sau hôm bị nàng tát tai và đuổi ra khỏi nhà. Danh dự không cho phép chàng quay lại năn nỉ nàng. Chàng ghét hạng đàn ông mềm yếu, quy lụy nên tự hứa sẽ không van xin nối lại tình duyên với nàng. Chia tay, tuyệt vời khi giã từ nhau, đẹp như trong một cuốn tiểu thuyết mà chàng được đọc thuở xưa. Chàng tính kỹ lắm. Lên gặp nàng, chàng sẽ làm ra vẻ bình thản xem như không có chuyện gì xảy ra. Chàng sẽ chọn giải pháp "tình bạn" để giữ tình nghĩa cũ. Chàng xin lại nàng giấy tờ, bằng lái, thẻ tỵ nạn rồi thôi. Còn bao nhiêu tiền lẻ trong ví tay chàng sẽ cho nàng hết không lấy lại đồng nào. Cả đôi giày Tây chàng mới sắm để quên, nếu nàng thích chàng sẽ tặng làm kỹ vật.
Chàng chạy qua đường, lên lầu sáu bấm chuông. Không nghe động tĩnh chàng lại chạy xuống đường, đứng dưới cửa sổ nhìn lên tìm hình bóng nàng. Cứ thế chàng chạy lên xuống năm lần bảy lượt đến khi ướt mưa và kiệt sức ngồi thở hổn hển ở bậc tam cấp mới thôi. Chàng sợ nàng đóng cửa tự vẫn. Nhưng chàng gạt bỏ ngay ý nghĩ sầu thảm đó. Nàng nồng nàn say đắm khi yêu, nhưng bình thường rất cứng rắn. Nàng là người đàn bà thông minh sẽ không chọn cái chết vì tình. Chàng đợi suốt buổi chiều sau cùng đành ra về.
Chàng vòng xe về nhà mình. Trời vẫn mưa. Khu phố chàng ở tương đối vắng người qua lại. Qua kính xe, chàng thấy nàng ngồi co ro trên thềm cửa, đầu tóc ướt sũng.
- Em đợi anh cả buổi chiều.
Nàng kêu nhỏ. Nước mưa nhoè nhoẹt khuôn mặt đẹp của nàng, mà chàng không rõ là nàng đang khóc hay là nước mưa.
- Anh cũng chờ ở nhà em ba tiếng đồng hồ. Sao em đến không điện thoại trước cho anh ?
- Điện thoại hôm đó em ném vỡ rồi.
Hai vai nàng run run dưới trận mưa mỗi lúc một mạnh. Mưa tắm ướt chiếc áo đầm rộng nàng mặc, ôm dán vào mình nàng.
- Em đến cho anh hay một chuyện.
Nàng không nói được hết câu, nhìn những bong bóng nước vỡ trên hè. Tóc nàng biếng chải rối ướt nhẹp. Chàng vụt xúc động, không ngờ hình ảnh nàng rũ nước , ốm lạnh gần như lam lũ lại làm chàng thương cảm.
- Anh đưa em lên nhà.
- Không ! Em muốn biết quyết định của anh ngay bây giờ.
Nàng quả quyết, nhưng cúi mặt tránh ánh mắt chàng.
- Em...có mang rồi.
Chàng lặng người một lúc, không nghe thấy những giọt nước đang rơi vỡ trên hai người. Nàng im lặng chờ đợi, mãi một lát chàng mới ấp úng được hai chữ.
- Với ...ai ?
Nàng hơi giận khi nghe chàng hỏi câu đó. Tại sao chàng có thể khù khờ và ngây thơ đến như thế ? Nàng nói mau như muốn chấm dứt thật nhanh.
- Em mất kinh và thèm ăn chua nên sinh nghi đi khám. Bác sĩ bảo em có mang hai tháng. Đứa bé là con của anh !
Chàng nhìn sững nàng như nhà khảo cổ cô đơn, một mình một thân tìm được pho tượng vàng quý, nhưng không biết làm cách nào khuân ra khỏi kim tự tháp. Không nghe chàng trả lời, nàng mím môi.
- Em muốn cho anh hay vì anh là cha đứa bé. Nếu anh không muốn, em sẽ phá thai. Nhưng em không muốn mang trách nhiệm một mình.
- Em...
- Em không cưỡng bách anh giữ con. Em chỉ muốn anh quyết định một lần để sau này em không ân hận. Nếu anh nhìn nhận, em sẽ nuôi dưỡng con mình. Chàng nghe tiếng nàng nấc. Bây giờ thì chàng biết nàng khóc thật. Nàng khóc nức nở trông thật khổ sở. Chàng chợt nhận ra hai người đã ướt như tắm. Trước con mắt ngạc nhiên của những người trú mưa ven lề, chàng bế nàng lên.
- Mình vào nhà đi em, trời mưa lớn quá !
Nàng để yên cho chàng bồng trên tay, lên cầu thang. Hai ống quần chàng ướt, nước nhiểu loang trên mặt thảm cũ. Chàng vừa biết một biến cố đang xảy đến với mình. Chàng cũng biết trang tiểu thuyết lãng mạn của hai người đến đây là kết thúc. Nhưng cũng còn tuỳ thuộc vào chàng mà đoạn kết có hậu làm hài lòng người đọc, hay đoạn kết sầu thảm bi ai làm vương vấn mọi người. Yêu hay không yêu ? Hôn nhân hay không hôn nhân ? Mùa Hạ còn hay hết ? Không còn là vấn đề. Mùa Hạ chấm dứt với mọi người dưới kia, dưới cơn mưa đầu Thu tầm tả. Nhưng Hạ là tên nàng, ở mãi với chàng từ đây.
Trần Vũ
1989
---------------
Nguồn : VĂN
Số 87, tháng 9-1989
Saturday, June 18, 2016
CÁNH HOA TRƯỚC GIÓ
LÊ THỊ HUỆ
Tôi quen Liên trong dịp theo học lớp English As A Second Language. Hồi đầu tiên đặt chân tới San Jose, tôi chẳng biết nhiều Anh văn ngoài mấy câu :"Hello, How are you today ? I am fine. Thank you." Đó là vốn liếng tiếng Anh còn sót lại của những năm trung học, của những giờ sinh ngữ phụ. Lúc tìm trường đi học anh văn, tôi nhờ người chị kiếm cho một lớp sơ đẳng, căn bản nhất để tôi bắt đầu. Tôi được hướng dẫn đến lớp ông John.
Lớp học nằm trên tầng hai của một dãy lầu thuộc một nhà thờ Methodish trên đường số Năm. Tôi đến lớp trong tâm trạng nửa chán nản nửa hồi hộp. Chán nản vì những thay đổi bất ngờ của cuộc tỵ nạn làm tôi mất thăng bằng. Hồi hộp vì không biết điều gì sẽ xảy ra những ngày sắp tới. Do vậy, ngày khai trường hôm ấy không mang cho tôi một cảm giác thoải mái nào. Lúc đến cao ốc, theo dấu mũi tên của tấm bảng trắng có hàng chữ đỏ :"Lớp học Anh Văn sơ đẳng dành cho người tỵ nạn Việt Nam". Tôi leo lên lầu đến một căn phòng sát cầu thang. Bên trong lớp học tôi thấy có tất cả năm người. Một vị giáo sư người Hoa Kỳ trạc ngoài ba mươi, đang viết lên bảng hàng chữ :"Good morning. How are you today ?". Phía dưới có bốn người học trò lớn tuổi. Một thanh niên gần ba mươi, vận một chiếc áo dầy hàng vải lính. Cạnh anh ta là một vị nữ tu người ngoại quốc. Kế tiếp là một phụ nữ tuổi đã tứ tuần khuôn mặt giống như người Hoa Kiều ở Chợ Lớn. Và cuối cùng là một cô gái nhỏ con, vận chiếc váy đầm màu ngựa vằn.
Tôi đẩy cửa bước vào. Vị giáo sư nghe tiếng động quay lại. Tôi chưa biết phải mở đầu như thế nào, thì vị giáo sư đã chào và bảo tôi đến kiếm một chỗ ngồi. Tôi đến ngồi cạnh người thiếu nữ vận áo ngựa vằn. Thiếu nữ ấy chính là Liên.
Giờ ra chơi hôm ấy Liên đến hỏi chuyện. Vẻ thân mật và nụ cười tươi của Liên làm tôi có cảm tình. Liên gợi chuyện :
- Bồ cũng mới ra đây hả ?
Tôi đáp :
- Vâng, em vừa mới ra trại khoảng chừng hai tháng.
Liên trố mắt nhìn tôi.
- Chèng đéc ơi ! Ra hai tháng nay mà tới giờ này mới đi học anh văn. Tui mới ra bốn hôm rày hà. Mà tui bắt xì pông xo kiếm trường cho tui đi học liền dzậy đó. Bộ bồ đau sao mà xanh vậy ?
Tôi ấp úng. Biết trả lời sao ! Hai tháng qua mặc dầu chị tôi hối thúc thế nào tôi vẫn không thể quân bình tâm trí để có thể bắt đầu làm một việc gì. Tôi ở nhà nằm vùi trong phòng. Khóc lóc và nhớ nhung. Tôi có cảm tưởng toàn thân thể và trí óc tê liệt đến độ không thể nhúc nhích. Tôi gật đầu trả lời :
- Vâng, em bị ốm nên nằm nhà.
- Ừ, chắc nhớ nhà rồi sinh đau.
Rồi Liên hỏi tiếp đủ chuyện. Mỗi khi hỏi chuyện gì Liên giương đôi mắt làm duyên, miệng nàng uốn éo cong co giọng miền Nam nghe rất dòn.
- Xì pông xo của bồ là ai dzậy ?
- Dạ là chị của em.
Liên nói : Chà dzậy sướng quá héng. Có chị có em ngon quá chời. Rồi Liên kể lể:
- Tui hồi đó ở trại Bảy, Camp Pendleton đó. Tui sang đây có một mình hà. Chèng đéc ơi ! Ai mà tính đi. Bửa hôm chiều ba mươi, tui đạp xe gắn máy ra bến tàu, thấy người ta leo lên tàu quá chời. Tui quăng xe leo theo người ta lọt sang tới tận đây. Tui ở trong trại lâu là vì muốn chờ gặp xì pông xo tốt kìa. Bị nếu mình gặp xì pông xo tốt, mình mới có cơ hội đi lên được phải hông bồ. Tui được nhiều người pông xo ra, nhưng thấy ở trỏng cũng vui nên tui ráng chờ. Hồi gặp bà Cathy này tui mới ra.
Nghe Liên kể chuyện ra đi, tôi nhớ lại hoàn cảnh mình. Tôi đi hôm hai mươi sáu tháng tư. Ngọc, một người bạn thân đã cố nhét tôi vào danh sách gia đình nàng, những người làm cho toà đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Hôm ấy giữa không khí hỗn loạn mơ hồ, tôi ra đi trong tâm trạng của một người trẻ muốn giang hồ phiêu lưu. Bây giờ ở mãnh đất lạ này, tôi mới biết chuyện ra đi ấy thật quan trọng.
Liên dừng lại giây lát. Dáng nàng nhỏ xíu, cái dáng như con gái mười ba mười bốn tuy Liên đã trạc hai mươi lăm. Giọng nói và khuôn mặt có vẻ đĩ thỏa nhưng duyên dáng. Tôi nghĩ đời Liên chắc phải nhiều lắc léo.
- Tui gặp bà Cathy này cũng tốt. Bà có cái nhà thiệt bự ở dưới đường Hai Mươi Sáu, lại vừa mới ly dị chồng. Chèng đéc ơi ! Vợ chồng ăn ở với nhau bao nhiêu năm nay rồi, giờ tới hồi cơm hổng lành canh hổng ngọt, bà dọn hết đồ ổng ra hổng nương tay. Dzậy mà bà thiệt tốt bụng. Pông xo tui dzìa là dẫn tui đi mua sắm, đưa tui đi học anh văn liền hà. Cuối tuần rồi, bà dẫn tui đi Reno coi người ta đánh bài.
Liên nói thao thao về những tử tế của bà Cathy đối với nàng cho đến khi vào lớp học. Nào là bà Cathy dọn cho nàng một căn phòng tốt ở trên lầu, dẫn nàng đi khai weo phe, đưa đón nàng đi học, cũng như đi dạo phố Tàu phố Nhật ở San Francisco và khắp nơi...Câu chuyện của Liên không có gì hấp dẫn. Nhưng tôi bị lôi cuốn bởi cái lối kể chuyện của nàng. Nàng kể chuyện nồng nhiệt tự nhiên và vui vẻ như một kẻ có tâm lý bình yên vững chắc. Nàng diễn tả ý tưởng và tâm tình đơn sơ theo trí tưởng của nàng. Nhất là giọng Nam của nàng nghe trơn tru giòn giã dễ chịu đối với tôi, một người có cảm tình với giọng nói này. Tôi đang ở trong trạng thái lơ ngơ khật khùng của những ngày đầu ở Mỹ. Khi được nghe Liên kể chuyện, tôi cảm thấy thoải mái như được uống một bát nước vừa ý.
Vì những cảm tình đặc biệt với con người đáng yêu của Liên, thỉnh thoảng tôi nhận lời đi dạo phố hoặc đi mua sắm với nàng. Thuở ấy chúng tôi vừa mới gia nhập đời sống Mỹ nên chưa biết mơ ước những thú vui đắt tiền. Chẳng hạn mơ làm chủ một chiếc xe đẹp để vừa hãnh diện với người xung quanh để vừa đi đây đi đó thỏa thích. Niềm vui của chúng tôi lúc đó được Liên đơn giản hoá bằng hai chiếc xe đạp của nàng. Những chiều tan học, Liên rủ tôi đến phòng, cho tôi mượn một chiếc xe đạp, loại xe chỉ dành cho trẻ con mười hai mười ba đạp rong trong xóm. Tôi và Liên thơ thẩn đạp xe lòng vòng dưới phố. Chúng tôi đạp xe trên những vỉa hè sạch sẽ và vắng ngắt bóng người. Tôi thường đi sau Liên, để cho nàng hướng dẫn những cuộc đi dạo này. Sau này mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm của những ngày bắt đầu cuộc sống ở Mỹ, tôi không thể nào quên được những lần đi dạo xe đạp ngây ngô với Liên dưới phố San Jose.
Mối thân giao giữa tôi và Liên cũng mờ mờ ảo ảo. Chúng tôi chỉ gặp nhau trong những lần đi học, đi dạo hay đi mua sắm. Liên đã xem tôi như một nhân vật lạ đời để nàng có thể kể những câu
chuyện của nàng hay để đi đâu đó một đôi khi. Tôi cũng thấy dễ chịu trong mối sơ giao ấy. Thỉnh thoảng Liên vô tình tiết lộ cho tôi nghe những câu chuyện, mà qua đó, tôi biết rằng nàng vẫn còn tiếp tục một phần nào cuộc sống cũ ở Việt Nam, cuộc sống của những người buôn hương bán phấn. Dĩ nhiên tôi không bao giờ tỏ ý phê bình đụng chạm đến nghề nghiệp đó của nàng. Những câu chuyện về quá khứ của nàng phần lớn là những chuyện vui vì cái lối kể chuyện của Liên hơn là thiên truyện của quá khứ bất hạnh của một thiếu nữ.
Liên kể cho tôi nghe những câu chuyện về những xóm làng, những quán chợ, những người bạn thuở thiếu thời cùng gánh nước mướn như nàng. Về Tây Ninh nơi nàng sanh ra, và lớn lên trong một không khí gia đình lùng bùng. Một đàn em lếch thếch, một bà mẹ ghẻ hiền lành, một ông bố thất nghiệp say sưa mù mịt. Năm mười tám tuổi, Liên bỏ nhà trốn lên Sài Gòn. Nàng đăng vào nữ quân nhân. Ngày đầu tiên đăng đơn nhập ngũ, nàng bị ông lính nhận đơn hãm hiếp ở phòng khách đêm ấy.
Đôi khi, Liên kể cho tôi nghe nàng đã ngủ với ông tá ông uý nào ở ngôi nhà ấy. Ngôi nhà ở Biên Hoà với những vách tường kính và chiếc giường Hồng Kông là kết quả của bao nhiêu năm nàng lăn lộn trong nghề. Câu chuyện về ngôi nhà ở Biên Hoà thường dẫn Liên tới niềm mơ ước có thể sở hữu được một ngôi nhà trên đất Mỹ này sớm chừng nào tốt chừng nấy.
Một hôm Liên đưa cho tôi xem tấm hình một thanh niên lạ mặt. Nàng vừa cười vừa bảo : Tui lấy trộm trong ví ảnh đó. Coi được trai hông ? . Tấm hình là một ảnh căn cước 4x6 cũ kỹ. Một góc còn mờ nét triện đỏ chứng tỏ hình đó được tháo gở từ một chứng minh thư nào đó. Người thanh niên trong hình trạc đôi mươi, khuôn mặt thư sinh không mập không ốm. Có đôi mắt sáng, sóng mũi khá cao và chiếc miệng nghiêm trang.
Liên đứng nhìn tôi ngắm tấm ảnh và nói :
- Ảnh còn đi học như bồ đó. Nghe đâu trước ảnh học Luật trong Đà Lạt. Bây giờ ảnh ở tuốt bên Arizona lận.
Tôi trao tấm hình cho Liên và bảo :
- Gở hình trong thẻ sinh viên người ta ra mà cũng không biết người ta học ở đâu. Chị thiệt là vô tình. Đà Lạt làm gì có trường Luật. Mà...dễ thương làm sao ? Chị nói dễ thương thì thật khó đoán.
Liên đưa tay hất tóc ra phía sau rồi nhoẻn miệng cười.
- Ủa dzậy hả ? Ai mà biết. Tui tưởng ảnh học trỏng chớ. Bị hồi đó ảnh nói nhà ảnh ở Đà Lạt. Tui quen ảnh trong trại Pendleton. Ảnh ở sát giường tui. Tui ở ngoài hết, tới ảnh, rồi tới hai vợ chồng với mấy đứa con ông Tàu kia kìa. Ảnh hiền lành lắm. Tui nhìn ảnh là tui thương liền hà. Ảnh đi sang đây có một mình. À quên, để tui đưa thư ảnh cho bồ coi.
Vừa nói Liên vừa đi về phía tủ phấn kiếm lá thư. Trong khi tôi cố mường tượng ra những nam sinh viên cùng lớp thuở nào. Người thanh niên có nét hao hao giống một số khuôn mặt quen thuộc nào đó trong lớp, những khuôn mặt bình thường, không sôi nổi hay tham vọng. Họ có triển vọng là những người chồng người cha gương mẫu trong gia đình.
Liên mang lại một lá thư xếp làm ba trong một phong bì trắng nhàu. Thư đề ngày 15.01.1976
Thăm Liên,
Cám ơn Liên về món quà Giáng Sinh, về hai cuộn băng nhạc. Tiếc là tôi chưa có máy cassette để nghe. Tôi quý lắm vì đó là món quà duy nhất mà tôi nhận được trong dịp tết vừa qua. Nhân đây tôi cũng muốn nhờ Liên một việc. Liên có thể kiếm hộ tôi một căn phòng giá vừa phải cho một người sắp thất nghiệp như tôi. Tôi có ý định dọn khỏi đây sớm chừng nào tốt chừng nấy.
Tôi kèm theo đây số điện thoại. Liên có thể gọi cho tôi vào buổi tối.
Cám ơn những tử tế của Liên. Chúc Liên bao giờ cũng vui vẻ.
Nguyễn C Dần
Tôi trao lá thư cho Liên và nói :
- À thì ra hôm trước chị nhờ tôi đi theo chị lên tiệm Việt Nam mua hộ hai cuộn băng là để gởi cho anh ấy vậy mà tôi cứ tưởng chị mua về để nghe.
Liên đang sửa soạn đánh móng tay, quay lại nhoẻn miệng cười nói :
- Đâu có. Tui hổng chịu Khánh Ly, giọng èo ẹo tui hổng ưa. Tui ưa cải lương hà. Còn tân nhạc tui chịu Giao Linh. Nhất là bài này nè, Liên cất giọng hát :
Em chỉ xin anh đừng mỉa mai gì. Dù một lời thôi khi nhắc tên anh. Cho kẻ yêu anh không tủi phận mình. Còn loé trên môi nụ cười. Cầm bằng như áng mây trôi...
Rồi Liên tiếp hơi lên mấy câu vọng cổ :
Anh Thành ơi cớ sao anh nỡ đành tâm phụ bạc trong khi em còn giọt máu yêu dấu anh để lại...Để cho em đành tâm nuốt lệ ra đi giữa lúc phố chưa lên ...ứ...ư...đèn...
Tôi vui ra với bản vọng cổ của Liên. Nàng có giọng ngâm cải lương mùi mẫn. Liên tự nhiên ca hát những lúc cao hứng. Chiếc miệng Liên nhỏ xíu. Mỗi lúc ca vọng cổ hay tân nhạc nàng uốn éo đôi môi cong cớn. Trông Liên ngây thơ như đứa bé lên mười được đứng hát giữa lớp.
Liên tiếp tục sơn móng tay sau khi ca hết bản vọng cổ, và kể sơ qua cho tôi nghe sự quen biết với Dần.
- Hồi đó à nghen. Ở trong trại, giường tui kề giường ảnh. Bị tui có bạn bè lại chơi hoài. Tui lấy mấy tấm ra trãi giường căng lên làm một buồng riêng. Có ông bà ở cùng lều cứ lầu bầu nói tui làm ồn. Mà thiệt tui có làm gì ồn đâu. Dzậy đó mà ảnh ở gần tui ảnh hổng bao giờ phiền trách gì tui ráo. Người thiệt tình rộng rãi. Có một buổi tối, tui dzìa buồng, tui thấy ảnh đắp chăn rên hừ hừ. Tui thấy tội nghiệp, tui lén lấy cơm về cho ảnh ăn. Mấy người giục ảnh đi bác sĩ. Ảnh nói ảnh nóng sơ sơ. Tui đi kiếm thuốc dzìa cho ảnh. Mấy hôm sau ảnh hết bịnh. Ảnh cám ơn tui. Nói tui tử tế với ảnh quá.
Liên ngừng lại giây lát, đến bên tủ phấn lấy bông gòn ra chấm cồn tẩy những vết loang ở sát rìa móng tay. Nhìn bóng Liên trong gương, sạch sẽ tươm tất và bình thản, tôi thấy nao nao trong lòng. Dáng người nhỏ bé trong bộ bà ba hoa vàng, trông Liên nhỏ bé hiền hoà như một người tình bé bỏng, một người vợ hiền hơn là một người đã từng lăn lộn với nghề buôn hương. Liên trở lại kể tiếp :
- Thì có gì đâu. Tui thấy ảnh nóng. Mỗi lần thăm chừng ảnh, tui ưa sờ trán, đưa cam đưa thuốc cho ảnh. Mấy hôm ảnh đau, tui cấm mấy thằng bạn tui lại thăm. Sợ làm ồn ảnh ngủ hổng được. Thấy ảnh hiền từ rộng rãi tui thương. Tui thương ảnh thiệt mà. Chời ơi thiệt đó. Nhìn ảnh là tui nhớ ông Năm xích lô ở sát nhà tui hồi nhỏ. Mỗi lần tui bị ông già tui đánh, tui chạy sang nhà ông Năm. Ồng can ông già tui ra. Có khi còn cho tui ăn ké. Ông Năm cũng hiền từ rộng rãi như ảnh dzậy. Nhìn ảnh là tui nhớ ông già Năm liền hà.
Ngừng một phút, Liên kể tiếp :
- Cho tới hôm ảnh sắp ra xì pông xo tui buồn quá chời. Tui nằm trong buồng hổng ăn cơm tối. Khuya ảnh dzìa, ảnh hỏi tui sao bị đau. Hồi đó tui mới thú thiệt là tui thương ảnh. Tui muốn đi theo ảnh.
Nói tới đây Liên dừng lại như xúc động. Tôi cũng thật sự xúc động vì câu chuyện của nàng. Người thiếu nữ đã từng mơ ước một chiếc giường Hồng Kông, mơ ước một căn phòng có bốn vách kính, mơ một chiếc áo lông thú đắt tiền, mơ được cặp kè với những người giàu sang. Hôm nay kể chuyện tình một cách chân chất. Thế ra cho dù lăn lộn với bao nhiêu sương gió của cuộc đời, Liên vẫn còn có thể rung động và mơ ước một tình yêu đơn sơ bình an với Dần. Điều gì ở Dần khiến cho nàng rung động để can đảm thú nhận tình yêu của nàng cho Dần nghe ? Phải chăng Liên bắt gặp nơi chàng cái hình ảnh hạnh phúc đợi sơ. Một khuôn mặt không sóng gió của đời sống. Một mái ấm gia đình mà bao lâu nay nàng mơ ước ?
Chỉ thấp giọng và khuôn mặt chùng xuống buồn bã một lúc, mấy phút sau Liên lại vui vẻ nói cười.
- Dzậy đó mà ảnh đi Arizona. Tui tưởng đi là đi luôn chớ. Ai ngờ bữa nay lại định dọn sang đây.
Tôi hỏi Liên :
- Vậy chị định để anh ấy dọn vào đây luôn chứ.
Liên lắc đầu.
- Hổng được. Bị ảnh chắc hổng ưa làm dzậy đâu. Để tui đi kiếm phòng cho ảnh. Bửa nào ảnh sang, tui kêu bồ lại chơi.
Sau Tết một tháng. Tôi đang nghỉ hè giữa khoá mùa Đông và mùa Xuân, đang nằm nhà vất vả học anh văn, Liên gọi điện thoại báo cho biết Dần đã dọn sang. Liên mời tôi tới dự sinh nhật của nàng ở nhà bà Cathy. Tôi nhận lời đi chung với mấy người bạn.
Chúng tôi đến nơi khi căn phòng đã đông khách. Khách phần lớn là những người quen biết của bà Cathy. Họ hút thuốc, uống rượu, ăn uống trong bầu không khí ngột ngạt khói thuốc. Chúng tôi nhập vào như những người lạ quây quần nói tiếng Việt với nhau. Chúng tôi ăn thức ăn do Liên nấu. Đêm nay Liên bận một chiếc áo dạ hội màu trắng hở lưng, tóc uốn quăn và để chảy dài trên vai. Liên xinh xắn như một búp bê của bữa tiệc. Nàng cười tíu tít. Nhanh nhẹn chuyện trò với mọi người. Trông nàng chững chạc và lẳng lơ hơn.
Liên dẫn Dần tới giới thiệu với chúng tôi. Người thanh niên hoạt bát hơn tôi tưởng. Dần có dáng dấp một thư sinh, vận một chiếc áo len xanh thẳm và một quần sô đơn giản. Quả như lời Liên mô tả. Dần có một khuôn mặt dễ nhìn. Lúc chàng nhìn xuống, chàng có vẻ đẹp nho nhã yếu đuối. Tôi tưởng tượng ra khi nhìn ngắm Dần bị bịnh và ngủ, vẻ đẹp yếu đuối của Dần đã làm Liên xiêu lòng.
Khi anh bạn cựu quân nhân ngồi cạnh tôi, người nói chuyện và pha trò huyên thiên đi bàn khác đánh cờ, Dần mới có dịp lại bên tôi bắt chuyện. Dần cởi mở và phóng khoáng. Nhưng cũng như những người tỵ nạn mới đến Mỹ, Dần vẫn còn mang nét bất ổn nào đó trên mặt. Dần kể cho chúng tôi nghe lý do di chuyển vội vàng sang đây, là vì chàng không thể sống chung với một người bảo trợ là một gã đồng tính luyến ái.
Điểm thích thú mà tôi khám phá ra ở buổi nói chuyện ban đầu là Dần đồng ý với tôi về những điểm đáng yêu ở Liên. Cái duyên dáng thiên phú của nàng. Sự ngây thơ trong giọng nói miền Lục Tỉnh của nàng. Liên mang rượu lại cho chúng tôi. Nàng nói huyên thiên về lối pha rượu nàng mới học được của bà Cathy.
- Rượu này tui pha lấy đó bồ. Liên vừa nói vừa trao ly rượu về phía tôi. Uống một ly cho dzui đi bồ. Bồ không thấy đàn ông khi buồn người ta uống rượu cho khuây khỏa đó sao.
Quay sang Dần, Liên phác một cử chỉ phân trần với chúng tôi.
- Tui nói rồi. Ở đây tui lo cho mà ảnh nhất định ở motel cho đến khi kiếm được phòng. Bị hoàn cảnh nó làm mình cực dzậy chớ ai đâu muốn. Tui hồi ở nhà quê ra tỉnh, ở Tây Ninh lên Sài Gòn, tui trông biết một người quen đặng ngủ nhờ nhà họ một hai đêm mà tui có quen ai đâu. Giờ tui thấy ai hổng nhà là tui động lòng. Ơ mà nói dzậy chớ mấy cái đờn ông mắc chứng. Hổng khi nào tỏ ra ta đây nhờ đến ai giúp. Tui nói thiệt à. Tui gặp người tốt như bà Cathy đây là tui quý lắm. Kiếm được người tử tế bộ dễ a.
Nói xong Liên nhoẻn miệng cười, bưng khay rượu quay đi. Tôi nhìn sang Dần. Chàng đang mãi ngắm bóng Liên. Đêm ấy chúng tôi nói chuyện cho đến khi tiệc tàn.
Dần kiếm được căn phòng ở ngoại ô San Jose. Căn phòng nhỏ và ấm cúng nhờ vào những chăm sóc của Liên. Liên thường đến đấy tự động lo cho Dần những công việc như quét dọn, nấu ăn, sửa sang căn phòng. Dần và Liên thường đi chơi chung với tôi. Họ là một đôi tình nhân bất thường. Liên hết đi chơi và giao thiệp với những liên hệ cũ. Dần tiếp tục đi học trở lại và buổi tối đi làm việc phụ ở một hãng điện tử.
Một buổi tối mùa hè tôi đang xem truyền hình ở phòng khách. Dần thình lình ghé lại, mời tôi đi uống cà phê. Tôi ngạc nhiên vì lời mời bất thường nhưng cũng theo Dần đến quán.
Quán cà phê ở dưới phố, có bầu không khí giống những quán cà phê ở Sài Gòn. Ở đây chúng tôi có thể thong thả ngồi nói chuyện với một ly cà phê mà không cảm thấy phiền phức vì không gọi thức ăn. Bởi quán chỉ bán cà phê cho khách hàng. Cà phê không lấy gì làm xuất sắc nhưng không khí quán dễ chịu. Một vài bức tranh cảnh treo trên tường. Những bộ bàn ghế mầu gỗ. Một cái quầy cà phê và những điệu nhạc êm dịu. Dần gọi cho chúng tôi cà phê đen. Chàng lấy thuốc lá ra hút trong khi tôi nhập đề :
- Hôm nay có chuyện gì mà trông anh có vẻ khác thường vậy ?
Dần bật lửa châm mồi thuốc. Chàng bật nấp chiếc bật lửa màu thiếc trắng. Ngọn lửa bùng lên. Dần loay hoay trong một dáng điệu tập trung cả mắt mũi miệng và hai tay vào điếu thuốc với ngọn lửa. Ánh sáng của ngọn lửa làm cho khuôn mặt Dần sáng hẳn lên. Tôi ngắm nhìn chàng và ước gì có máy hình trong lúc này để có thể thu lại hình à y này. Dần hít hơi thuốc đầu tiên xong rồi nói :
- Liên đi rồi.
Tôi giật mình hỏi :
- Đi đâu vậy ?
- Đi theo chồng.
Tôi mở tròn mắt :
- Chồng nào ? Sao tôi không hay biết gì vậy ?
Dần mĩm cười, nghiêng mặt nhìn tôi hỏi :
- Giả thử nếu có biết đi nữa, cô sẽ làm gì ?
Ngừng một phút Dần tiếp :
- Liên sống thoải mái. Nàng sống theo con người thật của nàng, hành động theo lý luận và mơ ước đơn giản của nàng.
Tôi vẫn ngạc nhiên. Tại sao hôm nay chàng này triết lý lung tung. Mà tôi chưa biết Liên đi lấy chồng hồi nào, chồng Liên là ai ? ...tôi cắt lời Dần :
- Nhưng lấy ai ? Hồi nào ? Ít ra anh cũng nên cho tôi biết trước đã.
- Lấy chồng từ lúc còn ở Việt Nam, Dần đáp. Chồng Liên là một nhân viên trong Uỷ Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên. Họ đã chung sống một năm trước khi ông ấy về Mỹ. Khi Sài Gòn mất, ông ta kẹt lại bên này. Ông ấy lùng kiếm Liên hơn một năm nay, bây giờ mới gặp. Hôm qua cơ quan Hồng Thập Tự gọi lại, Liên kể chuyện cho tôi nghe.
Dần dừng lại, dụi tàn thuốc. Tôi ngẩn ngơ. Cơn lốc của một cuộc chạy nạn từ bên nửa mặt đất này sang nửa mặt đất khác phơi bày nhiều tuồng tích đột ngột mà tôi phải chứng kiến.
- Thế rồi bà ấy bỏ đi hả ? Tôi nói một cách lạc lỏng. Cái bà ấy thiệt là vô tình.
Dần mơ màng. Có lẽ hắn đang nhớ đến Liên thật. Tôi cũng thấy nhớ khuôn mặt tươi cười của Liên. Cái giọng nói ríu rít như se sẽ của nàng. Nếu có Liên ở đây có lẽ giờ này chúng tôi đã không lâm vào những phút trống vắng như vầy. Dần nói tiếp :
- Liên bảo ông ấy đã lớn tuổi, đã ngoài năm mươi. Ông ta thương yêu và chiều chuộng Liên lắm. Tôi cầu mong Liên có hạnh phúc. Một người như Liên phải có hạnh phúc. Liên không biết khổ đau sầu mộng. Nàng được cái đặc ân ấy.
Chúng tôi lại rơi vào yên lặng một lúc. Tôi ngắm nhìn khung cảnh chung quanh, tiếng cười nói, điệu nhạc lâm râm, những bóng người đi động chung quanh. Tất cả những ý tưởng về Liên tản mác trong tôi.
Một lát sau Dần nói :
- Liên đi cũng khoảng một tuần lễ nay. Liên bảo có gọi cho cô đôi ba lần nhưng trùng vào tuần lễ cô đi chơi xa nên không gặp được.
Dần quay vòng ly cà phê đã cạn và bỗng hỏi tôi :
- Sao cô không sống hồn nhiên như Liên. Tôi không muốn nói về lối sống bất định của nàng.
Tôi nhìn Dần, lơ mơ trả lời :
- Ông bạn à, trăm hoa đua nở chứ. Mỗi hoa lại một vẻ. Để trở nên trọn vẹn cái nhân dáng của mình cũng đã là một điều khó khăn rồi. Vả lại chạy một trận giặc, mất hết cả gia đình bạn bè tình nhân quê hương, anh bảo người ta sao hồn nhiên mãi được.
Bẵng đi một thời gian hơn một năm, câu chuyện về Liên cũng nguội dần. Tôi chẳng biết tin tức gì về Liên từ lúc Liên theo chồng. Dần được học bỗng về ngành dầu lửa và sau đó dọn về Houston. Thỉnh thoảng viết cho tôi ít dòng thăm hỏi qua loa. Thì bỗng một hôm, Liên bất ngờ kiếm tôi ở căn phòng trọ mới. Liên mang tặng cho tôi hai con hổ bằng sứ xanh, loại để làm đế bình hoa. Chúng tôi gặp nhau chào hỏi vồn vã.
- Gió nào thổi chị về đây. Sao hôm nay trông chị điệu thế.
Tôi ngắm nhìn bộ quần áo chim cò trên người Liên. Sống xa chúng tôi một thời gian, Liên trở lại thói quen cũ, ăn mặc như những thiếu nữ ngày trước ngồi vắt vẻo với những chú GI Mỹ ở những quán bar. Mặc cho thời trang thế giới đến đâu.
Liên quay một vòng, nhún nhảy ra dáng như một cô kiểu mẫu đang biểu diễn.
- Tui mới may đó. Liên nói. Tui vẽ kiểu rồi đưa cho thợ may. Bị tui nhỏ con, mua đồ ngoài hổng được, hổng có cỡ nào vừa. Đi mua đồ cứ bị mấy người bán hàng chỉ lại hàng con nít hông hà.
Tôi đến tủ lạnh rót nước mời Liên rồi nói :
- Chồng con chị khỏe mạnh luôn chứ ? Lấy chồng hơn năm nay bây giờ mới nhớ tới nhỏ này.
Liên xịu mặt, nhìn đi nơi khác trả lời :
- Ông già bị bịnh ung thư mất cách đây hai tháng rày. Tui rầu quá chời nên mới dọn lên lại nhà bà Cathy mấy hôm rày.
Tôi há hốc miệng nói : Trời đất ơi !
Liên cho hai tay vào túi quần rồi đến bên cửa sổ nhìn ra bầu trời bên kia dãy nhà trọ. Bầu trời xám buồn bã.
Lê Thị Huệ
1984
----------------------
Nguồn: VĂN
Số 28 tháng 10-1984
Wednesday, June 15, 2016
MÙA HOA TUYẾT
HỒ ĐÌNH NGHIÊM
Sương đứng bên cửa cúi đầu nhìn xuống. Nước mưa làm con đường đen bóng như trãi một đoạn vải sa tanh. Và cũng chính mưa, nó làm cho cái đoạn vải ấy trơn tru, chẳng có gì thêu dệt trên bề mặt. Không một bóng người đi qua. Lâu lắm mới có chiếc xe vụt ngang, lung linh một vệt màu vàng đỏ thấm ướt, rồi rũ sạch nó chóng vánh chảy xuôi về cuối tầm mắt. Sương kéo tấm màn cửa lại. Tấm màn vải dầy nặng, cũng màu đen, nhưng là cái đen đúa của khô mốc.
- Màn của chị may hay của chủ nhà ?
- Mình không may mà đi lựa mua. Khi dọn đến ở chỉ nhìn ra một sự trống rốc. Lạnh lùng và chẳng có gì đáng lưu giữ.
- Chị cũng khác thường.
- Ngạc nhiên về điều gì hả ?
- Chị không thích màu hồng màu xanh sao ?
Sương mĩm cười, nhớ lại lần ấy nàng đâm hà tiện từng lời nói. Có nỗi chán chường kỳ lạ hiện tới. Bỗng làm thinh để hết nhìn đứa con xong tới nhìn bà mẹ trẻ đẹp. Đứa con nằm trong chiếc xe đẩy, mắt nhắm nghiền vô tư hồn nhiên ở giấc ngủ. Mẹ nó thì lanh mắt nhìn thấy một cái ảnh nhỏ đã ố vàng dựng đứng trên bàn ngủ. Khuôn mặt người đàn ông đóng khung ở trong.
- Ai vậy chị ?
Sương lạnh lùng : Một người quen. Đã lâu. Và một người...có thể đã chết.
Nàng đi tới lật úp tấm ảnh lại, nghe có tiếng xin lỗi thoảng nhẹ qua tai.
Bây giờ thì chính Sương đang mọc chút ngờ vực. Cái chuông cửa phía dưới lầu có bị hư không ? Tiếng chuông đã chẳng vang lên đúng giờ như có hẹn trước. Em và Bồ Câu sẽ đến làm phiền chị lúc tám giờ...
Tám giờ rưởi, Sương mở tivi cho trong nhà ồn ào đôi chút. Tôi ghét chờ đợi. Sương nói một mình khi màn ảnh chưa hiện hình lên. Nàng thở dài, có lẽ mình đang dần dà làm quen với nỗi khó chịu ấy. Như đã làm quen với những bước chân vô hình của ai đó đi rón rén lên sân nhà. Mới đầu thấy sợ hãi, nằm co ro trong bóng tối tưởng tượng ra chuyện chẳng lành và ao ước đủ điều, kể cả việc ước chi có một tên đàn ông nằm bên cạnh mỗi đêm. Tự làm khổ một thời gian rồi sau phải bạo gan chịu đựng được, đánh đổi bằng sự mất ngủ với đèn đuốc chong sáng năm canh. Giờ đây, những thanh gỗ dài lót nền bóng màu vẹc ni không còn nghe ra tiếng vặn mình giãn nở.
Một đoạn phim ở đài số 3 đang lấn át hết mọi chuyện.
- Em không thể bỏ đi được. Anh hiểu không ?
- Những chướng ngại sẽ không còn quấy rầy chúng ta khi tụi mình đến một thành phố khác. Tình yêu là một con đường mà cả hai cùng nhìn về cùng cất bước.
- Anh đừng giải thích kiểu đó có được không. Bỏ đi là đồng nghĩa với trốn chạy. Và em đã bỏ chạy nhiều lần rồi. Hừ, tình yêu...Lý ra nó phải thả neo, phải dùng hấp khẩu để bám chặc lấy cái vùng đất mà nó được nẩy mầm.
Người đàn bà quay mặt đi đưa tấm lưng lại. Cổ áo phía sau khoét sâu xuống một hình chữ V. Một chữ V sắc sảo của người thợ may khéo tay và một vùng thịt trắng dâng đầy gợi cảm của bà đầm thủ vai chính tuổi không quá ba mươi. Gã đàn ông tay ôm lấy đầu, làm như động não quá nên choáng váng. Ngồi ủ rũ vì bỏ công sức lung lạc quyến dụ mà bất thành. Ống kính thu lấy hình ảnh một ngọn nến đặt trên bàn ăn. Phóng lớn cái đóm lửa đang nhảy múa để rồi cho nhoè đi từ từ.
Màn ảnh truyền hình chuyển qua đoạn quảng cáo một loại băng vệ sinh hiệu Always có nhạc cổ điển đệm theo...
- Em bị trễ kinh hơn mười ngày nay rồi...Làm sao hả chị ?
Những giọt nước mắt chảy vội. Nó vô duyên như lời tâm sự đầy lo âu kia. Mình có khó tính không ? Sương nghĩ thầm. Người ta đang cần một ý kiến sáng suốt để lắng nghe. Sương ngồi ngó đầu tóc rối mãi cuối xuống. Ngó bờ vai tròn lẳng luôn rung động. Chẳng biết nói gì ? Sương khó chịu vì hiểu mình là đứa ăn nói vụng về. Hai bàn tay bức rức mãi cũng không xong, Sương dùng nó để xoa nhẹ lưng đứa con gái vừa vượt biên sang thế giới đàn bà. Tấm lưng mềm mại có trong xúc giác và bờ thịt êm mát đó cứ xuôi đổ không bắt gặp một chướng ngại nào. Sương nghĩ thầm : Chẳng mặc nịt vú. Hấp dẫn thiệt. Cô chảy nước mắt để trả nợ cho sự hấp dẫn đó, phải không ? Người ta khóc vì đau khổ, cũng có thể vì hạnh phúc. Sương thèm được khóc một đôi khi. Nhưng sợ không có ai dỗ dành...Mình cô đơn. Mình sẽ tới cuối lằn mức lãnh cảm.
- Em sợ quá, sợ đủ điều. Sợ luôn cả sự sống.
- Nói tới đâu rồi ? Đừng có tầm bậy.
- Em mất ngủ mấy hôm nay. Nằm thao thức nhìn chai thuốc ngủ suốt đêm như bị thôi miên. Mỗi bận đi tiểu thấy nó ở đuôi mắt, cứ ưa nhào tới ngữa cổ mà tợp hết một hơi cho nhẹ người.
- Đừng có nghĩ quẩn. Đánh đổi mạng sống để sang tới đây, cái giá nó đắt đỏ ra sao thì dân tỵ nạn mình ai cũng biết rồi. Đừng có hành hạ tấm thân mình một lần nữa. Chết trong trường hợp như vậy nghĩ cũng tiếc uổng quá !
- Em khờ dại quá ! Em cả tin quá ! Mà cũng may em còn có chị ở đây...Chị nhớ không ? Gặp nhau ở trại tỵ nạn. Làm một chỗ ở xưởng sản xuất máy sấy tóc nơi Kow-Loon. Đi khám sức khỏe bên Hồng Kông bằng xà lan và sau này thì chị em mình dành chỗ ngồi gần nhau trên chuyến bay vượt ngàn trùng sang đây. Đã có cái duyên gì đó chứ không đùa đâu.
Sương mệt mỏi khi nghe kể lại một chặng đời đầy sóng gió. Sương ghét sự kể lể. Tại sao trong lúc nẫu ruột này cô ấy nhớ làm chi những cái cần phải quên đi. Nhớ vanh vách từng chi tiết nhỏ nhặt.
- Em khó mà quên được hình ảnh mỗi tối hai đứa ngồi giữa sân cát ngữa mặt ra coi phim chưởng. Em mua sữa đậu nành, vừa đi vừa thắc mắc tại sao chị không thích được mối tình của Dương Quá và Tiểu Long Nữ...
Sương dấu tiếng thở dài. Đã thực sự chấm câu chưa ? Sao cô không kể tiếp, chính cô đã dạy cho tôi những bài học vỡ lòng ở cái chốn lạ lẫm đó.
Lí tù xẻn ùm xẻn dành ? Ở đây có nhận người làm không ?
Dách dật xám xập mánh dậu phàn. Một ngày ba mươi đồng có cơm ăn trưa.
Kẻ tố xịn ? Bao nhiêu đồng ? Tố chề. Cám ơn. Ô niu là đi đái. Phành cào đi ngủ. Mà tiểu lị là ...là...Fuck you. Sương chửi trong đầu.
Nếu đặt trường hợp ngược lại, Sương sẽ hà tiện lời nói hơn. Em ơi, tụi mình coi như đã có khi ngồi chung trên một chiếc thuyền. Giờ thì thuyền chị bị hải tặc làm chìm, em quẳng cho chị một sợi dây họa may chị bò được lên bờ run rẩy nghe ngóng. Tụi mình như sống vào đời Minh đời Thanh bên Tàu. Hấy ùm hầy à ? Có phải không ? Có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu.
Sau đó buồn tình Sương hứa giúp những gì hữu hạn nằm trong đôi bàn tay không có móng nhọn của mình. Nghĩa là đừng có bắt nàng đi gặp tên đàn ông trở mặt kia mà lô cồ thịnh nộ rống lên câu cải lương, lá phải rụng về cội nếu không thì chẳng Lan thì Điệp thế nào cũng có người đồi thông một mộ. Sương giúp mặt tinh thần, giúp luôn cái thể xác đang rãnh rỗi của nàng. Có gì thì mình trông giữ cháu, phụ cho một tay đỡ đần.
Sau đó thì Bồ Câu ra đời, đẻ bọc điều.
Sương giữ tròn lời hứa. Đứa nhỏ cũng dễ thương. Chưa chi mà thần sắc như có tiềm ẩn chút hoang đàng chút bướng bỉnh. Nghĩ cũng lạ. Chỉ là một lời hứa nói trong miễn cưởng. Thi hành nó với cả sự bực mình ban đầu. Khóc lóc dỗ dành hết mẹ tới con. Bị phân chia và tước đoạt những thì giờ nhàn hạ vốn eo hẹp...nhiều thứ xáo trộn, vậy mà lần hồi cũng nảy sinh được thứ tình cảm bất ngờ, tới rón rén khi nào chẳng hay.
Đôi khi đi làm về, mở cửa vào nhà vắng lặng, Sương nhớ tiếng cười trong vắt của Bồ Câu, nhớ mùi da thịt mịn màng đẫm ngọt mùi sữa của đứa bé. Đôi môi mọng đỏ luôn trơn ướt. Hôn vào đó thơm một hơi thở tinh khiết và Sương đón nhận một xúc cảm khó giải thích.
Có đêm, mẹ Bồ Cậu bận việc gì thật đột ngột, như gió cuốn, chạy băng băng lên những bậc cấp vang dội nhịp giày cao gót rầm rộ trong khu chung cư ngủ sớm mọi tiếng động. Cô đưa trước tiền công giữ Bồ Câu ở tuần sau, trao đứa bé vào tay Sương với dồn dập một mùi nước hoa thơm ngát . Môi son loáng ướt màu hồng hôn nhẹ một bên má : Ngoan nhé, mẹ về liền. Rồi tất bật như khi đến, cô biến mau bằng cách gieo lại những âm thanh thật bất thường, thật bất an.
Sương ôm Bồ Câu vào giường giỗ lại giấc ngủ cho nó. Những con số biến đổi thật mau trên mặt đồng hồ. Đứa nhỏ nằm mở mắt trong bóng tối. Mẹ con xạo quá há. Giờ này mà cũng chưa chịu về. Sương nhìn ra chút tội nghiệp phủ chụp quanh người Bồ Câu. Nàng quàng tay vỗ về, xua đuổi nỗi cô đơn vừa tới nằm kề bên người mỗi đứa. Sương kể chuyện cổ tích có cô công chúa ngủ trong rừng. Như thầm nói cho nàng nghe, giỗ dùm nàng giấc ngủ khó. Tuổi của Bồ Câu chưa cần phải dùng tới phương pháp đó. Một chuyện tình lâm ly bi đát hơn tưởng cũng không có ma lực hấp dẫn gì để lọt vô đôi tai mới xuất hiện chín mười tháng trên cõi đời chật chội những tiếng động. Rồi con sẽ lớn. Cô không tin tưởng mấy vào mẹ con. Vết thương chưa liền da đã vội chạy đi nắm một con dao khác.
Con là đàn ông phải cứng rắn. Luôn suy nghĩ trước khi bắt tay vào một việc làm, dẫu công chuyện ấy không làm phương hại tới ai. Phải có trách nhiệm và biết phục thiện...Sương ngáp đến chảy nước mắt. Chừng đó đủ để gây cho người đàn bà nỗi hạnh phúc lớn lao.
Khi mẹ Bồ Câu đến đón, hương hoa trên người đã nhạt phai. Đứa bé ngủ say trong vòng tay ôm giá lạnh trời đêm của mẹ nó. Sương cười buồn. Không hiểu sao tối nay mình khô hơi rát cổ với nó dữ.
Thái độ cô ấy bỗng dưng trông ngượng ngập, có vẻ mất đi nhiều tự nhiên. Lúng túng và hiểu lầm câu nói của Sương. Đừng có chướng nghe, lần sau mẹ cho ăn đòn đấy...Cô quay lưng. Những bước chân nghe được sự rã rời, nhẹ và không đều tiếng vang. Sương biết sẽ có ngày, chân đi lóc cóc của cô ấy sẽ bước mỗi lúc một xa, xa hẳn nàng.
- Em xin lỗi chị. Hồi hôm thằng Bồ Câu bị sốt nên em không dám mang tới quấy rầy chị. Nó chướng và khóc suốt đêm.
- Mình cũng đoán thế. Sao không điện thoại báo cho mình biết một lời ?
- Em không hở tay được với nó. Thật khổ ! Con nít như một cái hàn thử biểu, rất nhạy và dễ đau ốm.
- Mưa gió thất thường. Tuyết đã rơi lác đác. Người lớn như tụi mình cũng phải đổ bệnh thôi !
Trong ống nghe, có tiếng gió chạy đi u u. Không, chẳng phải vậy. Tấm màn đen đang vén lên và Sương thấy được ngoài trời lồng lộng những ngã đường xoáy gió. Sự yên lặng chìm sâu có giữa khoảng cách hai nơi của một đường giây điện thoại đang nối kết. Cô ấy như bận việc gì ở bên kia ? Tiếng thì thầm rất nhỏ, hình như vậy. Bàn tay ai đó đang dùng muổng để khuấy những vòng tròn lanh canh trong ly thủy tinh.
- Bồ Câu còn thức hay sao ?
- Đâu có. Nó mới ngủ...chị Sương.
- Hả ? ...có ẳm nó đi bác sĩ không ?
- Chị biết không, hồi trưa em gặp lại ba của thằng Bồ Câu. Thằng chả giả lờ, từ chợ Việt cắm cúi đi một lèo ra xe hơi.
Sương nhìn những hạt tuyết nhỏ bay loạn xạ bên ngọn đèn đường. Tuyết sẽ trắng nếu đừng lọt vô vùng sáng bệnh hoạn ấy. Cái màu gì mà vàng xỉn, không thấy ấm thêm chút nào, chỉ khiến Sương nhận ra một nỗi buồn lan man. Sắp thêm một tuổi nữa rồi. Thấy hoa mai hoa đào thì may ra, bông tuyết vốn là biểu tượng của sự đe dọa, của tàn úa.
- Trên xe có chở một con tóc vàng. Mắt xanh ngó chăm em, miệng nhai kẹo cao su mà tưởng như đang chửi mình đồ ngu. Thiệt ứa gan.
- Đừng nói vậy. Đừng suy diễn những chuyện xét ra chẳng đáng gì.
- Nếu chị là em thì chị nghĩ sao ?
- Nghĩ sao là sao ? Thì chỉ biết ngó chứ biết làm gì. Mà bị mù hai con mắt thì tốt hơn.
- Tâm lý con người phức tạp hơn. Em nghĩ vậy...giả dụ thay cái con tóc vàng lạ hoắc ngồi một bên đó bằng đứa bạn mình từng quen biết thì chị có khó chịu không ?
Trong đầu Sương tự nhiên hiện ra hình ảnh một cuốn sách. Người ấy đã tặng cho Sương, chính yếu không phải để nàng đọc giải khuây mười mẫu truyện ngắn có ở trong mà với hậu ý khoe cùng Sương hai ba cái phụ bản vẽ bằng mực xạ của người ấy đã góp công đóng sức với tác giả tập truyện. Ở trang đầu có hàng chữ viết nghiêng đổ ởm ờ : Khi người ta muốn dừng lại, người ta phải biết đạp thắng. Với tôi, tôi không biết điều đó.
Sương nhắm mắt, nàng thở trong điện thoại.
- Mình không biết. Thật tình không biết...Và có lẽ, mình chỉ đáng là đứa cần phải học hỏi thêm ở người khác nhiều điều.
- Chị nói có quá đáng không ?
- Thật đó. Như mai này mình sẽ hỏi bạn cảm giác khi mang bầu nó tròn méo ra sao, sinh con nó đau đớn như thế nào. Có lôi tên cha đứa bé ra mà chửi rủa trong khi xoạc chân rặn tới đỏ mặt tía tai.
Sương nghe tiếng cười ở bên kia dội vào tai. Tiếng cười nửa thích thú mỉa mai, nửa ê chề gượng gạo. Nàng nhìn đồng hồ, công việc mệt mề sáng mai ở sở làm như biết hiện lên đôi mắt cau có ở những con số để giờ này trợn tới nàng, răn đe bắt nạt dọa dẫm.
Sương chào tạm biệt, chúc người ở xa một giấc ngủ ngon rồi gát máy. Ai sao mình vậy, buồn vui là lẽ thường của đời sống. Mấy ngày xuân mà phải lội tuyết đi làm thì cũng chẳng còn thứ nỗi niềm nào để mà than thở. Âu đó cũng là lẽ thường của trời đất Tây phương cực lạc này thôi.
Như thông lệ. Đi làm về, tất bật từ ngoài đường xô cửa bước vào, cái hộp thư nằm ở một chỗ ấm cúng luôn là thứ rào cản cuối cùng trong ngày của Sương. Nàng lấy chìa khoá cầm ở tay, thầm đánh cuộc với chính mình. Có khi nhắm mắt lại như xin một điều mong muốn luôn khát khao. Và nắp hộp thư được mở ra. Điều ước vốn là cái gì thật quý giá, không thể cho khơi khơi được. Phải ăn ở hiền lành, phải dầy công tu tâm, phải có thần tiên linh tinh đủ thứ, và tiên quyết phải sống lùi lại ở quá khứ. Càng lạc hậu càng tốt, đi gần tới thời kỳ ăn lông ở lổ lại càng linh nghiệm hơn.
Hôm nay chỉ vỏn vẹn có một cái bì thư vuông vắn. Trắng lốp nằm lẻ lỏi không hứa hẹn được gì nhiều. Sương đi lên những bậc cấp quen thuộc, chẳng sợ té khi dán mắt vào phong thư. Nàng mở cửa phòng trọ, đóng nó lại bằng lưng. Dưng chìa khoá để rọc bao giấy. Thẩy cái túi đeo vai nặng nhọc xuống nền nhà.
Chị Sương,
Em quả đắc tội với chị. Em biết chị thương và coi em như một đứa em chịu nhiều bất hạnh. Em biết chị mến Bồ Câu, cưng chiều không khác một đứa con "đỏ mặt tía tai " đẻ nó ra...Nhưng em không biết làm sao hơn là cắn răng bỏ trốn chị. Còn chút lòng nào, thì xin chị lấy đó mà tha thứ hỉ xả cho em. Em vừa đến thành phố này một tuần. Anh ấy là người độ lượng, có tất cả mọi thứ em cần. Em vẫn nhớ chị từng khuyên em, đã lâu rồi : Trong đời sống, người ta không thể mỗi bước mỗi đi thụt lùi được. Chị Sương ơi, em đã trút bỏ được mặc cảm để bước lần tới sự vững chải. Bước đi đó có thể làm em đánh mất chị vĩnh viễn. Em vừa là người sung sướng vừa là đứa đau khổ.
Năm mới đã tới, nguyện cầu cho chị ở lại thành phố đó được vạn điều lành và sớm gặp người bầu bạn trung thành.
Em của chị
Một chữ ký ngoằn ngoèo không đọc ra tên. Gấp nó lại, phía trước là một bức tranh màu nước vung vãi những đóm màu nhoè nhoẹt. Vẽ tuỳ tiện, cẩu thả nhưng còn nhận đoán ra những nụ hoa bị tuyết vùi dập làm cho tan tác, nhàu nát ra. Phía dưới có bốn chữ Cung Chúc Tân Xuân. Sương nhắm mắt giây lâu. Chỉ có mù loà Sương mới vĩnh viễn không còn nhìn ra nét chữ của người ấy. Vả lại, bức thư lạ thường được viết trong tấm thiệp chúc Tết đó như ngầm xác tín một chuyện khó tin.
Sương bước ra ngoài hành lang. Những ngọn đèn nê ông có cái mờ đục cố nháy sáng một cách tuyệt vọng tàn hơi. Nàng mở ngăn kéo, chỗ mà người ta vẫn dùng để thẩy những bao rác nhỏ xuống bên dưới. Ở tay cầm trơn nhờn và ô cửa sắt kia lạnh toát một nỗi khó chịu. Một con sư tử nhồi bông tính "lì xì" cho thằng Bồ Câu. Tấm thiệp hoa hòe hoa sói vừa nhận. Cuối cùng là cái khung ảnh đen trắng của người đàn ông "đã chết thực sự". Đồ vật rơi xuống nghe rõ đường di chuyển trắc trở để giây lâu sau là cả một nỗi bàng bạc không động tĩnh, như phía dưới chân đứng là hụt hẫng cái hố sâu không đáy. Sương rùng mình. Tiếng rỉ sét kêu đến kiêng răng khi nấp đậy được đóng lại như cũ.
Có ai ở bên dưới lòng đất vội ném ngược vào lòng nàng một tảng đá băng ? Sương ôm ngực thì thầm Chúc mừng năm mới.
Hồ Đình Nghiêm
1992
-----------------------
Nguồn : VĂN Số 117, tháng 3-1992
Sunday, June 12, 2016
LÃO GIÀ VỚI ĐÔI CÁNH KHỔNG LỒ
GARCIÁ MÁRQUEZ
Tác phẩm gần đây nhất của Gabriel Garcia Marquez, Love in the Time of Cholera, được dịch sang Anh ngữ và xuất bản đầu năm 1988, có tên trong danh sách những quyển tiểu thuyết bán chạy nhất ở Hoa Kỳ trong hơn một năm; rồi ấn bản bìa mỏng có tên trong danh sách cùng loại đến nay đã sang tuần lễ thứ ba mươi.
Sinh năm 1928 tại một tỉnh nhỏ ở Colombia, Márquez viết báo khi còn theo học luật khoa rồi sau đó bước sang địa hạt truyện ngắn và tiểu thuyết. Mãi cho đến năm 1967 ông mới được biết đến như là một khuôn mặt nổi bật nhất trong nền văn học Mỹ-La Tinh đương thời với quyển tiểu thuyết thứ tư,
One Hundred Years Of Solitude (bản Anh ngữ năm 1970). Tác phẩm này được dịch ra ít nhất ba mươi ngôn ngữ và đã bán hết năm mươi triệu bản.
Năm 1982, Garcia Marquez nhận giải Nobel văn chương. Trong lễ trao giải, Hàn Lâm Viện Thuỵ Điển tuyên dương ông "Về những truyện dài và truyện ngắn mà mộng với thực kết hợp với nhau trong một thế giới tưởng tượng được soạn dựng một cách phong phú, phản ảnh đời sống của cả một lục địa và những xung đột...Với những tác phẩm của ông Gabriel Garcia Marquez tạo một thế giới của riêng mình - thế giới thu nhỏ của ông. Loạn động và ngơ ngác, nhưng thế giới ấy thuyết phục chúng ta tin nó phản ảnh được đậm nét trung thực một lục địa cùng với những thừa thãi và thiếu thốn nơi con người sống trên đó ".
Truyện ngắn viết cho (hay viết về ?) các "trẻ con" dưới đây có thể được coi như một ví dụ thêm vào lời tuyên dương trên.
Mưa được nửa tuần lễ thì hai vợ chồng giết được nhiều cua quanh nhà quá nên Pelayo phải vượt qua một khoảng sân ngập nước để vất xác cua ra biển. Đứa bé mới sinh bị sốt cả đêm, hai vợ chồng cho là tại mùi cua chết. Từ thứ ba cả thế gian u ám. Biển và bầu trời liền lại với nhau thành một màu xám tro. Cát trên bãi biển, vào những đêm tháng ba là những hạt bột lấp lánh, bây giờ trở thành món cháo đặc nấu bằng đất bùn với vỏ sò vỏ cá. Khi Pelayo từ bãi biển trở về nhà, ánh sáng buổi trưa yếu ớt làm anh không nhận ra được vật gì đang cử động và rên rỉ ở cuối sân. Anh phải đến thật gần, thì ra đó là một ông già, một ông rất già, nằm gục mặt vào đất bùn đang cố gắng hết sức cũng không đứng lên được vì đôi cánh khổng lồ của ông xệ xuống mặt đất.
Hoảng hồn vì gặp phải ác mộng, Pelayo chạy đến với vợ là Elisenda đang lấy nhiệt độ cho con, và lôi vợ ra cuối sân. Hai anh chị đứng như trời trồng, há hốc miệng nhìn cái thân hình nằm thẳng cẳng trên mặt đất. Ông già phục sức như người đi nhặt giẻ rách, mấy sợi tóc bạc lơ thơ trên chiếc sọ hói, vài cái răng trong miệng, và ông cố nội ướt lóp ngóp này bị tình cảnh bi đát cuỗm hết tất cả những phong thái của một ông cố. Hai cánh diều hâu khổng lồ bẩn thiểu, lông bị mất một nửa, mắc kẹt trong bùn.
Hai vợ chồng nhìn sát vào ông lão một lúc lâu đến quên cả sợ và cuối cùng thấy ông lão trông quen quen. Cả hai hỏi chuyện thì ông trả lời bằng một thứ tiếng lạ tai ồ ề như giọng thủy thù. Thế là anh chị quên khuấy đôi cánh đang mắc nạn và vội vàng kết luận ông lão là nạn nhân duy nhất sống sót sau khi một chiếc tàu ngoại quốc bị bão đánh bể. Dù vậy họ cũng gọi bà hàng xóm biết hết mọi chuyện của người sống và kẻ chết sang xem. Chỉ cần nhìn thoáng qua, bà cho hai vợ chồng biết là họ đã lầm.
"Thiên thần đấy" . Bà hàng xóm bảo. " Chắc thiên thần đến với cháu bé. Nhưng khổ, già khụ thế này nên bị mưa quật ngã".
Hôm sau mọi người đều biết có một thiên thần bằng xương bằng thịt bị giam trong nhà Pelayo. Bà hàng xóm thông thái phán xét rằng thời buổi này thiên thần là những kẻ chạy trốn để khỏi bị trừng phạt vì những âm mưu phạm thượng trên thiên đường; nhưng mọi người chống lại bà, không ai nỡ cầm gậy phang ông lão. Cả buổi chiều Pelayo cầm cây dùi cui cảnh sát đứng trong bếp canh chừng ông lão, và trước khi đi ngủ anh lôi lão vào nhốt chung với lũ gà trong chuồng bằng dây thép.
Nửa đêm lúc tạnh mưa thì Pelayo và Elisenda vẫn còn đang giết cua. Sau đó không bao lâu đứa bé thức dậy, hết sốt và đòi ăn.
Hai vợ chồng thấy tội nghiệp ông lão, bèn đặt ông lên một chiếc bè cùng với nước ngọt và thức ăn đủ cho ba ngày rồi phó thác số mạng lão cho biển cả. Nhưng mới sáng tinh mơ hai vợ chồng ra sân thì thấy cả xóm bu lại trước cửa chuồng gà đang chọc ghẹo thiên thần. Không kiêng nể chút nào, người ta vất đồ ăn vào chuồng gà qua những khe thép làm như ông lão không phải là một sinh vật siêu nhiên mà là một con vật trong gánh xiệc.
Cha Gonzaga giật mình vì tin lạ lùng, đến nơi trước bảy giờ. Lúc này bà con xung quanh chuồng gà không còn bỡn cợt như hồi sáng tinh mơ, mà đang đưa ra mọi dự đoán về tương lai của tù nhân. Kẻ có đầu óc đơn giản nhất chắc ông lão sẽ được bầu làm chủ tịch của cả thế giới. Những người chín chắn hơn thì cho là ông sẽ được phong thống tướng để đánh thắng tất cả mọi mặt trận. Vài người không thực tế thì lại hy vọng ông lão sẽ gây giống cho địa cầu một giống người có cánh thông minh làm bá chủ cả vũ trụ. Nhưng Cha Gonzaga, trước khi trở thành tu sĩ, là một thợ đốn củi lực lưỡng, đứng bên rào thép vài phút ôn lại những câu hỏi đáp trong sách giáo lý rồi truyền mọi người mở cửa để cha nhìn rõ con người khốn khó trông nhiều phần giống con gà cồ cao niên xơ xác giữa những bé gà óng mượt khác.
Ông lão nằm trong góc phơi cánh ra nắng bên đống vỏ trái cây và đồ ăn thừa người ta vất vào lúc sáng sớm. Đã quen với thói khinh mạn của thế gian nên khi cha Gonzaga bước vào chuồng gà chào bằng tiếng La Tinh, ông chỉ giương hai con mắt cổ lỗ sĩ lên rồi lầm bầm trong miệng một thứ tiếng riêng. Cha xứ nghi ngay đây là một thiên thần giả hình khi thấy ông lão không hiểu ngôn ngữ của Thiên Chúa mà cũng không biết chào kính vị thừa sai của Ngài. Rồi cha thấy, nhìn kỹ thì ông lão rất giống người thế gian: mùi thân thể ngoài nắng khó ngửi, bùn đất bám đầy trên cánh và những cọng lông lớn cũng bị gió trên mặt đất làm cho xơ xác. Rồi cha ra khỏi chuồng gà và bằng một bài giảng ngắn cảnh cáo những người tò mò về mối hại của sự giả hình. Cha nhắc nhở mọi người rằng ma quỷ hay dùng những chước xác thịt để đánh lừa những người thiếu tỉnh giấc. Cha lập luận nếu đôi cánh không phải là yếu tố để phân biệt một con diều hâu với một cái máy bay, thì đó càng không phải là yếu tố để xác định một thiên thần. Dù sao, cha hứa sẽ viết thư trình sự việc lên giám mục để giám mục sẽ trình lên Giáo Hoàng và sẽ có sự phán quyết tối hậu.
Sự dè đặt của cha rơi vào tim những kẻ cứng lòng. Tin thiên thần bị bắt truyền đi nhanh đến nỗi chỉ vài giờ sau khoảng sân sau nhà vụt trở thành một khu chợ, quân đội với lưỡi lê được gọi đến để đuổi bọn cướp tính kéo sập căn nhà xuống. Elisenda muốn trẹo xương sống vì phải quét rác chợ, rồi chị nảy ra ý rào mãnh vườn lại và đòi mỗi người vào xem thiên thần phải trả năm xu.
Những người tò mò từ phương xa tuôn đến. Một gánh xiệc rong cũng có mặt. Gánh xiệc có một người đu bay vù vù mãi trên đầu đám đông nhưng chả ai thèm để ý vì hai cánh của hắn không phải cánh thiên thần mà giống cánh dơi hơn. Những người bệnh tật nặng nhất trên thế gian đến cầu xin sức khỏe: một bà đáng thương từ thuở nhỏ đã bắt đầu đếm nhịp tim của mình, đến giờ không còn số để đếm; một ông Bồ Đào Nha bị mất ngủ vì tiếng động do những vì sao phát ra; một người mắc bệnh mộng du đêm nào cũng dậy làm hỏng hết những việc đã làm ban ngày; và nhiều người khác bị bệnh nhẹ hơn.
Giữa lúc mặt đất ầm ĩ bát nháo lên ấy thì anh chị Pelayo rất sung sướng trong khi kiệt sức, vì chỉ mới có non tuần lễ anh chị đã thồn tiền vào đầy mọi phòng trong nhà mà những người hành hương còn xếp hàng dài đến tận bên ngoài đường chân trời.
Chỉ có thiên thần là coi như mình không gây ra điều gì. Ông lão dành hết thời giờ cố nằm cho thoải mái trong cái tổ mượn, hơi nóng hỏa ngục phát ra từ những ngọn đèn dầu và nến phép treo trên rào thép khiến lão ngất ngư. Mới đầu người ta tìm cách để ông ăn mấy viên thuốc dán, bà hàng xóm thông thái bảo đó là thức ăn của thiên thần. Nhưng ông lão phớt lờ mọi người cũng như phớt lờ phần ăn trưa ê hề mỹ vị người ta kính cẩn đệ tới. Cuối cùng ông chỉ chịu ăn cháo bột loãng thì không ai quyết được ông là thiên thần hay chỉ là một ông lão. Có lẽ đức siêu nhiên duy nhất của lão là lòng kiên nhẫn. Nhất là mấy ngày đầu khi lũ gà rỉa mỏ vào cánh gã tìm sâu bọ ăn. Những kẻ tàn tật nhổ lấy lông lão để chạm vào những chỗ tật nguyền trên người, và thậm chí những người hiền lành nhất lấy đá ném vào lão để xem lão đứng lên ra sao. Chỉ có một lần người ta thành công trong việc làm cho lão cựa quậy. Vì lão nằm bất động quá lâu nên người ta tưởng lão đã chết, có người lấy cây sắt nung đỏ chọc vào hông lão. Lão choàng tỉnh dậy, hét lên một tràng tiếng khó hiểu và chảy nước mắt, rồi đập cánh xuống đất vài lần tạo nên một cơn lốc gồm toàn phân gà cùng với bụi vàng và những tiếng la hét kinh hoảng như chưa từng bao giờ có trên thế gian. Dù nhiều người cho rằng lão phản ứng vì bị đau chứ không phải vì giận dữ nhưng từ đó mọi người cẩn thận để lão yên thân vì đa số hiểu rằng đây không phải là một siêu nhân mệt mỏi mà là một sự giận dữ đang nằm nghỉ.
Cha Gonzaga dùng hết mọi phương cách của một tôi tớ tận tụy để ngăn cản sự khờ dại của đám đông trong khi ngài đợi sự phân xử tối hậu về bản thể của kẻ bị giam giữ. Nhưng thư từ Rô-Ma không tỏ vẻ gì là vội. Các vị từ tốn hỏi tù nhân có rốn không, ngôn ngữ của tù nhân có chút nào liên hệ với tiếng Aram không, đương sự có thể đứng trên đầu mũi kim được bao nhiêu lần, hay không chừng đương sự chỉ là một công dân Na Uy có cánh. Những lá thư ngắn này chắc cứ được gửi đến gửi đi cho đến tận thế nếu không có một biến cố từ trời ban xuống chấm dứt sự rối trí của cha xứ.
Xảy ra là trong những ngày ấy, cùng với nhiều đoàn xiệc ngoạn mục, có một đoàn đến thành phố cho dân chúng xem một người đàn bà bị biến thành con nhện vì tội không vâng lời cha mẹ. Tiền vé vào xem không những rẻ hơn tiền vào xem thiên thần mà dân chúng còn được hỏi bà nhiều câu về tình cảnh dị thường và được lục lọi người bà từ trên xuống dưới để không ai còn ngờ sự thực đáng hãi này. Người đàn bà là một con nhện dễ sợ lông lá, to bằng con dê rừng đực với cái đầu của một thiếu phụ nhiều phiền não. Đáng quan tâm nhất không phải là vóc dáng mà là vẻ đau khổ thành khẩn khi bà kể lại sự bất hạnh đã xảy ra. Lúc còn nhỏ có lần bà chui rào trốn nhà đi khiêu vũ, và khi đang qua một khu rừng để trở về nhà sau cả đêm nhảy nhót thỏa dạ không có phép của bố mẹ thì một tia chớp dữ dội xé trời làm hai mãnh và ở giữa hiện ra một cây gậy màu hỏa hoàng biến bà thành con nhện. Bà chỉ ăn thịt viên, món ăn do những người có lòng nhân từ chọn và ném vào miệng. Một cảnh bày ra trước mắt như vậy, đầy sự thực thế tục cùng với một bài học để đời, thì dễ dàng ăn đứt cảnh một thiên thần lúc nào cũng khinh khỉnh với mọi người. Ngoài ra, nhiều phép lạ được gán do thiên thần làm cho thấy thiên thần đầu óc không được bình thường, như một ông mù nọ vẫn không trông thấy được nhưng lại mọc thêm ba cái răng mới, hay một người bị bệnh bại xuội thì lại suýt trúng xổ số, và một người bị bệnh cùi thì trên da lại nở ra hoa hướng dương.
Những phép lạ chữa bệnh ấy, đúng hơn là những trò đùa, làm không ai nhắc đến thiên thần nữa khi thấy người đàn bà biến thành nhện có phần trội hơn hẳn. Đó là lý do cha Gonzaga khỏi tuyệt chứng mất ngủ và mãnh sân sau nhà anh Pelayo trở lại vắng vẻ như lúc mưa được ba ngày và cua bò đầy các phòng ngủ.
Ông bà chủ nhà không lấy thế làm tiếc. Với tiền để dành được họ xây một biệt thự hai tầng có nhiều ban công, nhiều vườn, và có lưới cao để mùa đông cua không bò vào được, và tất cả mọi cửa sổ đều có song sắt để ngăn chận sự xâm nhập của các thiên thần. Pelayo còn lập một trại nuôi thỏ gần thành phố và bỏ nghề làm phụ tá cho cảnh sát trưởng. Còn Elisenda mua một lúc mấy đôi giày cao gót bằng sa tanh và nhiều bộ quần áo lụa kim tuyến, loại quần áo mà các bà được ham muốn nhiều nhất mặc ngày chủ nhật. Chỉ có cái chuồng gà là không ai để ý đến. Nếu nó thường xuyên được rửa bên trong bằng thuốc sát trùng và được xịt thuốc thơm thì không phải vì đó là chỗ ở của thiên thần mà vì mùi hôi hám bay lượn khắp nơi như một hồn ma, và vì nó cứ chực biến ngôi biệt thự mới xây thành căn nhà cũ. Lúc đầu, khi đứa bé tập đi, ông bà cẩn thận không cho nó đến gần chuồng gà. Nhưng họ bắt đầu hết sợ và quen với mùi khó ngửi, nên trước khi đứa bé mọc cái răng thứ hai nó được bước vào chuồng gà chơi qua chỗ hàng rào thép đã bị đổ. Thiên thần không kém lạnh nhạt với nó hơn là với những sinh vật khác mà còn chịu đựng được những ngỗ nghịch với sự kiên nhẫn của một con chó không bị ảo-thị-giác.
Cả hai bị bệnh đậu mùa vật cùng một lúc. Ông bác sĩ săn sóc đứa bé không ngăn được tò mò muốn nghe nhịp tim của thiên thần. Bác sĩ không hiểu tại sao tim ré lên từng chập như thế, còn trong gan thì đầy những tiếng động mà thiên thần lại có thể sống được. Nhưng bác sĩ ngạc nhiên nhất về sự hợp lý của hai cánh. Hai cánh trông thật tự nhiên và hoàn toàn hợp nhân dạng đến nỗi ông không hiểu tại sao những người khác không có cánh.
Khi đứa bé bắt đầu đi học thì cái chuồng gà đã bị mưa nắng làm sụp xuống rồi. Thiên thần kéo Lê mình đi hết mọi nơi như người hấp hối bị lạc đường. Hai vợ chồng lấy cây chổi đẩy ông lão ra khỏi phòng ngủ và một lúc sau thấy ông trong nhà bếp. Hình như cùng một lúc ông lão ở nhiều chỗ nên họ sinh ra ngờ là ông làm được bản sao, là ông tự phân thân đến mọi chỗ trong nhà, và chị Elisenda điêu ngoa quẫn trí hét lên là chị khổ sở hết sức phải sống trong cái địa ngục chỗ nào cũng có thiên thần. Ông lão lúc này ăn kém đi và hai con mắt cổ lổ sĩ bị mờ nên ông cứ đụng phải cột nhà. Trên mình ông chỉ còn sót lại những cọng lông trụi cuối cùng. Pelayo vất lên lưng lão tấm chăn và còn gia ơn thêm bằng cách cho lão ngủ trong nhà kho. Bấy giờ người ta mới biết lão bị sốt về đêm, miệng ú ớ mê sảng như một ông già Na Uy. Đấy là một trong vài lần lão làm người ta lo ngại vì tưởng lão sắp chết và ngay bà hàng xóm thông thái cũng không biết phải làm gì với một thiên thần từ trần.
Vậy mà không những ông lão qua nổi mùa đông mà hình như còn khá hơn vào những ngày nắng ấm đầu tiên. Lão nằm bất động ở góc xa nhất, chỗ không ai trông thấy. Đầu tháng mười thì mấy cọng lông lớn và cứng bắt đầu mọc ở hai cánh, những cọng lông trên mình của một hình nộm, trông giống như một bất hạnh nữa của tuổi tác. Nhưng chắc lão cũng biết lý do của những thay đổi này vì lão cẩn thận hết sức để không ai thấy, để không ai nghe thấy lão thỉnh thoảng hát dưới sao trời những câu hò thủy thủ.
Một buổi sáng trong lúc Elisenda đang thái hành để làm bữa trưa bỗng như có gió từ biển thổi vào nhà bếp. Chị đến bên cửa sổ ngó ra thì thấy lần đầu tiên thiên thần đang cố gắng nhiều lần để cất cánh bay lên. Những cố gắng vụng về để những ngón tay khơi một đường rãnh trên thửa đất trồng rau và suýt làm sập nhà kho với đôi cánh đập vào nắng mà không bắt được chút không khí nào. Nhưng rồi lão cũng hết sức cất mình lên được. Elisenda thở ra nhẹ nhỏm, cho chị và cho lão, khi nhìn lão bay qua những mái nhà cuối cùng, cố giữ để khỏi bị rơi xuống bằng cách bay của một con chim ưng già yếu. Chị nhìn theo lão mặc dù chị đã thái hành xong và chị nhìn theo lão cho đến khi chị không còn nhìn thấy, vì bây giờ lão không còn là phiền nhiễu cho đời chị nữa, mà chỉ là một chấm nhỏ tưởng tượng ở tận chân trời phía bên kia biển cả.
Garcia Marquez
Lê Duy Linh Dịch
Dịch từ "A Very Old Man With Enormous Wings" trong "Leaf Storm and Other Stories by Garciá Márquez". Bản Anh ngữ của Gregory Rabassa. Harper & Row publishers, 1972
-----------------------------
Nguồn : VĂN, Số 93, Tháng 3-1990
Thursday, June 9, 2016
ĐỒNG HÀNH
HỒ ĐÌNH NGHIÊM
Người con gái lấy tay che mặt. Ban đầu thấy vai rung, sau bật thành tiếng khóc. Bên cạnh, gã thanh niên ngồi đưa lưng, lúng túng thắp lửa điếu thuốc. Hắn lầm bầm điều gì nghe không rõ rồi đứng lên, băng qua phía bên kia đường.
Trời đen thui, gió đi qua những bụi cây nghe xào xạc. Có tiếng côn trùng kêu rỉ rả vọng tới theo gió, và tiếng xè xè của một tia nước được bắn xuống mặt đất.
Ngụy thấy lạnh và phát hiện ra cô gái ngồi thật sát mình. Cảm nhận hơi ấm từ phía cô ta đi mon men qua vòng tay để trần đang bó gối. Ngụy đập con muỗi đang cắn hút vào cánh tay thấy ngứa. Vô tình làm giật mình cô gái. Gã thanh niên bên vũng mờ trở lại, vừa đi vừa kéo phẹc mơ tuya quần. Miệng vẫn ngậm điếu thuốc cong queo chưa đốt.
- Đừng khóc nữa. Thua keo này bày keo khác.
Câu an ủi của hắn chẳng có hiệu lực. Ngụy thấy người con gái quẹt mũi vào đầu gối rồi tiếp tục tức tưởi.
- Anh có lửa đó không ?
Ngụy trao cho người hỏi cả hộp diêm. Hắn đánh cái xoẹt rồi bụm tay che. Ngọn lửa sáng làm Nguỵ thấy cặp lông mày nhăn nhíu của hắn, một bên mai không có tóc bởi vết sẹo nằm đó láng trơn. Điều này cho Nguỵ cái cảm tưởng kỳ quặc là bộ mặt hắn trông có vẻ mất thăng bằng, làm mắt phải chú ý tới để nhìn rồi khó chịu. Y như một chiếc xe hàng chất đồ đoàn nặng về một phía. Ngụy bỗng cười vu vơ..
- Nhằm nhò chi mấy ký bột ngọt đó. Má tui đi buôn có khi bị tịch thu hết hàng hoá, rồi đem cả đống bạc vốn liếng đi đút lót xin tha mà ai ngờ cũng bị tụi nó ăn cho sạch sẽ. Đi về còn cái mạng già trơ trụi, chẳng thèm rớt một hột nước mắt.
Câu nói này coi bộ ép phê dữ. Người con gái ngẫng mặt lên nhìn hắn bán tín bán nghi.
- Bả chỉ chửi thôi. Chửi hai ba ngày thấy đỡ ấm ức lại khăn gói ra đi. Tui nói thua keo này bày keo khác là vậy.
Cô gái quay qua Ngụy. Mấy giờ rồi anh ?
- Tôi không có đồng hồ. E cũng tới mười một mười hai giờ đêm rồi cũng không chừng.
Ngụy nhìn lên sao trời lưa thưa như phỏng đoán một con số qua đó. Gã thanh niên chép miệng đằng hắng rồi nhổ nước miếng kêu cái chách, bắn đi đâu đó. Phía dưới dốc, nơi có ánh đèn nê ông tạo thành vuông sáng đâm ngang chặt đứt con lộ đen, ở đó bỗng túa ra đám người xôn xao. Ngụy thấy những vòng thép gai, tấm bảng viết nguệch ngoạc chữ dừng lại mù mờ và sau cùng hai ba tên đeo súng từ trong trạm kiểm soát vừa đi ra vừa xua tay. Chúng nó kéo rào cản để thu hẹp mặt nhựa
hắc ín lổ hê lổ hủng trong khi bóng những kẻ bị xua đuổi ăn xuống đường thành mấy vệt đen loạng choạng nghiêng ngửa trở lại xe.
Ngụy buồn ngủ ngáp đến chảy nước mắt sống. Trong đôi mắt mỏi mệt, hình ảnh vừa thu nhận đó như cho Nguỵ cái ảo giác mình đang " nhìn " cảnh vật trong một giấc mộng, trong một nhắm mắt chập chờn, giữa một cuộc hành trình quá dài không thấy đích tới : quá khốn đốn, căng thẳng và rã rời.
- Đù má, có nhúm cà phê mà tụi nó cũng hốt. Thiệt bực mình.
- Nói đàng hoàng, nói lý lẽ, nói rất biện chứng mà tụi nó cũng dê kêu. Mày thấy không, nhất trung ương nhì địa phương là vậy.
Gã thanh niên nhìn theo hai người trung niên "thọ nạn" . Hắn nhún vai. Biện chứng cái gì giữa đời là bể khổ ? Rồi cười búng điếu thuốc bay xuống lập loè giữa lòng đường.
- Thôi, leo lên xe lại đi. Còn cả chục trạm nữa chứ đã hết đâu.
Hắn tới đu người ở ô cửa bên hông và vào trong xe bằng lối đó. Đôi dép đã mòn vẹt đế của hắn chòi
chòi đạp đạp nơi chữ T.P.Hồ Chí Minh có ai mửa xuống một vệt xám mốc, đã khô nhưng còn mùi hôi chua. Ngụy bắt chước hắn nhưng đu người lên ở khoảng giữa xe, nơi chữ Nha Trang nước sơn đã tróc.
- Anh vào trỏng chơi hay sao ?
Gã thanh niên hỏi khi Nguỵ trở lại ghế của mình.. Người con gái vẫn chưa lên. Lòng xe chật chội quang gánh và người ngợm bắt đầu chèn ép xô đẩy.
- Ừ, có chút công chuyện.
- Cô nhỏ đó cũng tội há ! Phải chi có kinh nghiệm thì khác.
- Có lẽ. Hình như học sinh mới đổi nghề thì phải.
- Chứ gì nữa. Anh không thấy cổ khóc sao ? Chỉ biết khóc mà không biết làm trận.
- Làm trận là sao ?
- Là năn nỉ, là cười tình, là hứa hẹn, là lạy lục. Mà không xong nữa thì vén quần vén áo chửi tán loạn lên.
- Chửi được không đó. Giữ mạng mà đi chớ.
- Thì đã nói là chẳng phải con buôn mà. Anh chưa gặp má tui, bả chửi từ trên xuống dưới, chửi tuốt luốt có ke ai đâu.
- Má anh đã già chưa ? Họ nói thí mạng già là vì vậy. Cô này còn trẻ, chửi ẩu là mệt với tụi nó. Đừng nói gì, đêm hôm khuya khoắt bị giữ ở chỗ đồng không mông quạnh này, bộ không ớn sao ?
- À há. Nghĩ cũng phải. Tụi nó động lòng là tiêu đời hoa.
Ngụy đá vào chân gã ra dấu. Người con gái đang cực khổ len lỏi tới. Tóc rối và mặt mày sưng húp, làm như cô đã khóc bằng cả thất khiếu lục phủ ngũ tạng.
- Này, đường còn dài, cần tụi này giúp gì không ?
Gã thanh niên hỏi, ép người nhường lối cho cô gái vào trong.
- Nói thiệt đó. Giả dụ như còn hàng thì chia làm ba, dấu mỗi người một ít cho chắc bụng. Nhớ lúc trước, má tui làm bà già mang thai mà cũng qua mặt bọn thuế vụ cái rẹt. Chừ bổn cũ soạn lại chứ ngán chi.
Người con gái ngần ngừ, nhìn vết sẹo không mọc tóc của gã ngồi bên, xong lại hướng mắt tới Nguỵ thăm dò.
- Bộ cái bản mặt của tui gian tà lắm sao ?
- Không phải. Tôi chỉ sợ làm liên lụy tới mấy anh.
- Ời, Đừng nói mấy cái lẻ tẻ đó mà mất vui. Tụi mình đồng hội đồng thuyền, khi khổng khi không mua vé ngồi gần với nhau thì coi như đã có duyên tao ngộ... Cũng như bây giờ nói chuyện vô duyên
là xe đò này có chết máy giữa đàng thì tui là người gánh vác xuống đẩy trước tiên. Mình vì mọi người, phát huy quyền làm chủ tập thể. Phải không anh ?
Hắn quay qua Nguỵ đá lông nheo một phát chớp nhoáng. Ngụy lấy thuốc hút cho đỡ lạt miệng, thấy khó chịu với những chữ hắn dùng và thầm sợ tên này mồm mép quá đỗi láu cá. Đòi lại hộp diêm hắn vẫn chưa trả lại rồi thắp thuốc thổi khói xuống đùi mình. Kẹp ở đó, cái túi vải eo xèo đựng bên trong hai bộ quần áo nhàu nát làm hành trang.
- Nếu cô thấy cần, cô tin tưởng, thì tôi giấu bớt cho ít đồ.
- Đó, thấy chưa. Tụi tui thấy cô không nhanh lẹ nên có ý tốt vậy mà. Nếu tui là cô, cứ nhờ vả ngay từ lúc khởi hành thì chuyện đã đâu đến nỗi.
Người con gái vẫn chưa quyết, dấu chút bối rối bằng cách moi ở túi áo cụt ra ve dầu Nhị Thiên Đường, vặn mở nút nhựa rồi đưa lên mũi hít hít. Gã thanh niên chừng như không tha, sẵn đó ngưỡng tay xin tí dầu thoa cho đỡ gió máy. Hắn nói vậy rồi đưa ngón trỏ bịt lấy miệng ve dầu lúc lắc, bôi bôi bên thái dương trơ trụi tóc.
- Có dạo má tui biểu đi theo phụ một tay. Xe chạy êm thắm dư sức qua cầu ai dè giữa đường tụi nó đặt khơi khơi một trạm kiểm soát để chận bắt con buôn. Đột ngột trái phép bất tử vậy mới chết người. Má tui quýnh quá không biết dấu đâu cho hết biểu tui ôm bớt Đống hàng nhảy đại xuống xe. Tui cũng quýnh theo bả, ừ nhảy thì nhảy, ba mươi sáu kế thượng sách nhất là kế đi tản. Xe từ từ tắp vô lề, tui phóng chúi nhủi xuống đường ôm hàng chạy le te. Tụi nó hô đứng lại nhốn nháo rồi nổ súng loạn xạ...
Vậy mà chuyến đó tui yên hàng về được thành phố trót lọt. Nói có ai tin không? Cái sẹo này là kỷ niệm nhớ đời. Mẹ ơi ! Chẳng biết vì đụng đá sạn giữa đường khi té xuống hay đạn AK đuổi theo vi vút cũng phải nể mặt thằng điếc không sợ súng này. Từ đó má tui chừa mặt tui luôn, nói cái gì...Phước bất trùng lai họa vô đơn chí. Vậy chớ tui tâm nguyện mai sau có lấy nhằm mụ vợ đi buôn chắc tui phải ra chốn sa trường gác đờ co cho bà xã quá.
Hắn cười hề hề. Nhét ngón tay còn dính dầu vào trong lổ mũi ngoáy ngoáy tận hưởng "tàn dư" của hơi hám chất nước nồng cay.
Ngụy tính hỏi đùa vậy chớ lỡ bây giờ cô gái giao cho hắn giữ ít đồ hắn có định "di tản" lần nữa không. Định vậy nhưng thôi, xe đã bắt đầu nổ máy bằng những tiếng gầm gừ. Máy từ thời nào lao động tới giờ nên tiếng nổ nghe hục hặc dữ dội. Những cây hương thắp đàng sau kính chắn gió, bên cạnh người lèo lái, cắm đứng trong cái vỏ đạn đồng run rẩy như giữa nghĩa địa có cuồng phong. Ngụy nhìn tới, nghĩ không ra sự dị đoan thầm kín nào của chủ chiếc xe tội nghiệp này. Mong được an toàn xa lộ ? Cầu xin đường dài thu bớt cản trở khó khăn, hoặc từ khó khăn lơi đi cho đôi phần dễ dãi.
Mấy cái bánh mòn bắt đầu nghiến sỏi lăn ra bờ lề, trước mỗi một di chuyển, sau đít xe có tiếng đập rầm rộ và ai đó gióng lớn tiếng hò hét : tới luôn bác tài. Ngụy có ý tưởng về cái thông lệ như một điệp khúc đó, là chiếc xe đã thành một con trâu để biết nhận cái đau từ tay vỗ, biết nghe chừng ấy tín hiệu để rục rịch uể ải lên đường. Cày dài cái luống quốc lộ một tang thương màu cờ đỏ nhiều vướng mắc từ Trung vào Nam. Quê hương thống nhất, hai chữ Chạy Suốt viết sơn trắng bên mỗi chiều dài
thân xe không khi nào giữ lời cho con trâu già mệt nhọc kia được yên ổn đi một lèo yên thắm.
Ngụy thử dỗ giấc ngủ nhiều lần, nhưng vừa chợp mắt đã nghe tiếng máy khò khè thắng đứng lại và sau đó tiếng khóc tiếng chửi tiếng tả oán tiếng hâm dọa đồng loạt dấy lên. Ngụy thường nhìn ra cảnh vật tiêu điều bên ngoài mỗi bận xe đứng, lòng mong vô cùng cái thành công của chuyến đi thứ hai. Cuộc hải hành xin được thuận buồm xuôi gió để đem Nguỵ tới một miền đất lạ. Xa súng ống xa ngược ngạo xa dối trá xa cướp đoạt.... và sẽ chẳng còn nhìn nghe những điều chướng tai gai mắt. Ngụy lim dim...
- Bộ tính tranh thủ riu riu ngủ bù sao anh ? Đường dài lắm mộng, thức để nói chuyện với nhau cho vui có phải hơn không. Lại còn để người đẹp nhờ nữa chi.
Sau câu nói của hắn, xe chạy ngang một ổ gà dằn xóc đến ê đít. Ngụy nghe heo kêu en éc trên trần xe và gần gũi đâu đó tiếng vịt cạp cạp xướng họa "đồng khởi" . Át hết mọi thứ tiếng là giọng ai đó the thé chửi rủa về một món hàng treo không rõ từ đâu bỗng rớt xuống giáng họa trên đầu.
- Mồ tổ cố nội bây, bộ tính giết người không gươm dáo chắc ?
Cái gói hàng "gây sự đầu tiên" kia được ném đi liền khi, ném không thương tiếc và chẳng thèm dòm trước trông sau để kéo theo trận bóng chuyền kỳ cục với những tràng chửi rủa được bắn liên thanh. Bắc Trung Nam ba miền đều có bí cấp tuyệt chiêu riêng biệt. Không hĩm thì tôm he, chẳng bướm thì lá đa. Mà lá đa không chịu thì cái của quý nhà bà.
Gã thanh niên vòng tay, quá quen thuộc hay sao mà bộ mặt hắn tỉnh queo điềm nhiên tọa thị. Ngụy nhìn sang cô gái bắt gặp đôi mắt lớn mỏi mệt hướng tới phía mình. Ngụy nghĩ trong đầu và "nói" bằng mắt : Nản quá phải không ? Cô gái cúi đầu như phủ nhận. Nản chưa đúng, trần sanh kinh khủng
như Tam Tạng đi thỉnh kinh e rõ ràng hơn..
Xe bỗng dưng cà giựt chạy chậm lại. Một giọng nói hốt hoảng cất lên có hiệu lực làm chận đứng và đánh dạt những ngọn sóng võ mồm.
- Công an bộ đội đứng chận cả bầy nơi kìa, liệu mà ở đó mắng chửi nhau.
Im lặng hết thảy. Bắp rang hết nổ. Trật tự tái lập liền khi. Ngụy thoáng thấy nét mặt bất an hiện đầy khi cô gái ngẩng mặt, đầu tóc rối với một nhón chân lên trông chừng ra trước gương. Ở cái màn ảnh chật vật ấy đóng khung một rào cản bằng người đứng lố nhố đưa tay múa may giữa đường biểu xe dừng lại. Và hai ngọn đèn pha của xe đâm thọc bóng đêm đen kịt làm nỗi rõ những tên lăm le súng ống. Heo lại rên rỉ trên trần xe, có bước chân dẫm mạnh làm dội xuống lòng xe những đe dọa mới, âu lo không thành lời.
Ba cái nón cối lộ diện ở cửa lên xuống. Mấy nòng súng lách cách lạnh lùng đi lên. Ánh đèn pin quét hỗn xược vào từng mặt hành khách đã nguôi lắng trận xung đột vừa rồi. Ngang dọc, quay cuồng, từ trước lui sau. Cái luồng ánh sáng gần nhất dừng yên trên mặt gã thanh niên hồi lâu. Người cầm đèn đã soi thấy vết láng bóng.
- Giấy tờ đâu ?
Gã thanh niên cực khổ moi được từ túi quần ra một miếng giấy mỏng gấp làm tám trao tay người hoạnh hoẹ.
- Công nhân đường sắt đi đâu đây ?
- Dạ bị tai nạn lao động sau kế hoạch thi đua nên được phép vào thăm gia đình.
Vết sẹo còn mới với màn da non màu đỏ có lẽ chứng minh hợp lý cho câu trả lời của hắn hơn là cái mộc lem luốc đóng ịn vào chữ ký lăng quăng trên tờ giấy bẩn. Và cũng có lẽ vì vậy mà đến phiên Nguỵ hứng đầy ngọn đèn bấm được chiếu thẳng mặt chói chang.
- Công nhân viên của Bộ Y Tế tỉnh Bình Trị Thiên đi công tác à ?
- Phải.
- Anh tên gì ? Nguyễn Văn ...gì ?
- Nguyễn Văn Nguỵ.
- Trước đây có đi lính có tham gia đánh phá cách mạng ngày nào không ? Đưa giấy chứng minh nhân dân ra xem.
Ngụy trình thêm miếng giấy bọc nhựa. Thấy lại cái hình đen đúa lơ láo mặt mày ép bên dưới, ở trên nặng nề hai nhánh lúa có búa liềm có sao vàng đè xuống với hàng chữ Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc . Ngụy nhìn thẳng mặt kẻ mặc đồ vàng. Không riêng gì cái ảnh chụp đỡ đâu đó, bây giờ tôi đây cũng láo liên bần thần dầu trên đầu chỉ có heo nằm trong rọ thống thiết kêu đến khản tiếng.
Người cầm giấy tờ, cầm đèn, cầm súng biểu Nguỵ ngồi vắt chân lên cho hắn dọi đèn săm soi. Ngụy nghi hoặc làm theo, không khi nào ngờ tới có ngày bàn chân tội nghiệp quen tản cư chạy giặc của mình lại có kẻ tò mò muốn xem. Ngụy nghĩ rồi có một lúc nào đó, ở thành phố chắc xuất hiện lắm ông thầy bói ngồi trải chiếu thử xin đăng ký môn bài xem chỉ chân. Vận mạng con người đã hết linh nghiệm trên đôi bàn tay ? Đã vượt biên xuống chân. Những bàn chân vào trại tù, đi vùng kinh tế mới, chạy tất tưởi kiếm miếng ăn, hay chạy bán sống bán chết ra điểm bốc để bước phiêu dạt xứ người ? ? ?
Ngụy muốn thở dài thành tiếng khi ánh đèn tắt đi. Đón lại giấy tờ tuỳ thân từ bàn tay lạnh ngắt sần sùi. Cô gái cũng lấy đó làm vui, nhìn thân xác kia quay lưng để hoàn hồn trở lại.
Gã thanh niên huýt lên một tiếng sáo : tới luôn bác tài. Vậy mà trùng hợp, xe chạy thật. Mọi người lại nhốn nháo đề tài mới. Không rõ họ muốn cái chi mà chỉ quan tâm dòm ngó đàn ông con trai. Một giả thuyết được đưa ra mà Nguỵ thấy đáng tin nhất : trại cải tạo nào đó có tù bỏ trốn vượt ngục. Gã thanh niên thì thào. Biết đâu chừng họ lùng bắt mấy ông phục quốc. Hồi nãy, bàn chân anh mà có vài chỗ bị chai thì coi như tiêu đời trai. Hắn đổi giọng làm ca sĩ...lính mà em...Rồi bổn cũ soạn lại với cô gái.
- Hồi hộp quá ! Tui thấy mặt cô xanh lè mà muốn đứng tim theo. Đã nói là cứ bình chân như vại, đưa mỗi người một ít thủ trong bụng thì phần thắng ắt về ta. Đường đời còn nhiều cạm bẫy chứ đã hết đâu.
Cô gái coi bộ xiêu lòng. Hắn nói văn vẻ như vậy thì biểu sao cô ta chẳng nghe. Vừa văn hoa vừa nhiều kinh nghiệm lịch lãm. Ngụy đâm đòn gánh vào bánh xe :
- Bộ ông là công nhân đường sắt thiệt sự à ?
- Ôi da...Chỗ anh em mới nói nghe. Có khi tui từng giữ chức cán bộ cung ứng vật tư, rồi buồn đời làm Tổng Cục Hoá Chất chơi dăm ba bữa. Đổi nghề lia chia, đổi đều chi trước cái lúc ăn sẹo vô mặt. Bây chừ xí trai đành nhìn đời hiu quạnh đóng vai công nhân đường rầy.
Cô gái đang lay hoay bới móc tìm kiếm đồ trong xách cũng ngẫng lên góp ý.
- Tôi mà làm tên công an vừa rồi là anh lãnh sẹo. Í, xin lỗi...anh bị lôi thôi ngay. Công nhân đường sắt được cấp giấy phép đi đường sao không đăng ký xe lửa cho thuận lợi mà lại vác mạng leo lên xe
đò ? Lộ liễu quá !
Hắn chống cằm, tay che dấu vết dị hình, mặt khờ câm.
- Nói cũng phải a. Dại quá dại quá. Sao tui nghĩ không ra hè. Nhưng mà khổ một điều là tụi nó bán thứ giấy chi thì đi thứ giấy đó. Bộ đồ công nhân màu xanh, mặc cho hợp thời trang này sắm cũng bộn tiền chứ phải chơi sao.
- Đi đứng gian khổ thức ni mà sao anh siêng đi thế ?
- Lớn sầm đầu như tui chẳng lẽ ăn bám thành quả lao động của bà già tui à ? ...Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
- Đi đêm có ngày gặp ma. Bộ anh không sợ tụi thuế vụ với công an nó nhớ mặt sao ?
- Thì bị rồi chớ phải yên đâu. Nhưng mà ma cỏ chi cũng phải thua bùa chú hết. Đức Thánh Trần không còn thì còn ông khác dài râu hơn. Xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa...cho nên chi tui mới nói cô không nhanh lẹ chút nào cả. Tụi nó từng quen với cảnh khóc ngoài biên ải rồi, vì thế nên mình tội chi mà năn nỉ khóc lóc cho mệt thân. Cứ nhá ra vài lá bùa cho tụi hắn sáng mắt sáng lòng thì mười ông thiên lôi đứng đó cũng bỏ. Nhưng mà cô phải biết xem tướng, có đâu như má tui bả chưa già mà
mắt lem nhem dúi tiền vào nhằm tay...con ma nhà họ hứa. Ba xạo đủ điều để bà già quờ quạng tiền mất mà hàng cũng tiêu.
Ngụy ngồi yên nghe hai người đối đáp, cười không nổi những chữ lạ lùng gã thanh niên dùng. Bên ngoài cửa xa bóng mờ cây cỏ lùi dần. Ngụy thấy và hay đêm đã gần hết. Tím xanh quầng thâm đường chân trời ở hướng biển có nhạt nhoà đôi ba cụm mây đứng đợi ánh dương quang. Ngụy nhắm khép mắt lại nghe rã rời châu thân. Mai này đời mình có thấy được một vài tia sáng ? Một vài đổi thay ? Một thoát ly ra khỏi đêm dài cứ triền miên kéo trì trệ trên chính quê hương mình.
Người con gái lại khóc, nhưng khóc không thành tiếng. Màn nước mắt ứa ra, đổ dồn bên khoé để hội tụ thành giọt long lanh rơi xuống, rơi xuống. Ngụy nghĩ mình đã quen một người đồng hành ướt át và luôn hư hao. Ngụy đẩy sự vu vơ trong trí đi xa hơn : cớ sao nước mắt con người lại mặn mà không ngọt ? Có phải nó hình thành bởi sự xót xa đau khổ ? Mai kia tôi trôi nổi gặp lại nàng trên đất người, niềm hân hoan nỗi hạnh phúc cũng có thể làm lệ trào dâng. Khi ấy đưa tay hứng và nếm thử vị nó coi sao.
Ngụy đứng sững ra, nhìn cô gái chậm tay áo lên mắt mà không biết an ủi cách chi, lời nào. Ngụy thấy mình như có lỗi một phần, tự giận mình đã dễ tin người chẳng nghi hoặc. Gã thanh niên ngồi kế bên dông mất tiêu khi xe chưa tới bến. Có lẽ hắn đã nhảy ra cửa sổ khi mình đang nhắm khép một ngơi nghỉ cho đôi mắt cay ? Vậy còn cô gái khổ chủ ? Phải thức mà trông chừng chớ. Ngụy thấy chút khó chịu dấy lên.
- Dầu sao thì cô phải vào đứng đằng kia cho đỡ nắng. Cứ khóc vậy hoài đâu có giải quyết được chi.
- May mà em chỉ đưa cho hắn phần ít nhất.
Cô ta nói như tự mình an ủi lấy đồng thời nghe lời Nguỵ ôm cái xách đi tới bóng im có bởi tấm bạt căng rộng của một xe bán nước mía.
- May mà em có linh tính, ngó cái mặt hắn thấy chẳng yên tâm.
Lại vỗ về, tự trấn an vào những tổn thất. Chẳng yên tâm mà cũng đưa con vô nội, giao trứng cho ác.. Rõ là cô không có chút kinh nghiệm như thằng mặt sẹo đã nhìn thấy từ đầu.
Ngụy bông lơn :
- Còn tôi thì sao. Cái mặt ngó có thường thường bậc trung không ?
Người con gái mặt bỗng đỏ ké. Ngụy quay lưng nhìn hàng chữ giải khát tuyệt hảo, đưa hai ngón tay ra dấu với người đứng sau xe đang mĩm cười đuổi ruồi, trông vô cái thau màu ngà đục trôi lều bều những cục nước đá ngó như xô nước mã nuôi heo.
Ngụy đưa cho " bạn đường " ly cối nước "lụt" :
- Uống cho hạ hỏa đi, tôi đãi.
Nói rồi buông thân xuống ghế đẩu, thấy nhột ở bụng những bọc ny lông giấu trong lưng quần châm chích. Cô gái ngồi xuống một bên ké né. Ngồi để tay lên đùi và mắt nhìn mông ra phía đường cái, xe đạp dập dìu hỗn loạn như chạy giặc ở đó. Có lẽ ai cũng đương kiếm mánh để sống để ăn để thở và để tự hành hạ mình.
- Tôi đếm tới ba mà không uống là tôi xách bị bỏ chạy à nghe.
Ngụy nói rồi cười khục khặc trong cổ. Trông cô gái vội bưng ly lên đặt ly xuống, như nghe theo mệnh lệnh. Dễ thương. Môi cô ta ướt, thấm lên vành môi những sợi lông măng còn giữ chút bọt trắng li ti. Thần sắc đã trở lại cùng với nắng lên cao, đè lai láng quanh chỗ ngồi làm Nguỵ thấy cô gái không xấu như mình tưởng.
- Tên tôi cô đã biết. Còn cô ?
- An.
Chỉ hô lên một tiếng trong cúi mặt. Ly nước An còn đầy trong khi của Nguỵ đã vô gần trăm phần trăm. Mật ngọt chết ruồi, nước mía làm Nguỵ lâng lâng.
- Giao hàng bây giờ hay giao tận nhà cho bảo đảm ?
An ngẫng đầu, năm ngón tay thế răng lược cào chảy tóc rối. Áo cụt nâu, hàng lụa nội hoá có dệt chìm mấy chữ Phước chữ Lộc hay chữ Thọ chi đó. Chất vải nhăn nhúm, bạc màu có sẵn chứ không do hai ngày đường tắm bụi vừa kinh qua trong gian khổ.
- Làm phiền anh như vậy nhiều rồi....
- Có chi đâu...
Ngụy tính dài dòng hơn nhưng nhớ sực những lời " đạo diễn" của gã thanh niên có sẹo bên thái dương nên bỏ trống câu nói. Nhìn quanh quẩn mọi phía để yên tâm lôi những bao bì ra, thảy vào cái xách hở miệng của An.
- Tôi trả lại hết rồi đó. Cái gì vậy ?
- Thuốc Tây. Trụ sinh, cảm mạo, nhức đầu, thuốc bổ.
Ngụy le lưỡi làm bộ sợ hãi.
- Có thuốc liều không, cho tôi một viên.
An cười : cái đó phải hỏi anh mới đúng. Cán bộ y tế mà.
Ngụy nhún vai, lòng thầm hỏi không biết mình nói bây giờ có nên không, hay đợi trời tối để tránh phiền hà.
- Chữ cán bộ đó giải nghĩa ra sao cho đúng ? Bác sĩ thời trước hay sinh viên y khoa bỏ học đi làm ?
- Là không gì cả. Giống như tên ăn cướp hàng của An vậy. Nó đâu phải công nhân đường sắt.
- Giấy giả ? Anh có uống thuốc liều không ? Anh...
An bỏ dở câu nói để cười miệng ngậm. Hai bên má chỉ mọc một lúm đồng tiền bên phải. Lởn vởn trong trí nhớ của Nguỵ, người con gái đang ở một nơi thật xa cũng có nụ cười như vậy. Cũng mang một nét đẹp mà phải gần gũi dài lâu mới phát hiện ra. Phát hiện rồi đắm đuối, rồi dằn vật một nỗi nhớ khôn nguôi mà không uống thuốc liều con tim cũng thúc giục hoài hủy một lên đường tìm gặp lại. Không. Nào phải thế. Đó chỉ là một yếu tố phụ, một "nghiệp dư".
- An đâu phải là người đi buôn, phải không ?
- Không phải, An đi thăm nuôi người anh.
- Thăm nuôi bằng bột ngọt, thuốc Tây ?
- An sẽ bán những thứ đó ở đây, được giá hơn. Người ta bày vẽ vậy đó, rồi mua sắm nhu yếu phẩm mà anh ấy cần. Thức ăn mang đi đường xa để bới xách thì đâu có giữ được lâu.
- Ừ, cũng đúng. Anh của An là sĩ quan ?
- Dạ, trung uý. Bị giam ở Hàm Tân. Còn anh ?
- Tôi ? chưa từng đi lính mà vẫn mang tên Nguỵ. Giả làm y tá để mạo hiểm vào đây...
- Mạo hiểm ? Hồi nãy trên xe mặt anh có run sợ chi đâu. Có tật thì giật mình, mà sao thấy anh làm như công nhân viên thứ thiệt của nhà nước.
- Tim gan của tôi lớn lắm, đâu phải như cô. Hay vì làm đàn ông thì có khác ?
- Có lẽ...Anh có thân nhân bị cải tạo không ?
- Ai mà không có, nhưng mấy ông anh tôi đều bị nhốt ở ngoài Bắc. Xa xôi mịt mờ lắm. Mấy ông ấy tim gan hẳn còn lớn hơn tôi gấp bội. Chắc khó có ngày gặp lại nhau.
- Tại sao ? Anh sợ những người bị học tập đều phải chết đi lần hồi ?
- Không biết có đúng không. Có điều, chắc tôi phải bỏ đi xa.
An lấm lét. Đôi mắt tròng nâu như màu áo, mở lớn đồng tử.
- Vượt biên ?
Ngụy thu tay đang chống cằm, tìm thuốc hút. Ánh mắt An đổi xuống nhìn những sợi khói mỏng bay lên. Ngụy chợt thấy lòng mình tự dưng buồn lạ lùng. Nỗi buồn dật dờ và xanh xao như làn khói. Cuộc sống của mỗi chúng ta đã bị ai đó làm cho tàn lụi dần. Cháy đi âm thầm, đắng nghét, nồng cay và vô vị ở cuối một chặng đời vứt bỏ. Sao người ta chẳng còn gì để mơ ước nữa vậy ? Chỉ gom góp hết mọi điều mọi chuyện để đánh đổi bằng được hai chữ : vượt biên. Thu hút nhưng nguy hiểm vô cùng. Ngụy để hai chữ An vừa hỏi đó lùng bùng trôi đi hoang mang trong đầu. Không biết có gì trở ngại từ đây cho tới cái thời điểm đặt chân lên ghe thuyền chòng chành sóng nước ? Ngụy thở dài.
- Ừ. An đã từng đơm cái ý nghĩ đó lần nào chưa ?
Cô gái không trả lời, bưng ly nước mía uống một hơi dài.
- Hồi nào An đỡ mệt và muốn về nhà thì cứ nói. Tôi sẽ gọi cho An một chiếc xe thồ.
- Chừng nào anh đi ?
- Đi từ đây về nhà hay đi từ nơi này đến một nơi khác ?
- Đến một nơi khác ?
- Chưa biết đích xác, nhưng cứ nghĩ là rồi tôi sẽ không còn ở đây nữa.
Ngụy nói như cho chính mình nghe lấy. Còn thì sao, mà vắng mặt thì có gì hệ trọng ? Một phân bua chẳng cần thiết. Ngụy nghĩ thầm, ở mỗi một chuyến đi ai trong chúng ta cũng bị mất mát không ít thì nhiều. Mấy ký bột ngọt của cô vào tay thằng thảo khấu nào đó, vài vỉ thuốc tây của cô giờ này đã chạy ra chợ trời qua tay thằng mặt sẹo gian manh. Còn tôi ? Cái mãnh đất cháy nắng ngộp thở này khi bị mất đi tôi có nên kêu ca phần nàn không ?
- Dầu sao quen được An trước khi đi cũng là một chuyện đáng nhớ.
- Nhớ cái chi ?
- Nhớ đủ thứ...Tôi có thằng bạn đi đã lâu, trong thư gửi về An biết hắn viết gì không ? Thèm đi dưới đường có lá me hoặc sầu đông hoặc phượng vĩ, có viên gạch vỡ có Vũng nước đọng bên lề. Thèm ngồi uống nước ở quán cóc vệ đường như tụi mình đây. Thèm dầm mưa cho thiệt ướt, thậm chí thèm có ai gọi hắn để chửi thề. Hắn thèm, vì trước đó đầu óc hắn không chịu thu nhận, chẳng chịu nhớ cho đầy và đã để cho quên.
- Thật sao ? Hay là vì nhớ quá nhiều kỷ niệm để rồi sống trong một hoàn cảnh khác, thiếu thốn những thứ đó lòng đâm buồn và so đo thèm thuồng.
- Mình không nên giải thích những chuyện chẳng được rõ ràng đó. Điều tôi muốn nói là quen An ...cứ bắt chước lời tên mặt sẹo đi, là hình như đã có duyên số.
Cô gái cười, nhưng nụ cười không tạo được một lổ trủng nào ở bên má. Và nụ cười đó tắt biến rất mau. Một người đàn bà vừa mới lộ diện, nón lá trên đầu, xách ny-lông kẹp nách với một giọng nói ồ ề nghe được từ xa.
- Vào từ hồi nào đó An ? Có biết là Dì nóng ruột ngày nào cũng chạy lại bến xe để tìm đón không ?
- Con mới vừa tới, nãy giờ có ý đợi Dì đó chớ.
Cái nón được tháo ra, bắn tia nhìn đầy nghi hoặc tới Nguỵ.
- Cậu nào đây ?
Hỏi nhưng không cần nghe trả lời. Người đàn bà kéo cô gái bước ra khỏi chu vi vuông im tấm bạt. Nắng dội xuống vai An với cái tần ngần ngoái đầu nhìn lại. Ngụy thấy hai người thì thầm với nhau hồi lâu. Và hồi lâu, An trở vào lấy cái xách.
- Mong anh đi được bình yên. An phải về.
- Cám ơn.
- Anh giữ lấy một ít thuốc cảm sốt này để phòng thân.
Cô gái mở những bao ny lông để tìm đúng loại thuốc như cô nói. Ngụy cảm nhận vết cứa sắc cạnh của mấy vỉ thuốc trong tay và làn da mềm mại ẩm lạnh của An đặt lâu ở đó. Ngụy bóp nhẹ, sửng sốt và cảm động.
- Chính anh của An mới cần đến nó. Tôi...
- Anh ấy trốn thoát được rồi. Dì đang tìm mối cho ảnh vượt biên.
An nói nhỏ bên tai Nguỵ. Ngụy thấy hơi thở An nóng và như nghe được tiếng đập gấp rút từ tim cô gái vọng dội ra. Hay của chính mình ? Ngụy giàu tưởng tượng, trong một thoáng cái hình ảnh trốn chạy ra biển lại hiện tới, và biết đâu chừng trên chiếc ghe mong manh liều lĩnh lại có mặt một ông trung uý vừa "vượt" hai lần. Anh của An.
Tay buông tay. Người con gái quay lưng bước đi. Một chiếc xe xích lô đã chờ sẵn có dáng người đàn bà ngồi trong nôn nóng. An leo lên, gửi vội những ngón tay múa may chào tạm biệt. Ngụy ve vẩy lách cách mấy vỉ thuốc chào trả. An không thấy. Những vòng bánh xe đã quay, nhập trong lòng đường lúc nhúc người luôn có sẵn ngoài kia.
Ngụy moi túi lầm bầm : tôi yêu An.
Người bán nước nhăn răng . Hả ? Cái gì ? Anh cho mười đồng bạc mới.
Hồ Đình Nghiêm.
1988
-----------------------
Nguồn : VĂN,
số 77, tháng 11-1988
Subscribe to:
Posts (Atom)