Friday, January 22, 2016

CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG



                                                                   HÀN MẠC TỬ



(Trích Đoạn )



Chị tôi và tôi đồng cầm mái chèo con nhẹ nhàng lùa những dòng vàng trôi trên mặt nước .
Chị tôi cười nả nớt, tiếng cười trong như thủy tinh và thanh khiết lạ thường. Luôn luôn cứ hỏi và đố tôi cho kỳ được : 
Này chị đố em nhé, trăng mọc dưới nước hay mọc trên trời. Và chúng mình đi thuyền trên trời hay dưới nước.
Tôi ngước mắt ngó lên trời rồi ngó xuống nước và cùng cười đáp lại: Cả hai chị ạ. 
Sướng quá, thích quá, chao ôi, hai chị em lại thỉnh thoảng rú lên cười làm náo động luồng tinh khí của hạo nhiên.

Vây chúng tôi bằng ánh sáng, bằng huyền diệu, chưa đủ, Ngưu Lang Chức Nữ, chúa của đêm Trung Thu còn sai gió thu mang lại gần chúng tôi một thứ mùi gì ngào ngạt như mùi băng phiến, trong ấy biết đâu lại không phảng phất những tiếng kêu rên của thương nhớ xa xưa...

Thuyền đi êm ái quá, chúng tôi cứ ngờ là đi trong vũng chiêm bao, và say sưa, và ngây ngất vì ánh sáng, hai chị em như đê mê, không còn biết là có mình và nhận mình là ai nữa.
Huyền ảo khởi sự. Mỗi phút trăng lên mỗi cao, khí hậu cũng tăng sức ôn hoà lên mấy độ. Và trí tuệ, và mộng, và thơ, và nước, và thuyền dâng lên, đồng dâng lên như khói...
Ở thượng tầng không khí, sông Ngân Hà trinh bạch đương đắm chìm các ngôi sao đi lạc đường. Chị tôi bỗng reo to lên: 
Đã gần tới sông Ngân rồi! Chèo mau lên em! Ta cho thuyền đậu ở bến Hàn Giang!

Đi trong thuyền, chúng tôi có cái cảm tưởng lý thú là đương chở một thuyền hào quang, một thuyền châu ngọc, vì luôn luôn có những vì tinh tú hình như rơi rụng xuống thuyền...
Trên kia, phải rồi, trên kia, in hình có một vì tiên nữ đang kêu thuyền để quá giang...

Thình lình vùng trời mộng của chúng tôi bớt vẻ sáng lạng. Chị tôi liền chỉ tay về phía bến đò thôn Chua Mo (1)  và bảo tôi rằng : 
Thôi rồi, Trí ơi! Con trăng nó bị vướng trên cành trúc kia kìa, thấy không ? Nó gỡ mãi mà không sao thoát được, biết làm thế nào, hở Trí ?

Tôi cười.
Hay là chị em ta cho thuyền đỗ vào bến này , rồi ta trèo lên động cát với tay gỡ hộ cho trăng thoát nạn.
Hai chị em liền dấu thuyền trong một buội hoa lau bông vàng phơi phới, rồi cùng lạc vào một đường lối rất lạ, chân dẫm lên cát mà cứ ngỡ là bước trên phiến lụa.
Nước suối chảy ở hang đá trắng, tinh khiết như mạch nước ngọc tuyền, chồm lên những vừng lá, hễ trông đến là kinh hãi vì ngó giống con bạch hoa xà như tạc. 

Sao đêm nay kiều diễm như bức tranh linh động thế này ? Tôi muốn hỏi xem chị tôi có thấy ngọt ngào trong cổ họng như vừa uống xong một ngụm nước lạnh , mát đến tê hết cả lưỡi và hàm răng. Chị tôi làm thinh. Mà từng lá trăng rơi lên xiêm áo như những mãnh nhạc vàng.
Động là một thứ hòn non bằng cát, trắng quá, trắng hơn da thịt của người tiên, hơn lụa bạch, hơn phẩm giá của tiết trinh. Một màu trắng mà tôi cứ muốn lăn lộn điên cuồng, muốn kề môi hôn, hay áp má lên để hưởng sức mát rượi dịu dàng của cát.

Hai chị em đồng dang tay níu áo gượng vào nhau dấn bước lên cao. Thỉnh thoảng mỏi hai đầu gối quá, cả chị liền em đồng ngã lăn ra. Lại một dịp cho tiếng cười của chị tôi được nở ra, dòn tan trong không khí. Lên tới đỉnh là hao mòn đi một ít. Nhưng mà ngợp quá, sáng quá, hùng trí làm sao ?
Đây có phải là nước Nhược non Bồng, động phủ thần tiên ngày xưa còn sót lại ? Nhìn xuống cát cố tìm dấu tích gì lưu lại một vết chân của Đào Nguyên Tiên nữ, nhưng tấm cát phẳng lơ như lụa căng, trinh bạch làm sao.

Bất tri thử địa qui hà xứ
Tu tựu Đào nguyên vấn chủ nhân ? 

Bây giờ chúng tôi đang ở giữa mùa trăng, mở mắt ra cũng không thấy rõ đâu là chín phương trời, mười phương Phật nữa. Cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiếu diễu đến nỗi đôi đồng tử của chị tôi và tôi lờ đi vì chói lói...
Ở chỗ nào cũng có trăng, có ánh sáng cả, tưởng chừng như bầu thế giới chở chúng tôi đây cũng đang ngập lụt trong trăng và đang trôi nỗi bềnh bồng đến một địa cầu nào khác.

Ánh sáng tràn trề, ánh sáng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngã vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy châu báu.

Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức Bà Maria là bực tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quỳ lạy mong ơn cứu chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹp đẽ đến thế này. Nước da của chị đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi.

Tôi nắm tay chị tôi dặc lia lịa và hỏi một câu hỏi tức cười làm sao : Có phải chị không hở chị ? 
Tôi run run khi tôi có cái ý nghĩ chị tôi là một nàng Ngọc Nữ, một hồn ma, hay một yêu tinh. Nhưng tôi lại phì cười và vội reo lên: 

A ha, chị Lễ ơi, chị là trăng, mà em đây cũng là trăng nữa.

Ngó lại, chị và tôi, quả nhiên là trăng thiệt...





(1)  Chua Mo : một làng ở hải khẩu tỉnh Quảng Ngãi.



-----------------------------

Nguồn : Thi Nhân Việt Nam - Trần Thanh Mại 



Saturday, January 16, 2016

NGÀY THÁNG KHÔNG RỜI



                                                                                  LÝ HÙNG HÀ



Khi Sang nhảy xuống khỏi chiếc xe đò chật ních người thì chiều cũng vừa sụp xuống. Hắn đi lùi lại tránh đám bụi mù dấy lên từ cái đống sắt ọp ẹp còn di động được về phía chợ quận với đầy tiếng ồn. Sang gở mũ vải đập lung tung vào người để phủi bụi vừa  đưa mắt nhìn quanh. Không thấy Hồng.

Những đợt nắng còn sót lại váng vất trên đồi cây đàng xa ở bên kia con sông. Xóm nhà hai bên đường cũng im lìm như mấy đứa trẻ đang ngồi mãi miết cạnh mấy đoạn tre tươi. Có lẽ tụi nó làm đồ thủ công cho trường để bán qua ban Thương Nghiệp. Khu cửa hàng quốc doanh của huyện đã đóng cửa nghỉ, chỉ còn vài cô gái ngồi trước bực thềm chỉ trỏ vào chiếc xe đò vừa chạy qua và quay sang nhìn Sang. Hình như họ có chút thích thú khi thấy Sang nhảy khỏi chiếc xe đang chạy mà không bị ngã. Và có lẽ cũng do cái khuôn mặt nửa quen nửa lạ của Sang giữa buổi chiều ở cái huyện miền núi thế này.
Hắn chợt thấy trong bóng dáng ấy một khuôn mặt và đôi mắt nào ngờ ngợ nhưng không nhớ ra người nào cả. Sang đi ngược về hướng nhà của Tấn, bởi đã chắc là hiên nhà Đào vắng hoe, không có ai ngồi đợi.

Những lần trước, khi thả mình khỏi chiếc xe đang chạy, qua đám bụi mờ ấy thì đã thấy Hồng đứng đó, trước hiên nhà với Đào. Chiếc áo sơ mi màu kaki tóc xoả . Nụ cười với hai má phính răng đều. Huyện miền núi này, ngày chỉ một chuyến xe lên rồi xuống. Giờ giấc không mấy khi khác nhau, trừ lúc xe bị chết máy dọc đường hay bị lật nhào ở ngọn đèo  bên kia, vài ba lần một năm trong mùa mưa tháng chín tháng mười.
Hay là cô nàng không nhận được mẫu giấy cùng lời nhắn miệng của mình nên bỏ về Tam Kỳ rồi cũng nên. Hắn chợt nghe buồn với ý tưởng này. Sang quay nhìn phía chợ, nhìn con lộ dốc dẫn xuống đồng bằng về một thành phố cũ, nơi hắn có quá nhiều kỷ niệm, rồi thở dài.

Vừa bước vào nhà Tấn, Sang đã thấy bạn ngồi đó, tay ôm cây đàn. Tấn reo nhỏ ủa xuống hồi nào vậy, trên đó mưa à. Mới vừa xuống. Trời cũng mưa và mấy cái máy cưa cũng bị bể rồi. Trời đất, sao lại bể. Cây ngã phản tàng, sém chết cả bọn. Có cà phê gì không Tấn ? Mới xuống Tam Kỳ lấy lên đó. Bảo Cúc nó pha cho.

Sang bước ra sau nhà tìm lu nước rửa mặt, vừa bảo Cúc nấu nước. Cúc nói nhỏ, em mới thấy cô Hồng với cô Đào trước nhà đó anh Sang. Vậy à, anh tưởng bả về dưới rồi chớ. Đâu được. Tháng này trường thi đua dữ lắm, cô thầy không ai được về hết trọi. Còn tụi em lao động đừ điếc. Sang giúp cô bé soạn mấy cái ly ra vừa gợi chuyện. Thi đua cái gì vậy Cúc. Dạ thi văn nghệ nè, thi sản xuất để gây quỹ yểm trợ chiến sĩ chống tụi bành trướng Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, và tụi quấy rối Pol Pot ở biên giới phía Nam. Con bé nói một lèo làm Sang giật mình. Hắn quay nhìn khuôn mặt non nớt ấy và chợt thấy xót xa. Không biết nó có thể kể một câu chuyện cổ tích bằng những câu trơn tru như vậy chăng.

Sang yên lặng bưng hai ly cà phê ra bàn ngoài. Tấn vừa đàn vừa hát gì đó có câu:

Nhưng em thương anh thương anh nên đón nhận gia tài 
Nhưng em thương anh ta cùng gom sức mới 
Nhưng em thương anh cho tủi hờn đi xuống...cho niềm kiêu hãnh vươn lên...

Sang đã nghe bài hát này nhiều lần trước đây, khi lâu lâu được về thành phố từ một hẻm núi nào đó của tỉnh Quảng Nam. Với bộ đồ trận mấy ngày không thay, lê la ở mấy quán cà phê của Hội An, Tam Kỳ, Đà Nẵng. Nhưng đây là lần đầu tiên hắn mới nghe bạn hát.
Tấn ngưng đàn, đưa tay sửa lại cái phin cà phê hỏi đã gặp Hồng chưa. Chưa. Nhảy xuống xe là vô đây liền. Mấy tuần nay không có cà phê, thèm dễ sợ. Cưa bị bể, trời mưa, cả bọn đâu có việc gì làm. Nằm dài người trong rừng hoài phát chán.

Sang vừa nói vừa móc mấy điếu thuốc nhàu nát đựng trong túi nylon nhỏ, loại thuốc điếu địa phương, phẩm chất ngang hàng với thuốc rê, chỉ tiện khỏi tốn công vấn. Tấn hỏi thuốc hả, rồi lấy trong túi áo ngực ra một gói Vàm Cỏ mới tinh, chưa bóc. Ở đâu mà quý thế này. Nguyên gói. Mấy em ở cửa hàng quốc doanh trả công đó. Em cho tới một cây lận. Hút cho qua thời buổi này. Ờ, thời buổi khó khăn. Mà công gì vậy ? Tao vẽ lớn cho em hai tấm hình chụp đâu hồi còn đi học ...À mầy còn nhớ Chi Lan chớ ? Trước học ở Trần Cao Vân. Nó nhớ mày mà.
Chi Lan hả ? Phải mặc áo bông ngồi kia không ? Tấn chồm người dòm về phía cửa hàng theo tay bạn. Ừ, chính thị.

Chi Lan, một trong mười mấy bông hoa hiếm hoi của một trường trung học, gần hơn ba ngàn đực rựa, cách đây gần bảy tám năm trước. Lan học ban C. Văn chương lướt thướt. Anh văn và Triết lý ởm ờ. Chạy lấp sấp trên hành lang mỗi lần trường làm bích báo. Lan dưới gốc phượng với chúng bạn cùng lớp bàn về tiểu thuyết của E. Hemingway, là đứa con gái đứng giới thiệu chương trình trong đêm văn nghệ cuối năm, năm cuối cùng của bậc trung học.
Sau đó là gì nữa nhỉ ? Sang thấy mù mờ. Trí nhớ như mỏi mệt khi phải đi ngược lại từng ấy thời gian. Bảy tám năm gì đó. Chẳng đứa nào biết đứa nào, làm gì ? ở đâu ? Trừ vài chục đứa lục tục khăn gói vào "Trung tâm 1 nhập ngũ"  từ sau cái năm 72 ấy. Mùa hè đỏ lửa. Mấy chục thằng của cái trường mấy ngàn học sinh được chia ra từng tốp để vào mấy khoá Sĩ Quan Trừ Bị, với những mãnh bằng Tú Tài mới tinh và sách vở. Thủ Đức chật, ra bớt Đồng Đế. Gặp nhau vài phút ở sân bắn, trên đường di hành. Đường trường xa con chó nó tha con gà. Hay trên bãi tập, nói thật vội với nhau vài câu, rồi tiếp tục -bò-lết-chạy-một-hai-ba-bốn-khỏe-khỏe .

Ra trường, đứa chết đứa tàn tật. Thằng nào còn sống với lổ chổ vết đạn trên da thịt thì cắm đầu mà bước. Cuộc chiến vẫn còn dài.
Cho đến mùa xuân ấy  -1975-  những thằng sống sót lại gặp nhau một lần nữa. Trại cải tạo. Lần này thì ê chề và thê thảm. Thằng mệt nhoài ở đầu truông hỏi thằng ngất ngư ở sườn dốc. Bữa nay gỗ nặng không mày . Vẫn như hôm qua. Bốn đòn tám đứa, con ạ.

Sang dời phin cà phê khuấy đường. Không sửa. Hắn uống một ngụm nhỏ, quay hỏi bạn. Còn thấy bọn thằng Sự qua đây không. Tụi nó xuống hết dưới  kia rồi. Cả toán tù chuyển qua làm tre...Bữa hắn đi tao có đưa gói thuốc rê và mười đồng bạc. Tao chỉ có vậy.
Ừ, thì chỉ có vậy, chứ đứa nào có hơn đứa nào. Sang lẩm bẩm với chính mình rồi chợt nhớ về thằng bạn cũ, cùng những ngày tù chung của cả bọn. Những Sự, Tâm, Tấn, Dưỡng, Anh...vào tù từ tháng ba năm ấy.
Súng vất ở cầu Câu Lâu, ở dọc đường Hải Vân, Quế Sơn. Về Đà Nẵng nhìn thành phố thay đổi đến dị hợm. Sang đã đi lang thang trong phố, nhìn súng chất đống trước chùa Tỉnh Hội, nhìn bờ sông ngổn ngang những tàn tích của đỗ vỡ. Bên kia sông, ở bờ biển, là một nghĩa địa bất ngờ, tanh tưởi với nhiều xác người chưa chôn kịp. Hắn gặp Sự, với câu hỏi: Mình thua rồi hả mày ?

Hai đứa dắt nhau vào quán cà phê ngồi thừ người cả buổi, không nói với nhau lời nào. Mấy hôm sau trình diện đi " cải tạo" mà không biết Saigon và các xếp lớn sẽ ra sao. Mãi một tháng sau, cái trại tù Tiên Lãnh một hôm chợt chộn rộn. Bọn cảnh vệ, cán bộ gọi nhau ơi ới để ăn mừng. Saigon thất thủ.
Tù binh từng đứa nhìn nhau thẩn thờ, quên đói. Thằng Tấn kéo Sang vào một góc khuất nói nhỏ, vậy là xong. Tụi mình hết mong được trao trả tù binh như hồi trước làm ở Thạch Hãn.

Ba năm sau, với một cánh tay gãy của Tiến vì gỗ đè, mấy cơn sốt rừng và làn da tái mét cho mỗi đứa, thì cũng có vài đứa trong bọn được thả về. Nhiều đứa, như Sự, thì ở lại. Và số khác, thì không bao giờ về lại được  nữa.

Sang về sau Tấn mấy tháng, khi mùa mưa lại vừa trút nước xuống những dãy núi hun hút của tỉnh Quảng Nam èo uột. Hắn từ chối đi về vùng kinh tế mới mà cũng không được phép ở lại Đà Nẵng, nên lên Trà Mi làm gỗ được coi là tốt nhất.
Những thớt gỗ lần này cũng làm hắn mệt đừ nhưng đầu óc đỡ phải bận bịu bởi chuỗi ngôn ngữ mới cứ rêu rao suốt ngày từ mấy cái loa gắn ở cột đèn đường. Vả lại, vẻ hoang dại của núi rừng lần này không giống như hồi còn ở trại tù. Hắn có thể tìm được vài phút thảnh thơi và cả chút tự do cho chính hắn, sau khi những thân cây được hạ xong.
Thường vào buổi chiều, cũng nhảy từ chiếc xe tải gỗ, ra suối tắm gội bì bõm và nghe mùi lan rừng trong gió. Đứa bạn làm chung đã pha xong ấm cà phê ngồi đợi ở chiếc bàn gỗ trước căn lều lợp lá. Mà cả bọn ba đứa chỉ tốn một ngày là làm xong. Ở đó, giữa núi rừng trùng điệp, hắn có thể hát những bài hát cũ hắn thích tự ngày nào.

Sang quay người uống thêm hớp cà phê và đốt điếu thuốc khác. Tiếng đàn của Tấn chợt đổi, nhịp nhanh hơn theo bài hát mới, giống như từ mấy ống loa trên cột đèn làm Sang nhăn mặt. Hắn nhìn ra phía ngoài trời đã chiều hơn. Vài người băng qua con lộ đi về phía cửa hàng. Mấy cô gái ở đó đứng dậy vuốt lại quần áo. Sang thấy Lan nhìn về căn nhà Tấn. Tấn nói mấy thằng ấy là công an huyện
đang tán tỉnh mấy em ở cửa hàng đó.
Tấn ngưng đàn, đặt cây đàn dựa vào mặt bàn thấp để mồi điếu thuốc từ tay Sang. Sang dòm tay bạn thấy những ngón dài và thon giống bàn tay con gái. Hèn gì nó vẻ đẹp và nổi tiếng từ hồi còn ở trung học. Sang lật tay của chính mình rồi mĩm cười. Mười ngón chai cứng, đen và đầy sẹo. Hồi xưa bị bà già chửi mãi, hễ đụng thứ gì hư thứ ấy. Vậy mà đúng. Cái máy cưa bị bể tới lần thứ ba. Hết vốn.

- Mày ăn cơm nước gì chưa ?
- Ăn ở Trà Mi xong. Chưa đói.
- Nếu đói thì luộc mì, hai anh em tao ăn xong rồi.

Hai anh em. Tấn và Cúc. Đứa lớn cách đứa sau mười mấy tuổi. Cúc ra đời như một ơn mưa móc của trời đất, như một an ủi hiếm hoi dành cho đôi vợ chồng như là hiếm muộn, một ân sủng cho cả quãng tuổi thơ lẻ lỏi của Tấn - đứa anh trai - Cúc mang nụ cười âm thanh sinh động phả vào gia đình vốn thiếu vắng những thứ ấy trong khoảng thời gian dài.
Lớn lên, đứa anh vào lính. Mỗi lần về phép đều mang quà chật một ba lô cho cô em gái. Những năm Tấn ở tù, đứa bé gái lúc nào cũng đòi theo cha mẹ lên núi thăm anh với món thịt kho tự tay nấu. Ăn xong còn bắt phải khen ngon.
Khi Tấn về, với lý lịch bị bôi đen, cả gia đình không còn lý do ở lại thành phố. Dắt díu nhau về đây, huyện lỵ heo hút này, cày xới lại mãnh vườn cũ của tổ tiên, dựng lại mái nhà trên nền cũ vốn hoang phế nhiều năm. Chút của cải mang về cạn dần mà đời sống không hề khá nỗi. Cha mẹ Tấn phải vào rừng làm củi. Tấn trong vòng kiềm tỏa của công an phải ở nhà thường nhật, chạy chuyển hàng trên đường Tam Kỳ-Tiên Phước bằng chiếc xe Honda. Mỗi tháng hắn lên núi đón mẹ về rồi phụ cha thả bè củi theo sông Tiên về miền dưới.

Vừa lúc ấy, người con gái áo hồng đang bước tới bực thềm gọi nhỏ anh Tấn. Ủa Chi Lan. Vào chơi. Lan nhìn Sang với vẻ ngượng ngập nhưng vẫn bước vào. Tấn kéo thêm chiếc ghế thấp cho bạn. Sao bữa nay rãnh vậy. Không có hàng nhập kho nên cả bọn ngồi chơi suốt cả buổi chiều nay. Tấn nhìn qua Sang nói hai người biết nhau mà. Sang nãy giờ vẫn không nói gì thoáng nhìn Lan, cả hai cùng bối rối. Phải anh Sang hồi trước ở Trần Cao Vân không. Vâng, ban A chứ không phải bạn C . Lan cười vì biết Sang muốn nói tới loại học sinh ban văn chương ở bậc trung học, mà hồi ấy thường bị gọi  là những kẻ "có hồn" lắm.

Từ hồi về đây làm, để coi, hơn bảy tháng, Lan có thấy anh một lần, hồi chiều lại thấy anh nhảy xuống xe, cứ ngờ ngợ không dám gọi. Lâu quá rồi, ai cũng thay đổi cả. Tôi cũng đâu ngờ Lan về làm đây.
- Anh bây giờ làm gỗ ở Trà Mi phải không ?
- Đúng rồi, sao Lan biết.
- Còn biết chuyện anh với chị Hồng nữa kìa.
Tấn chợt xen vào, ở cái phố núi chút xíu này, chuyện gì lại không biết. Như chuyện công an với cửa hàng cũng vậy. Không có Lan à , cô gái cải với Tấn, bằng cớ là tui đang ngồi ở đây và họ ở bên kia.

Tiếng "tui" thoát ra từ miệng Lan, được nhấn mạnh, âm thanh làm Sang chợt cười. Hắn nhớ Hồng vẫn thường dùng chữ ấy mỗi lúc nàng giận hắn. Con gái thường có nhiều điểm giống nhau. Tui thế này. Tui thế nọ. Tuần trước nhận được mẩu giấy Hồng gởi lên từ tay một người quen buôn bán trên đường này. Tấm giấy chỉ vỏn vẹn mấy chữ. Tui sẽ về Tam Kỳ một mình nếu ông bạn cứ ở hoài trên ấy. Chỉ có vậy nhưng thiệt ra đầy hâm dọa, kiểu đàn bà. Nhiều lần Hồng đã kể với hắn về nhiều gã đàn ông khác đang tán tỉnh nàng. Đám đàn ông này luôn có nhiều lợi điểm hơn hắn. Họ là gã đồng nghiệp của Hồng, là gã hiệu phó, là lão giám đốc lâm trường ở kế cận ngôi trường nằm dưới đoạn đường dốc ấy. Lão giám đốc mỗi lần xuống chơi Tam Kỳ bằng chiếc xe gắn máy bóng loáng, đều ghé nhà Hồng với túi tiêu sọ, những thanh quế lâu năm làm quà tặng. Giá một kg quế hay tiêu bằng cả chục tháng lương của một công nhân trung cấp, cở như chức giáo viên cấp hai của Hồng.

Sang biết Hồng yêu mình và cần mình. Cũng như hắn yêu và cần nàng vậy. Cần một người để trò chuyện, để san sẻ. Không ai trong đám đồng nghiệp gần gũi ấy làm nàng rung động. Và cũng không  ai ở cái huyện miền núi này có cùng một tia nhìn với Hồng. Những ngày mưa, cơn mưa núi dai dẳng che mờ hết cái thung lũng này, che mờ hết dãy núi cao vây bọc chung quanh nó và giòng sông. Anh coi, em làm gì đây ? Nằm ngữa nằm sấp trong căn nhà tập thể ấy vừa nhai khoai vừa đọc thơ Tố Hữu à ? Đó là ngôn ngữ bình thường của Hồng là vậy. Nếu có anh, mình sẽ về Tam Kỳ, thây kệ nó những phê bình kiểm điểm, hai đứa ngồi ở một góc quán quen, hai cà phê, hút thuốc - nếu cần - rồi tha hồ chuyện vãn mơ tưởng. Hoặc Sang hát cho em nghe bài hát cũ của thời nào còn đi học...Thà như thế còn hơn ngồi nhìn mưa mà nhớ về những buồn lòng. Nhớ mẹ tảo tần trên con đường Hà Lam Việt An  buôn từng chục bạc . Chen lấn giành giựt một chỗ đứng trên chiếc xe đò với bạn hàng và lơ xe, hối lộ tên công an kiểm soát từng gói thuốc lá. Như thế, cứ đều đặn mỗi ngày, mỗi ngày...Còn anh Hai, bốn năm rồi chưa về. Trại cải tạo vẫn còn đông nghẹt. Những thớt gỗ từ bên kia rặng núi Răng Cưa của Quảng Ngãi, vẫn nặng, vẫn phải đều đặn mang về mỗi ngày...Cũng in hệt như anh hồi năm ngoái, phải không anh Sang ?

Ở những lần ấy, Sang đã ngồi yên lặng nhìn bạn mà không nói gì. Hắn không muốn nói với Hồng về những điều khác kinh khủng hơn là những thớt gỗ nặng từ bên rặng núi Răng Cưa.

Người con gái lại yêu cầu Tấn đàn. Biểu Sang nó đàn cho mà nghe. Anh sắp phải đi coi hàng. Ờ phải rồi. Ngày xưa anh Sang đàn hay lắm mà. Nổi tiếng ở Trần Cao Vân. Sang vất điếu thuốc ra sân trống. Hồi đó đến giờ tôi không còn đờn địch gì hết. Tay bây giờ là cầm máy cưa và kéo dây cáp mệt nghỉ. Thôi mà. Anh chơi lại bản gì hồi đó con Vân hát dịp cuối năm đó. Nhớ hông ? Chịu thôi. Lâu quá rồi làm sao nhớ được ai đã hát hò bài gì. Tôi chỉ nhớ Lan là người giới thiệu chương trình trong đêm ấy.
- Và anh là một trong mấy "đờn sĩ" đại tài.
Cả bọn ba cùng cười vì câu pha trò dí dỏm. Lan tiếp, sau đó anh đi lính phải không. Và không đợi Sang trả lời Lan đổi giọng kể lể. Lan thấy anh mặc đồ lính một lần nè, Lan cố gọi nhưng hồi ấy anh không nghe. Sau này có thêm một lần nữa nhưng lại không gọi được.
- Vì đang đi chơi với bồ. Tấn chen vào.
- Không phải. Vì đang ngồi trong xe đò từ Tam Kỳ ra Đà Nẵng, mà anh Sang thì đứng dưới đường cùng mấy người lính khác...Lan nhớ, lúc ấy là hết mùa hè, Lan phải đón máy bay vào Saigon.
- Bộ đi thi hoa hậu chắc ?
- Sao anh Tấn cứ chọc Lan hoài vậy. Cô gái la lớn bất bình.
- Xin lỗi anh chỉ đùa. Nói xong Tấn đi vào nhà sau, để hai người bạn ngồi lại với một khoảng trống hơi khó chịu.

Sang với tay tính lấy điếu thuốc nhưng lúng túng chạm phải cây đàn. Hắn không biết làm gì nên ôm lấy. Lan sửa lại dáng ngồi  khi Sang bắt đầu đụng nhẹ vào mấy sợi dây đàn. Âm thanh của bài hát hắn vẫn thích:

Gọi nắng lên vai em gầy đường xa áo bay...
Gọi nắng trong cơn mưa chiều loài hoa nắng rơi...

Bài hát của thời học trò. Bài hát của hai đứa. Hắn và Hồng.

Lan ngồi bên hát theo nho nhỏ, đôi mắt nhìn sâu vào vòm cây tối đen trước hiên nhà. Tiếng hát bình thản thêm ngón tay gõ vào mặt bàn và tay kia chống vào cằm ở cái dáng tự nhiên nhất...Áo xưa dù nhàu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau...Cho đến âm thanh cuối cùng kết thúc bài ca.
Sang lại dạo đàn, lại bắt đầu cho một khúc nhạc khác. Lâu rồi, hắn không hề cầm lại loại nhạc cụ này. Nhưng chiều nay tự dưng cảm hứng khi bên cạnh có một người bạn cũ, như là đồng điệu, có khoảng thời gian nào đó cùng một mái trường, có cùng vài kỷ niệm. Đêm văn nghệ cuối năm thời trung học.

Lan vẫn hát theo, giọng nhỏ. Có lúc như trầm xuống thấp không nghe được. Âm thanh như lan man nhắc nhở một thuở nào mới đây nhưng cũng thật xa xôi. Đã qua rồi thời nào êm đềm cũ. Thời tóc bay và mộng ước đầu đời. Sau cơn bão cảnh vật thân quen trở nên lạ hẫng. Làm gì còn hạnh phúc cùng với dáng vẻ mỹ miều của nó. Hay còn một dáng của tả tơi. Hạnh phúc bây giờ chợt sần sùi như mấy ký khoai người ta xếp hàng mua mỗi đầu tháng. Hay nặng nhọc như chiếc xe đò chạy bằng than củi phì phò leo lên đoạn đèo dốc chiều nay.

Chiều nay, ai biết, như đã bao lần rồi tôi cũng về từ một hẻm núi. Vẫn với y phục bê bết thế này, đứng nhìn nắng thoi thóp ở cuối trời, nhìn chặng đường vừa bỏ lại sau lưng. Trà Mi hay Quế Sơn hay Bồng Miêu Thường Đức. Những dấu chấm đỏ trên bản đồ ngày trước, tuy khác nhau mà vẫn giống trong mắt nhìn. Những đồi cỏ tranh hay sườn non lặng lẽ vây quanh lấy độc đạo như vòng tay ôm nghiệt ngã không rời. 

Chiều nay tôi lại vừa chạy trốn cơn mưa núi, chạy trốn thác ngầm ùa ập của khu rừng nhiệt đới như người ta quẩn quanh chạy trốn những buồn lòng. Cái không gian ẩm thấp khói sương làm lòng chùng xuống như sợi dây phơi lại đem tấm mền ướt ra căng. Về ngồi đây ly cà phê bạn bè khúc hát, lại giống bao lần, chút nồng ấm nhỏ nhoi mà hẳn sẽ nhớ mãi trong đời hoài lận đận.

Bóng của Tấn chợt hiện ra ở khung cửa, làm dấu bảo đừng hát. Cả ba người ngồi nhìn nhau yên lặng. Gì vậy. Tấn chỉ qua phía bên kia đường, khoảng sân trống của cửa hàng quốc doanh. Coi chừng tụi nó. Tấn nói khẽ. Bên kia đám người tản mát. Họ đi ngang qua căn nhà, nhìn chăm chăm và nói với nhau những lời gì không nghe rõ. Kệ họ, Lan vuốt tóc hỏi nãy giờ anh Tấn đi đâu. Anh qua coi lại hàng mai chở xuống Tam Kỳ. Có nhắn gởi gì không. Lan cười. Có. Một ổ bánh mì ba cuội. Tấn quay qua Sang. Còn mày, có xuống dưới đó cà phê sửa đá hay không. Chưa biết. Vậy đừng mong tao bỏ bịch nylon mang lên, nghe con.

Lan đứng dậy nói thôi em về. Tối nay có ciné ở bãi chợ đó, Lan biết chưa. Rồi, anh Tấn. Hồi nãy mấy anh công an qua rủ cửa hàng đi coi đó. Nên Lan qua đây. Đứa con gái nói như một phân trần cho thái độ của mình trước hai người bạn. Một phân trần như là một cần thiết.
Hay là Lan dẫn dùm Sang đi coi. Hắn ở Trà Mi mấy tháng nay, chơi toàn là khỉ. Lan đã ra tới khoảng sân, nói vọng vào, thôi, Lan không dám đâu, chị Hồng đánh chết.

Chờ cho Lan đi khuất, Tấn hỏi nãy giờ mày nói gì với nó. Không nói gì hết, mày hỏi kỳ. Tấn cười con nhỏ dễ thương, nó hỏi mày hoài à. Tại mầy không biết. Thôi Tấn. Tao nghèo nên không ham.
Thì đứa nào chẳng nghèo nếu không là công an là cán bộ. Nhưng mày cũng thấy mình có cái gì khác với tụi nó chứ.

Sang yên lặng. Sự so sánh ấy đã cũ rồi và ai cũng biết. Sang đứng dậy nhét chiếc mũ vải vào túi quần. Mày tính đi đâu vậy. Tao qua trường học tìm Hồng. Nhớ về sớm trình giấy tạm trú, hoặc để lại đây lát nữa tao đi báo. Vậy tiện hơn. Sang trao tấm giấy cho bạn. Đó là giấy hộ thân duy nhất mà hắn có. Giấy phóng thích. Tờ giấy xài một năm nên đã cũ mèm. Ngày nhận tấm giấy ở cổng trại Kỳ Sơn, Sang đã không ngờ là chuyện có thật. Hồi sáng sớm được lệnh khỏi đi cõng gỗ, chỉ lao động gần trại. Mười giờ cảnh vệ dắt ra cổng. Sang không có dịp chào bạn bè lấy một lời. Hắn lãnh phần lương khô , với phương tiện tự túc, băng qua đèo Hố Ngãi, hai ngày sau về tới Đà Nẵng.

Sang bước ra sân. Trời đã tối. Mấy đứa trẻ đang kéo nhau về phía sân chợ coi chiếu bóng. Nếu không có tiếng kêu réo thì mấy cái bóng di động trông giống như bóng ma nhoà với ánh trăng non đầu tháng. Qua cửa hàng, dáng một cô gái ngồi một mình trên bực thềm vắng, hai tay bó gối. Có lẽ là Lan.
- Đi coi ciné hả anh Sang ?
Hắn chợt lúng túng, không biết trả lời thế nào. Có thể Tấn đã nói thật, nhưng dầu gì cũng không là điều hắn trông đợi.
- Lan không đi sao ?
Lan đứng dậy, hai tay vòng trước ngực bước lần ra khỏi thềm. Lan đợi tụi bạn tắm xong, đến lượt mình, rồi đi ngủ. Sang nhìn kỹ người con gái. Lan cũng có mái tóc giống Hồng, dài và gợn, xoả trước trán. Lan có biết phim gì không. Tình cảm xã hội chủ nghĩa kiểu Liên Xô. Chán mớ đời. Lan đã coi rồi à ?  Một lần. Hồi mới về đây. Hồi trước đó Lan làm gì. Không làm gì cả. Năm 75 trường đóng cửa, Lan bỏ về Saigon báo đời ông bà già hết mấy năm. Đi làm đập Phú Ninh không công, muốn khùng.

Câu chuyện của hai người đi ngược về thời cũ. Lan xong tú tài vào Saigon học văn khoa.  Sang ra Thủ Đức về Huế. Sư đoàn 1. Bị thương, về Quảng Nam làm Địa Phương Quân. Có bữa đứng lớ ngớ trên quốc lộ 1 gần cầu Bà Rén và Lan thoáng thấy một lần. Sự tình cờ ấy chỉ đứa con gái biết một mình, như một mình thảng thốt khi chợt thấy Sang đón xe đò ở bến xe huyện này mấy tháng trước , trong một ngày mưa giông.
Lan đã không dám gọi, nhưng kỷ niệm chợt ùa về như những đám mây đen trôi đầy trên thung lũng.

Và chiều nay, thêm một lần nữa...ngôi trường cũ...dãy hành lang dài thẳng tắp, những gốc phượng đỏ ối vào đầu hè. Đêm văn nghệ cuối năm, cái khoảnh khắc rạo rực mà buồn bã. Đứa con trai học trên một lớp, ít nói nhất trong ban văn nghệ trường lúc nào cũng huyên thiên như cái chợ. Sau đó đứa con trai vào lính. Mất hút. Vắng mặt cả trong buổi tiễn đưa của nhà trường sau đêm ấy. Không còn ở sân trường, đường phố hay trước hiên nhà. Đời sống với trăm ngàn ngõ ngách đưa mỗi người về một phương diệu vợi. Đầu này là súng đạn nỗi chết hiểm nguy. Đầu kia là sách vở là thi cử là đời con gái với vòng rào luân lý cấm cản. Mấy năm có gặp. Tình cờ. Đã gọi và đã yên lặng. Mấy năm, cũng có vài biến động nhỏ trong tình cảm của đứa con gái, những cảm xúc hững hờ. Những xa xôi nào thời gian cũng xếp lại cho những lo toan trước mắt. Sân trường đại học mới mẻ và Saigon cũng quá ồn ào với người con gái trọ học . Lan không còn biết nhiều về đứa con trai. Không có gạch nối nào giữa hai người để dò tìm, hỏi tới.
Hình như đứa con trai có ít bạn bè. Vắng mặt hay chìm khuất giữa những đám đông. Thường một mình trên sân trường. Luôn một mình bên hiên nhà vắng, với cây đàn hay sách báo gì đó mà nhiều lần Lan thấy khi có dịp ngang qua.
Sau này, mỗi dịp hè trở về, lại thấy hiên nhà càng vắng hơn. Đứa con trai với bộ đồ lính, cùng những người lính khác trên đoạn đường hừng hực nắng cháy, và cũng như từ lâu nay, hắn không biết gì về người con gái cả.

Mãi tới khi về làm ở cái huyện miền núi này, cùng lúc thoáng gặp Sang, cảm xúc thời nào cũng xô về ồ ạt. Và qua Tấn, Lan lại biết nhiều điều về Sang. Lại biết thêm một người nữa. Hồng. Không biết đã có bao nhiêu Hồng trong suốt một quá khứ dài của đứa con trai ấy nhỉ. Lan tự hỏi chính mình.

Cuối cùng chuyện trò giữa hai người cũng hết. Sang kiếu từ mà không nói hắn sẽ đi đâu. Dù vậy, Lan cũng biết. Ngôi trường có cô giáo tên Hồng nằm cuối đoạn dốc dưới kia. Với ý tưởng ấy, thốt nhiên Lan thấy một nỗi buồn như nghẹn ứ cổ họng. Lan quay vội vào ngồi lại bên bực thềm tối. Nhìn theo.

Có lẽ đây là nỗi buồn sâu xa nhất từ ngày nào Lan biết về đứa con trai . Cảm giác như người ta vừa tìm lại vật gì thân yêu bị thất lạc mà nay đã không còn nguyên vẹn được như thời nào xưa cũ.


Lý Hùng Hà



----------
Nguồn: VĂN
Số 28, tháng 10-1984


Friday, January 15, 2016

MÙA HÈ QUÊ TÔI


                                                                        HỒ TRƯỜNG AN





Thắm thoát mà tôi đã sống năm năm trên đất Pháp.

Tôi đặt chân lên đất Pháp vào đầu xuân năm 1977. Trãi qua đầu mùa xuân cho đến cuối hè ở vùng Alsace (miền Đông Bắc nước Pháp, tiếp giáp biên thuỳ nước Thuỵ Sĩ). Tôi đã trãi qua năm mùa xuân, năm mùa hè tha hương.
Nhưng chính ở vùng Champagne với đồng bằng, thung lũng, hồ lam, sông biếc, tôi mới thưởng thức cái tươi mát của mùa xuân, cái ấm áp nồng mặn của mùa hè.

Patrice ơi ! Mùa xuân trên đất Pháp năm nay khởi sự vào hạ tuần tháng Tư. Trước hết là những cây Lê, cây Anh Đào trong vườn Patrice nở đầy hoa trắng. Cây Lê cây Táo, cây Anh Đào một khi trổ hoa thì cành nó hầu như không có lá, hoặc có chăng nữa thì lá non quá ít, hoa thịnh phóng át tất cả màu sắc của lá đi. Hoa Lê, hoa Táo đều màu trắng, còn riêng hoa Anh Đào thì hồng có, trắng có.
Khu vườn của Patrice bây giờ đẹp vô cùng. Muôn tía ngàn hồng chen màu cỏ non xanh biếc. Hoa Mẫu Đơn tươi thắm quá, tưng bừng phô sắc đỏ hường trong sân. Hoa Cúc vàng, hoa Vạn Thọ hoa Pensée dệt gấm vàng chen đỏ tím trong vườn. Và kìa, men theo lối đi là những khóm Uất Kim Hương đỏ tía, vàng tươi. Hoa Linh Lan li ti trắng. Hoa Dã Yên Thảo và hoa Phong Lữ Thảo đủ màu, hoàng yến, hồng phấn, hồng đào, thiên thanh, tím ngát.

Mùa xuân êm ái trôi qua. Mùa hè đến với ánh nắng vàng cháy.

Trưa hôm qua, trời đẹp, hơi oi bức một chút, Patrice có nhã ý mời bọn Việt Kiều chúng tôi đến chơi quả cầu sắt ở bãi cỏ bên hông nhà. Chiếc bàn tròn lót cẩm thạch trắng đặt dưới gốc cây soan hoa tím, có sô nước đá, có vài thứ rượu , vài thứ bánh và mồi nhắm.
Ôi thời gian cuối xuân sang đầu hè thật là êm đềm thi vị. Thời gian lười biếng trôi qua. Giấc mơ quen thuộc hay giấc mơ xa lạ nào đó dịu dàng kéo về trong lúc tôi thả người trong chiếc ghế bành, làm tôi có cảm tưởng mình làm chủ được thời gian, thắp sáng hiện tại của chính mình. Tôi có thể nhấm nháp từng ngụm rượu, có cảm tưởng mình hớp cái phong vị nhàn rỗi của mùa hè.

Ai không thích chơi trò cầu sắt thì có thể ngồi nghe nhạc, loại dân ca rất xưa, nhưng phần hoà âm rất mới do Nana Mouskouri trình diễn...Chúng tôi vốn thích dân ca của xứ sở mình nên tâm hồn dễ thâm nhập vào dân ca mọi nước.

Tôi ngồi bên ly rượu ngọt mơ màng xa xôi.

Hiện giờ bên quê hương tôi, hè đã bắt đầu rồi. Đây là mùa hoa Phượng thắm, mùa hoa Soan hồng, mùa hoa Giấy tím. Xứ sở tôi thuộc vùng nhiệt đới ít hoa lắm, Patrice ạ ! Nhưng tôi rất hãnh diện về hoa Sen của xứ sở tôi. Phải chăng óc địa phương của tôi to lắm hay sao, nhưng suốt đời tôi chưa từng thấy hoa nào đẹp hơn hoa Sen, dù Sen trắng hay Sen hồng, loại Phù Cừ hay loại Tây Vực.
Có một cuốn sách nào đó nói về hoa Sen, nhưng lại in hình hoa Súng. Hoa Súng xứ sở tôi cũng đẹp nữa, nhưng hoa ấy không thơm.
Patrice ơi ! Hoa Sen thường nở trong ao đầm, mọc từ bùn lầy hôi tanh mà vẫn giữ mùi hương cao quý và thanh khiết lạ lùng. 
Ca dao xứ tôi có câu rằng : 

Trong đầm gì đẹp bằng Sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng
Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Sen trắng đã đẹp như thế, cao quý về phẩm chất như thế, nhưng tôi còn thích Sen hồng nữa, Patrice ạ. Các cô thôn nữ quê tôi vốn thích màu sen hồng nên khi họ may quần lãnh đen óng ả, họ thường cặp lưng bằng lụa hoặc nhiễu màu cánh sen. Đôi khi họ còn cặp lụa màu đọt chuối, nhưng mà màu lá sen non há không phải là màu lục nõn của đọt chuối hay sao? Theo tôi, một cái ao hoặc cái đầm đã có thả Sen trắng thì phải trồng dậm thêm Sen hồng thì cái ao, cái đầm mới có vẻ nên thơ hơn.

Patrice cứ tưởng tượng đi, trong một buổi chiều vàng ấm áp và tạnh ráo, mãnh ao đầm ở miền quê trổ đầy Sen trắng lẫn Sen hồng, sắc hoa sáng rực trên màu lá, rọi bóng vào gương nước xanh trong. Cảnh đó đẹp biết bao ! Giờ chỉ còn sống chập chờn trong ký ức những kẻ lưu vong như tôi. Không hiểu sao khi nghĩ về quê hương, tôi lại liên tưởng tới hoa Sen. Tôi không sao giải thích được sự liên tưởng đó. Nhưng từ trong thâm tâm, tôi biết rằng tôi giữ mãi tình hoài hương cho tới ngày tôi nhắm mắt. Và trong góc kín tâm hồn tôi, hình bóng quê nhà sáng chói mãi như màu sen trắng sen hồng làm rực rỡ cả một khung trời thôn quê mùa hạ.

Lá Sen giống như lá khoai môn, to rộng hơn, cọng sen lấm tấm gai. Khi ta bẻ đôi ra thì cọng bày ngó sen trắng muốt. Cọng luôn luôn kết dính bằng loại tơ mịn dẫu ngó bị tách ra làm hai.
Truyện Kiều có câu rất trữ tình:

Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng

Hoa Sen gồm những cánh hoa thuôn thuôn phớt nhẹ một lớp phấn tuyết nhung mỏng mịn. Những cánh đó ôm lấy một cái gương tròn màu hoàng yến với những tua nhụy dài lấm tấm. Khi cánh hoa đã rụng, gương sen bắt đầu điểm hột nõn nà, cắn ra thì thấy rịn chất sữa thơm béo béo.

Hoa Sen dùng để cúng Phật. Hoa Sen tượng trưng cho đạo Phật, đi vào trong kinh điển Phật giáo, bởi đó mới có kinh " Diệu Pháp Liên Hoa" mà tiếng Pháp dịch là "Le Sutra du Lotus" .
Hoa Sen tượng trưng cho sự tinh khiết, sự mầu nhiệm thiêng liêng trong cõi Hoa Tạng Huyền Môn nào đó, nhưng mà hỡi Patrice, nó mở cho riêng tôi một khung trời, một mái nhà, một tình yêu, mà lịch sử tai ương đã cuốn đi, và tôi lạc mất nó.

Và còn thú vị hơn nữa, quê tôi vào mùa hè còn có hoa Phù Dung.
Như trong cuốn Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần hay trong cuốn " Nàng Á Cơ trong chậu úp" của bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội thì hoa Phù Dung còn có tên gọi là Phù Cừ hay một loại sen trắng, một thứ hoa mọc dưới nước.

Hoa Phù Dung quê tôi là một thứ hoa giống như hoa Bông vải, nở lớn như cái bát, hoa gồm nhiều cánh mỏng như lụa the. Ngộ nghĩnh làm sao, màu hoa lúc sáng tinh sương có màu trắng như lụa cẩm châu, mỏng như the, như voan. Hoa phô màu trắng giữa lúc sương mai ướp mát thảo mộc. Vậy mà khi hoàng hôn xế bóng, hoa đổi ra màu hồng dịu.
Hồi thuở tôi mười tuổi, tôi đã gặp cây Phù Dung ở một ngôi vườn hoang phế. Tôi đem cuốc xuổng bứng một gốc về trồng ở sân nhà, nhưng dù tôi có chăm bón, tưới nước cho thế mấy, cây Phù Dung vẫn chết.

Dù hoa Phù Dung không có hương thơm, nhưng tôi rất yêu nó vì nó chào đời với cái đẹp trong ngọc trắng ngà, nhưng khi chết thì ửng lên một màu hồng dịu rất tình tứ. Bông hoa đó chỉ thích sưởi ánh nắng ấm áp, và không bao giờ thích bóng đêm mực xạ hay ánh trăng lạnh lẽo.

Trên đất Pháp tôi chưa bao giờ gặp hoa Ti Gôn. Đó là loại dây hoa bò khắp hàng rào. Lá hoa Ti Gôn hình trái tim, hoa bé li ti cũng hình tim. Hoa trắng có, hồng có ...đã đem vào bài thơ của T.T.K.H. những tâm sự thê thiết:

Bảo rằng hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi

Hoa Ti Gôn nhờ bài thơ kia đã làm cho biết bao cô nữ sinh vẽ vời trang điểm cho tập lưu bút, tập nhật ký, tập chép thơ tiền chiến. Nó còn được thêu lên mặt gối, trên chiếc khăn tay.

Riêng tôi, vào mùa hè trên quê hương tôi, nếu tôi say ngắm cái đẹp của hoa Sen trắng, hoa Sen hồng, nếu tôi yêu mến được sắc trắng của hoa Phù Dung buổi sáng và sắc hồng của hoa Phù Dung buổi chiều, thì tôi yêu hoa Ti Gôn qua cái đẹp xinh tươi của hoa, cái mềm mại của lá, cái duyên dáng của vòi quấn vào hàng rào song sắt, vào lùm buộc, cành khô.
Tuyệt nhiên tôi không thấy sự liên lạc gì giữa hoa Ti Gôn và bài thơ " Hai sắc hoa Ti Gôn" của T.T.K.H. Thì ra, thuở đó tôi yêu đời, lòng sẵn sàng rung động trước cái đẹp của đất trời nói chung, của hoa cỏ nói riêng.

Mùa hè trên đất Pháp, nếu xuôi về miền Nam, tôi mới thấy các thứ hoa Bông Phấn, Ngọc Trâm, Trúc Đào. Bông Phấn có tên Pháp là Belle de Nuit. Tôi chỉ tưởng rằng hoa Bông phấn loé ra hình sao ở phía đầu với các màu vàng nhạt, thiên thanh, hồng phấn, hồng hạnh...đâu cần gì đợi tới đêm mới nở, mà dưới ánh nắng hè, nó vẫn nở tưng bừng. Hỏi ra thì vào ban đêm, hoa Hồng Phấn mới ngát hương, cũng giống như hoa Dạ Hương vậy.

Hoa Ngọc Trâm màu hỏa hoàng lộn chấm đỏ hoặc màu trắng lộn chấm vàng, giống như chiếc trâm giắt tóc của các thiên cổ mỹ nhân nước Tàu, giờ đây cũng đang thịnh phóng ở miền Nam nước Pháp. Hoa thật đẹp, hoa giống như hoa Ngọc Trâm miền Nam xứ tôi. Cả hoa Trúc Đào trắng, hoa Trúc Đào hồng nữa, lộng lẫy chẳng kém gì Trúc Đào xứ tôi. Thế mà tôi vẫn còn thấy thứ hoa kia không thân mật với tâm tình tôi. Có lẽ tại bối cảnh, cái môi trường của hoa không phải là cái miền đất dĩ vãng mà tâm tư tôi gắn bó, mà giấc mộng xanh của tôi buộc chặc hay chăng ?
Có phải chăng trong đáy sâu của tâm hồn tôi luôn luôn vọng lên câu: " Đây không phải là đất quê nhà" nên tôi không cảm thấy yêu mến hoa trên xứ sở của Patrice ?

Xứ sở tôi thuộc miền nhiệt đới, thật sự chỉ có hai mùa mưa nắng. Tuy nhiên từ tháng Tư dương lịch cứ cho là mùa hạ, ngoài hoa Sen, hoa Soan, hoa Phượng, còn có hoa Đại trắng, hoa Bằng Lăng tím, rực cả vùng sân, cả góc vườn.
Và thú vị quá Patrice ơi ! Mùa hạ quê tôi còn có hoa Hoàng Điệp màu gạch non, hoa Chuối Nước màu vàng điểm chấm đỏ. Hoa Móng Tay hường lợt, hoặc trắng. Hoa Ngãi tím lấm tấm.

Sau những cơn mưa, trong vườn tôi còn bát ngát mùi Nguyệt Quế, Dạ Lý, Dạ Lan, Hoàng Lan, Ngọc Lan, Bạch Ngọc, Sơn Chi...
Cánh Ngọc Lan nuột nà, bông Nguyệt Quế trắng phau như tuyết. Hoa Bạch Ngọc, hoa Sơn Chi thuộc loại hoa Lài cũng trong Ngọc trắng ngà. Có người còn gọi hoa Bạch Ngọc là hoa Lài trâu, còn gọi hoa Sơn Chi là hoa Vành Vành. Hai loại hoa này cũng khá thơm, nhưng mùi hương vẫn không thân mật như hoa cam, hoa bưởi về đêm, Patrice ạ. 

Tôi biết lắm, vùng Champagne mà hiện giờ chúng ta đang ở, rất lộng lẫy về mùa xuân. Tuần rồi, Patrice cùng tôi, vào một xế chúa nhật, lên đồi Montgueux nhìn xuống những ruộng lúa mì trãi nhung xanh mướt mượt mà. Những ruộng Cải dầu hoa vàng như dải lụa tằm. Những ruộng bắp tua tủa lá non rập rờn trong gió. Những ruộng Cải Đường bát ngát lượn quanh chân đồi...
Và hơn nữa, trong rừng, hoa dại -vàng đỏ trắng- dệt gấm từng vùng, mở hội triển lãm cho mùa xuân.

Quê hương của Patrice đẹp lắm. Nhưng mà từ ba năm nay tôi tạm dung ở đây, nó vẫn chưa đi sâu vào hồn tôi để dựng nên một thiên đường tuổi mộng nào. Xứ sở của Patrice có nhiều hoa hơn xứ sở tôi. Nhưng hoa có hương thì quá ít.

Giờ đây ở bãi cỏ, người chơi quả cầu sắt cười nói xôn xao. Dĩa nhạc bắt đầu qua bản "Mariez vous, belles" qua giọng hát ngọt ngào trong trẻo của Nana Mouskouri.

" Nous quittons les Pâques, nous sommes  au printemps
Les vignes sont belles, les blés vont grainant "

Ở bên kia bán cầu, quê hương tôi giờ đây đang mùa gieo mạ trên các thửa ruộng đã dọn đất, đã cày, đã bừa xong. Trong khi đó ở đây nho đã trổ đọt xanh tươi trong các ruộng nho, lúa mì cũng đã kết gié rồi.

Ký ức và dòng liên tưởng đưa tôi về nhà quê nội của tôi bên dòng rạch Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Mưa tuôn nước vào ruộng , rồi tràn ra sông. Sông bắt đầu ngầu đục phù sa. Bây giờ đã hết mùa cá Cơm, cá Lòng tong, cá Linh, cá Rói. Trọn những mùa xuân bên quê nhà, tôi ăn nhiều thứ cá lụn vụn kho tương, kho sả ớt, kèm với dưa leo, giá, rau sống, không hề biết chán.
Mùi cá kho đượm gia vị bát ngát trong căn bếp hoàng hôn. Mẹ tôi nghèo lắm, chỉ có thể nuôi lũ con bằng những món ăn thanh đạm. Nhưng nhờ khéo tay, khéo chế biến mà chúng tôi có những bữa ăn ngon lành.
Tôi biết dùng ngôn ngữ nào để diễn đạt tấm lòng thương con của mẹ tôi, như cha tôi đã ca tụng bà nội tôi: 

Mẹ chúng tôi với nghề nông vất vả
Nuôi dạy con nồng mặn nghĩa tình người
Con lớn lên bằng chén cơm khứa cá
Hồn trông cây nhân ái mãi xanh tươi

Mùa hạ là mùa chị em tôi đi câu cá Mè Vinh, bắt cá Mang Rỗ. Loại cá Mè Vinh này lớn bằng bàn tay, kho măng với cà chua, rau cần, có thể ăn với bún, rau ghém, điểm lất phất những lá rau răm, rau húng và ớt đỏ xắt mỏng. Cá Mang Rỗ vào tháng Năm béo hơn cá Mang Rỗ vào mùa xuân khi cái tết vừa qua.
Chúng tôi còn qua cồn bắt ốc gạo, bắt hến. Ốc gạo có con lớn cỡ ngón tay, luộc với lá sả, lá bưởi, lá ổi nên thịt ốc thơm lắm, chấm với nước mắm chanh ớt rất ngon. Đôi khi chúng tôi cuốn thịt ốc trong bánh tráng với rau sống, giá, dừa nạo, bún trắng, từng cuốn dài để chấm với nước mắm giã tỏi ớt. Riêng hến thì mẹ tôi dùng nấu canh rau dền, bồ ngót, mồng tơi, tập tàng, rồi nêm bằng nước mắm ruốc và ớt bột.

Thật sự món ngon nhất ở quê tôi là món cá Chái, một thứ cá có nhiều xương như cá Duồng, nhưng thịt béo hơn, có nhiều trứng hơn. Trứng cá Chái ngon hơn trứng cá Lóc xa. Cá Chái nấu mẵn ( tức là nấu ngót ) ngon hơn cá Mè Vinh, cá Mang Rỗ nhiều.
Món cá Chái nấu ngót ăn với bún, rau xắt ghém là món ăn của nhà giàu vì cá Chái khó bắt, nhất là khi cá Chái đang mang chùm trứng.

Cổ nhân thường nói, thảo mộc mùa xuân ra hoa, mùa hè kết trái. Câu đó chẳng biết có đúng  không, chứ mùa hè ở quê tôi là mùa mận, xoài. Đu đủ hay mít thì hầu như có suốt hai mùa hè cộng với mùa thu, là mùa mưa ở miền Nam.
Vì ở vùng đất phù sa sông Cửu, vườn của tôi không trồng được măng cụt, bòn bon như ở vùng đất Long Thành Long Khánh, lái Thiêu. Vườn tôi có những cây mít Tố nữ, mít ráo mít ướt. Xoài voi, xoài cát, xoài ang ca. Đó là những trái có mùi thơm. Hương chúng ngát suốt ngày suốt đêm. Từ lúc bình minh sương xuống đầm đìa trên lá cỏ, tới lúc hoàng hôn đỏ rực ráng chiều, và suốt năm canh, trong bóng đêm hay dưới ánh trăng. Hương lan trong sương, hương lãng vãng trong tiếng ve rền rền. Trời càng nóng, hương như đậm đặc hẳn lên. Hương hoa ngát mùi phấn, hương trái ngát mùi mật.

Mùa hè ở xứ tôi còn có dưa gang. Dưa gang không ngọt, phải ăn kèm với đường cát trắng hay đường cát mỡ gà. Nhưng mà khi chín, trái dưa gang nứt nẻ ra, phải bó lại bằng rơm hoặc mo cau. Ấy vậy mà mùi hương của nó vẫn tuôn ra bát ngát cả một mãnh ruộng chiều hè.

Bà Ngoại tôi thường hái xoài chín hườm, đu đủ chín bói rồi giú trong lu gạo, khạp nếp, khạp đậu. Khi trái vừa chín tới là Ngoại xếp trên bộ ván gõ, có trãi chiếu để bạn hàng mua về bán lẻ ở chợ. Mít ráo ăn ngon, nhưng mít ướt Ngoại cũng không bỏ. Ngoại làm bánh phồng mít, mứt confiture mít, kẹo mỉt...với mít ướt.

Trong các thập niên 50-60-70 , người thị dân thích ăn mít, đu đủ, xoài chín trộn nước đá. Cách trình bày một dĩa đu đủ gọt vỏ, xắt từng miếng vuông, chất trên chiếc bàn xinh xắn và trắng muốt. Màu đu đủ vàng làm nổi bật lên những phiến nước đá sáng lóng lánh như pha lê.
Riêng tôi, tôi thích gở mít ra từng múi ăn liền, và đu đủ hoặc xoài, khi bổ ra, cạp ăn tại chỗ mới thú vị. Ăn xong rồi uống một ly nước đá lạnh cũng thú. Nhưng giá mà có một tô nước mưa ngâm với bí đao thì mới cảm thấy gan ruột mình thấm cái mát lâu hơn.

Bà Ngoại tôi hễ cứ vào giữa hè là nghĩ tới việc giải nhiệt cho hai đứa cháu cưng là chị tôi và tôi.
Mùa hè nào hai con mắt của chúng tôi cứ đổ ghèn, mình mẩy nổi rôm sẩy...Có lẽ tại hai chị em tôi ăn kem, uống nước đá, ăn xoài nhiều quá.
Ngoại mở nắp chiếc quả sơn son lấy ra hai cục nhựa trôm ngâm vào nước mưa. Nhựa cây trôm gặp nước nở to ra, trám nguyên lòng chiếc chén sứ. Ngoại bỏ vào chén những cục đường phèn. Đó là món giải lao, giải khát, giải nhiệt.
Ở vùng tôi không có dây Sương Sâm, ngoại tôi lấy lá Vành Vành vò nát rồi lọc lấy nước, để cho đông đặc lại, thơm hơn cả Sương Sâm, nhưng không cứng và chắc bằng Sương Sâm.
Lại nữa, trong vườn có Mía Lao, Rau Má, rau Mã Đề, cỏ Tranh (lấy rễ). Ngoại dùng Mía Lao, Rau Má, rau Mã Đề, rễ Tranh để nấu sâm thang. Đó là thứ nước uống giải nhiệt. Những thứ rau có tánh giải nhiệt là Cao Kỷ, Bồ Ngót, Khổ Qua, Mồng Tơi...nấu canh rất ngon.
Rau Muống, rau Lang, bông Bí luộc chấm mắm nêm ăn há không mát ruột, mát tỳ vị hay sao ? 

Làm sao tôi quên được hình ảnh của bà ngoại mỗi khi mùa hè tới, dù thời gian ngoại còn sinh tiền đã trãi qua bốn mươi năm rồi.

Mùa hè còn tặng cho chị em tôi món dưa ngó sen để chấm nước cá kho, thịt kho, mắm kho. Tặng cua đồng nấu riêu theo kiểu người Bắc, tặng ốc Lát, ốc Bươu để trộn gỏi với khế xắt mỏng hoặc để nấu bún ốc.
Tối tối, mẹ thường rang hạt sen để vừa ăn vừa uống trà huế, đôi khi mẹ đãi cho lũ con thứ chè hột sen nấu với đường phèn. Ăn vào là mát ruột, mát tỳ, mát vị suốt ngày.

Nhóm chơi quả cầu sắt tạm ngưng, trở vào giải khát. Bia rót ra ly thủy tinh vàng ấm như hổ phách. Có người dùng cognac, whisky, cùng các thứ khác pha cocktail...Ngày cuối tuần ở đây sao bình yên, nhàn nhã quá.

Quê tôi, trước khi tôi bỏ đi, đã chìm trong cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại. Chỗ tôi ở thuộc vùng xôi đậu, người dân hứng chịu biết bao tai ương của các cuộc chạm súng giữa đôi bên Quốc Cộng. Tôi phải bỏ nơi chôn nhau cắt rún, lên Saigon vào năm 1961.
Dẫu trong đất nước Việt Nam, vậy mà tôi thương nhớ quê cũ quay quắt. Giờ đây, quê nhà, tổ quốc cũng xa, đất tạm dung dù có nhiều hoa về mùa xuân, nhiều rượu, nhiều món ăn thơm ngon, nhưng cớ sao tôi vẫn chưa thấy hồn mình thấm vào từng khung cảnh, từng nhịp sống nơi đây.

Hồi ở Saigon, để hoài niệm quê xưa, tôi dành trước nhà một khoảng đất trống để trồng cây Trứng Cá, một khóm Bạch Ngọc, một bụi Dạ Lý, một gốc Chanh, một gốc Hoàng Lan.
Rồi tôi khoát áo kaki, đi vào đời  lính, Lê mòn gót giày saut khắp miền Đông, quân khu 3.
Tôi đã cảm khái thân thế người bạn qua thân thế mình bằng bốn câu thơ:

Áo trận mười năm quên cố quán
Tóc da dần khét nắng trăm miền
Đem thân luân lạc yêu đời lính
Ôm súng nhiều hơn ôm vợ hiền

Cũng ở vùng Champagne này, để hoài niệm hình bóng quê xưa, tôi trồng một bồn hoa Vạn Thọ ở bao lơn, cùng rau Húng, rau Ngò. Lá Vạn Thọ có lần tôi trộn với thịt gà, ngon không kém rau Râm.

Nhưng mà Patrice à, bắt đầu giữa thu là bồn chậu đều trống trơn. Xứ Pháp thuộc vùng ôn đới, chỉ có thể trồng rau trong hai mùa xuân, hạ. Bắt đầu cuối thu tôi lại tương tư nắng ở quê nhà, cùng rau húng rau quế.
Và đêm đêm, khi tôi nghĩ về quê hương, về bông Sen, và chân dung mẹ tôi, nước mắt tôi trào ra.

Suốt một năm ròng gần như xa cách kiều bào, tôi xuống hẳn tinh thần. Thế rồi một đêm nọ Patrice ơi,  tôi chiêm bao thấy mình được trở về đầm xưa, tắm giữa nước trong, hái bông sen đỏ.
Tỉnh dậy, tôi không sao dỗ giấc.

Và rồi tôi bắt đầu thực hiện cho mình một bàn thờ Phật. Một anh bạn ở Paris mời tôi trở lại nhà dùng cơm, đãi cho tôi một thứ cá lụn vụn kho sả ớt, ngon không thua cá linh, cá rói bên nhà.
Trước khi về anh còn tặng tôi bức tranh mộc bản do người Tây Tạng vẽ. Hình vẽ cảnh Đức Phật Cồ Đàm diễn Pháp cho các đệ tử của Ngài và Chư Thiên đến nghe.
Nét vẽ sao mà mộc mạc trên nền giấy màu ngà do người Tây Tạng biến chế.

Tôi có thể ngắm lại từng hình toà sen trong tranh. Giữa niềm sùng bái, tôi còn tìm lại một hình bóng cũ của một bông hoa hiếm quý, sống mãi thắm mãi trong thế giới nội tâm, Patrice ạ ! Bởi đó, trên chuyến trở về Troyes, tôi mường tượng lại từng chi tiết của khóm sen, từng hình ảnh của bông sen, trên từng chặng đường mà tôi đã sống, đã đi qua, đã cảm xúc ngậm ngùi.

Biết làm sao khác hơn khi ở xứ lạ quê người mà muốn đi tìm kiếm, chắc mót từng kỷ niệm. Thế nhưng, như Patrice thấy, từ ba tháng qua, tôi đã trở lại thế giới kiều bào tôi. Tôi hồi sinh. Tôi phục sinh. Tôi thăng hoa. Tôi hoan lạc.

Bóng tối, ám ảnh, ác mộng đã cuốn theo mùa đông năm ngoái.

Tôi có cảm tưởng mình đang đối diện với cuộc đời, với tổ quốc. Quê nhà, bông sen, bà mẹ dù chưa gặp lại nhưng tôi vẫn tin ngày tôi trở về không còn xa lắm đâu. Patrice.



Hồ Trường An

1986






-----------------------------------
Nguồn: VĂN.   Số 53-tháng 11/1986



Friday, December 18, 2015

TÚ XƯƠNG


  120 NĂM SINH TÚ XƯƠNG
  (1870-1990)

  NHÀ THƠ ĐẦU TIÊN CỦA THẾ KỶ



                                                                    NGUYỄN HƯNG QUỐC



Trần Tế Xương nguyên tên là Trần Duy Uyên, tự Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, khi thi Hương lấy tên là Tế Xương, sau đổi thành Cao Xương. Thi, bao nhiêu lần đi thi, vẫn chỉ đậu Tú Tài. Thiên hạ quen gọi ông là ông Tú: Tú Xương.

Tú Xương sanh ngày 10  tháng 8 năm Canh Ngọ, tức là ngày 5 tháng 9 năm 1870, ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
Năm 1907, lúc về quê ngoại tại làng Địa Tứ, cũng thuộc huyện Mỹ Lộc ăn giỗ, gặp mưa, Tú Xương bị cảm rồi mất ngày 20 tháng giêng, thọ 37 tuổi.

Trong quyển CÁC NHÀ THƠ CỔ ĐIỂN VIỆT NAM  xuất bản năm 1982, Xuân Diệu xếp Tú Xương vào danh sách năm nhà thơ lớn nhất trong lịch sử văn học cổ điển Việt Nam , sau Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương và Đoàn Thị Điểm (nếu Đoàn Thị Điểm quả là dịch giả của bản Chinh Phụ Ngâm Khúc hiện hành) .

Trước Xuân Diệu, nhiều người đã bày tỏ lòng khâm  phục vô hạn của mình trước tài thơ kiệt xuất của Tú Xương. Tú Mỡ nuôi tham vọng làm một người học trò của Tú Xương. Tản Đà thú nhận với Nguyễn Công Hoan là ông chỉ đuổi kịp tài dùng chữ tuyệt vời của Tú Xương có một lần duy nhất, trong câu "Vèo trông lá rụng đầy sân " (1).
Trước đó, Nguyễn Khuyến, lớn hơn Tú Xương 35 tuổi, ba lần đỗ đầu các khoa thi, nỗi tiếng là một nhà nho uyên thâm, và một nhà thơ xuất sắc, có lần nói: "Kế được ta sau này may ra có Tú Xương" (Kế dư chi hậu kỳ Xương hồ).
Tú Xương mất, Nguyễn Khuyến làm hai câu điếu:

Kìa ai chín suối Xương không nát
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn

Nguyễn Khuyến còn dè dặt: ông dùng chữ "có lẽ" . Đã gần một thế kỷ trôi qua, thời gian càng xác định giá trị thơ Tú Xương, nên có người quả quyết:

Ông Nghè, ông Thám vô mây khói
Đứng lại văn chương một Tú Tài

Căn cứ vào năm sinh, năm mất cũng như hình thức văn tự (chữ Nôm) của Tú Xương, giới nghiên cứu ở miền Nam lẫn miền Bắc đều coi Tú Xương là nhà thơ cuối cùng của thế kỷ 19.

Trong bài Xuân nhớ Tú Xương  đăng trên tạp chí Thời Tập số xuân Giáp Dần (1974) , Thanh Tâm Tuyền đưa ra nhận định mới mẻ và tôi nghĩ, chính xác hơn:

  "Thực chất, ông là nhà thơ mở đầu thế kỷ hai mươi. Ngôn ngữ của ông là ngôn ngữ của thế kỷ này. Vô luân phi luân là Tú Xương. Dấy loạn, tuyệt vọng là Tú Xương. Hiện thực xã hội, hiện sinh chủ nghĩa và cả mối lặng lẽ thâm nghiêm cùng cực nhất cũng đã ở Tú Xương"  (tr. 55) .


Tú Xương đã đem đến cho thi ca Việt Nam nhiều sự cách tân cực kỳ quan trọng. Cách tân về giọng điệu: lần đầu tiên thơ trào phúng được nâng lên thành một dòng riêng biệt. Cách tân về đề tài: lần đầu tiên cuộc sống thành thị được thể hiện trong thơ. Cách tân về chất liệu: lần đầu tiên trong thơ, người ta thấy những con người , những cảnh vật bình thường, thậm chí, tầm thường, ngỡ như không hề có chút thi vị nào cả. Cách tân về ngôn ngữ: lần đầu tiên những chữ dùng, những cách nói hằng ngày nườm nượp ùa vào thơ, diễn hành và hòa nhạc trong thơ. Cách tân về tư tưởng nghệ thuật: thơ không phải để "chở đạo" để "nói chí" mà, trước hết, là để nói về mình, về cái "tôi" vừa nghênh ngang dữ dội, lại vừa lơ láo tủi nhục của mình.

Trừ hình thức chữ viết, ở tất cả mọi phương diện còn lại, thơ Tú Xương đều gần gũi với Tản Đà hơn là với Nguyễn Khuyến, người mất sau ông hai năm.

Trước nay, nhiều người cho là, do thi cử lận đận "tám khoa chưa khỏi phạm trường quy" , do cuộc sống cùng quẫn bế tắc "van nợ lắm khi trào nước mắt" , cho nên Tú Xương đâm ra phẫn thế, dùng thơ văn để giải tỏa những hậm hực, những uất ức, những cay đắng chất chứa trong lòng mình. Thơ văn của ông, do đó, không có giá trị cao (2).

Tôi nghĩ là không đúng.
Ý kiến trên thật ra chỉ là một lời giải thích hơn là một sự đánh giá. Giải thích như vậy chưa chắc đã chính xác. Biến một nhận định thiên về giải thích thành một nhận định có tính chất đánh giá lại càng sai lầm về phương pháp luận.
Vấn đề quan trọng nhất là tiếng chửi của Tú Xương có giá trị văn học hay không, chứ không phải là tại sao Tú Xương lại chửi đời.

Tú Xương chửi ai ?
Chửi Tây: "Lọng cắm rợp trời quan sứ đến" 
Chửi Đầm :"Váy lê quét đất mụ đầm ra" 
Chửi những kẻ vô lại:
"Lắng tai non nước nghe chừng nặng
Chớp mắt trăng hoa giả cách nhèm"  (3)
Chửi những đứa hãnh tiến nhí nhố trong xã hội:
Chí cha chí chát khua giày dép
Đen thủi đen thui cũng lượt là

Tú Xương chửi ai nữa ? Ông chửi chính ông:

Vị xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương ương
Cao lâu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường.

Giả dụ, thơ Tú Xương chỉ toàn là những tiếng chửi rủa như vậy, tầm vóc của ông chắc chắn sẽ kém đi. Nhưng đóng góp của ông không phải không có. Thơ ông, về phương diện này, đã khắc họa hình ảnh một thời kỳ biến động sâu sắc trong xã hội Việt Nam. Thời kỳ những giá trị cũ đang phôi pha dần, những giá trị mới vừa nứt rễ, chưa thành hình dáng. Khiến nhiều kẻ hời hợt vội vã đoạn tuyệt với quá khứ, nhưng lại chưa biết về đâu đến đâu, thành ra đua đòi làm những chuyện nhố nhăng bỉ ổi.

Nhưng thơ Tú Xương không phải chỉ là một tiếng chửi. Phần lớn, đằng sau những lời lẽ hằn học, chua cay kia, giọng của Tú Xương man mác bao nhiêu nỗi buồn, bao nhiêu nỗi đau.
Ông thương cho nền Hán học sắp tàn. Ông thương cho nền văn hoá ngàn đời của dân tộc trước nguy cơ bị tàn phá. Ông thương cả những dòng sông bị lấp trong quá trình đô thị hoá, đang khởi sự ngay trên chính quê hương ông: Nam định.

Chính những nỗi buồn, nỗi đau ấy làm cho tiếng chửi của Tú Xương càng thêm thắm thía. Có cảm tưởng sau khi chửi rủa một cách xối xả và độc địa như vậy, ông về nhà ngồi lặng lẽ khóc. Nghĩ coi, ở đời, hiếm gì người làm thơ trào phúng, thế mà, đến nay, còn lại ngân nga mãi, buốt nhói mãi, chỉ có mỗi tiếng thơ Tú Xương thôi.

Nếu Nguyễn Khuyến tự ví mình với Mẹ Mốc thì Tú Xương  ví mình chú Mán:

Hổ sinh ra lúc thời này
An thân mệnh thế, giấu tay anh hùng
Không danh cho dễ vẫy vùng
Mình không phú quý, mắt không vương hầu
Khi để chỏm, lúc cạo đầu
Nghêu ngao câu hát nửa tàu nửa ta...

Thơ Tú Xương, nghĩ cho cùng, là những tiếng hát "nửa tàu nữa ta" . Đó là một sự phá phách. Và sự phá phách ấy chỉ là một phản ứng chống lại xã hội. Cái xã hội đã bị tha hoá, mọi người ùn ùn chạy đi tìm những quyền lợi ích kỷ và phù phiếm.
Trong hầu hết những bài thơ trữ tình, người ta thấy Tú Xương bao giờ cũng lẻ lỏi và buồn bã. Lúc thì ông đứng bên dòng sông lấp. Lúc thì ông ngơ ngác giữa đường. Lúc thì ông trằn trọc trong đêm khuya khoắt.
Nỗi buồn mênh mông, dằng đặc, tưởng như không bao giờ dứt :

Trời không chớp bể, chẳng mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Bối rối tình duyên cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông...

Những bài thơ hay nhất, cảm động nhất của Tú Xương là những bài thơ có âm điệu buồn buồn, "Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn" . Nhiều lúc Tú Xương cười mà nụ cười cứ như mếu. Như bài thơ dưới đây, ngỡ như có nước mắt ràn rụa trong những vần "i" rền rền, não nuột.

Tấp tễnh người đi tớ cũng đi
Cũng lều cũng chõng cũng đi thi
Tiễn chân cô mất ba đồng lẻ
Sờ bụng thầy không một chữ gì

Thi xong, biết mình hỏng, lại càng buồn ê chề :

Bụng buồn còn biết nói năng chi
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi
Một việc văn chương thôi cũng nhảm
Trăm năm nhân thế có ra gì

Thơ Tú Xương hay ở sự thành thật. Có lẽ, trước thế kỷ hai mươi, chưa có nhà thơ nào thành thật như Tú Xương. Nói về mình, viết về mình, Tú Xương không hề màu mè son phấn. Ông thản nhiên đem hết tất cả những khuyết điểm, nhược điểm của mình phơi bày trên trang giấy.
Không có ai mà cuộc sống đọng lại trong thơ văn nhiều và rõ nét như Tú Xương. Chỉ cần đọc thơ văn  Tú Xương, người ta cũng dễ dàng hình dung được con người Tú Xương, vợ con Tú Xương, cũng như cả cái thành phố Nam Định, quê hương của Tú Xương, vào những năm cuối cùng của thế kỷ trước và những năm đầu tiên của thế kỷ này.

Thơ Tú Xương còn hay ở chỗ giản dị. Ít có người nào làm thơ giản dị như Tú Xương. Không có bài thơ nào mảy may có vết tích sự đẽo gọt, trau chuốt. Dường như Tú Xưong mở miệng đọc ra thơ. Vậy mà, đọc, vẫn thấy hay. Lạ.

Tú Xương là người mang chữ tàu, chữ tây vào thơ:

Hẩu lố, khách đà ba bảy chú
Mét xì, tây cũng bốn năm ông

Trước Tú Xương, đã có ai dám dùng những chữ như thế này chưa ?

Sao dám khinh mình, thầy đâu, thầy bậy, thầy bạ! 
Chẳng biết trọng đạo, cô gì, cô lốc, cô lô!

Hai câu này, trong bài Phú Thầy đồ dạy học, nghe như những tiếng chửi, những tiếng chửi đùa của những kẻ thân yêu nhau đang sống trong một cảnh ngộ nhỡ nhàng, oái oăm.

Khi Tú Xương đùa, ông thật có duyên:

Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà

Khi Tú Xương đằm thắm, giọng thơ ông ngọt ngào lạ lùng.

Ta nhớ người xa cách núi sông
Người xa xa lắm nhớ ta không ? 

Nhắc đến Tú Xương, không thể không nhắc bài Sông Lấp.
Trong bài tiểu luận Thời và thơ Tú Xương đăng trên báo Văn Nghệ  năm 1961, sau in lại
trong tập Chuyện Nghề (1986) , Nguyễn Tuân quan niệm:
"Dẫn thơ Tú Xương mà vô tình hoặc cố ý đánh rớt bài Sông Lấp, tức là bước lên đầu tháp, mở cửa tầng này tầng kia mà quên mất cái chuông trên vọng lâu vậy!"

Bài thơ Sông Lấp như sau:

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ trồng nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Ba câu đầu chỉ là ba câu tả cảnh không có gì đặc sắc. Ai làm cũng được...thế nhưng đến câu
cuối:

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò

Thì mọi sự đổi khác hẳn. Cánh đồng dường như biến mất. Nhà cửa và ngô khoai cũng dường như biến mất. Còn lại buồn tênh những tiếng ếch kêu. Rồi ngay cả tiếng ếch kêu cũng biến mất.
Còn lại, chỉ còn lại ngân nga man mác trong tâm hồn nhà thơ những tiếng gọi đò năm xưa .
Chao ôi, những tiếng gọi đò. Tiếng gọi đò vang vang trong tâm tưởng. Tiếng gọi đò vang vang trong đêm khuya. Tiếng gọi đò vang vang lạnh buốt một vùng Nam Định đang trở mình thay đổi.
Tiếng gọi đò cứ chơi vơi, cứ khắc khoải, cứ lồng lộng ngân dội suốt mấy chục năm trời, trãi qua bao nhiêu cuộc biển dâu, đọng lại trong chúng ta thành những niềm nhớ không khuây về những gì đã vĩnh viễn không còn nữa, trong cuộc đời này.

Thơ Tú Xương là chứng tích của những đỗ vỡ, đồng thời là một sự hoài niệm về một quá khứ xa xôi, ở cái thuở trên quê hương cũng như trong tâm hồn mỗi người còn có một dòng sông Vị Hoàng êm ả ngày lấp lánh sắc trời, đêm long lanh bóng trăng, cả ngày lẫn đêm đều có mây bay trong đáy nước.


NGUYỄN HƯNG QUỐC



Chú thích:

1) Xuân Diệu trong quyển " Các nhà thơ cổ điển Việt Nam" tập 2 , HN 1982, có dẫn lại đoạn hồi ký này của Nguyễn Công Hoan, trang 267-268.

2) Tiêu biểu cho quan điểm này là Phạm Thế Ngữ trong quyển " Việt Nam văn học giản ước tân biên" , tập 3.

3) Ý nói: Nghe chuyện nước nhà thì giả bộ nặng tai để lảng tránh. Gặp phụ nữ đẹp thì giả bộ mắt kém để nhìn thật sát.

---------------------
Nguồn: VĂN số 93, tháng 3-1990

Saturday, December 12, 2015

TIẾNG CHUÔNG


Bác sĩ cho biết Thanh đã bị bệnh ung thư. Chàng cố giữ bình tĩnh, bước ra phòng đợi chờ lấy giấy giới thiệu sang bệnh viện lớn điều trị.
Trên đường lái xe về nhà, chàng cố tự an ủi. Sống chết do trời. Đến số chết phải chết, làm sao cãi được. Thanh cố làm ra vẻ bình thường như chẳng có gì. Ta sẽ nói với mọi người, ta bị bệnh ung thư, thì đã sao.
Thanh tìm chỗ đậu xe, hôm nay thứ Bảy, nhà có khách. Chỗ nhà chàng ở trọ, tổ chức ăn nhậu gì đó. Chàng định bụng khi bước vào nhà, sẽ nói với mọi người, "tôi bị bệnh ung thư rồi". Chàng muốn nói ra liền, một cách bình tĩnh, một cách bình thường, điều mà chàng chờ đợi một tuần nay.
Trong nhà đông quá, tiếng cười nói ồn ào, con nít chạy giỡn lăng xăng. Thanh chào hỏi mọi người, chàng bước đến lấy một lon bia, nhập vào bọn đàn ông đang tán gẫu. Người ta đang hào hứng nói về chuyện nhà cửa. Giá nhà sẽ tăng bao nhiêu phần trăm từ nay đến cuối năm. Làm sao đầu tư cho có lợi. Thanh không thích đề tài này nữa. Trước đây chàng luôn hăng say tranh luận về chuyện địa ốc. Nhưng hôm nay, có một chuyện mà chàng muốn nói hơn hết. Bệnh ung thư.

Nhưng chàng không có dịp. Người ta đang hăng say nói về chuyện kinh tế. Chiến tranh lạnh đang thay bằng một cuộc chiến tranh kinh tế. Nghe mấy chuyện này chàng chán ngấy. Nếu nước Mỹ thua trận thì mấy ông làm gì ? Chúng ta sẽ nghèo vì nước Mỹ đang nghèo dần ? Thanh chợt cười thầm với ý nghĩ đó. Nghèo cỡ nào thì khổ ? Và trên đời này có gì khổ hơn nghèo nữa không.
Thanh nhớ đến chứng bệnh của mình. Chàng bước đến lấy thêm bia. Thanh tìm một xó nào đó ngồi một mình. Chàng cố gắng không nghĩ đến. Tự nhủ lòng, hãy quên mọi việc trên cõi đời này đi.
 
Giữa khuya Thanh thức giấc. Chàng mở tivi, nhưng chỉ xem được một lúc, thấy chán nản tắt đèn ngủ tiếp. Nhưng chàng không sao ngủ được, cứ trằn trọc mãi. Thanh nhìn ra bên ngoài cửa sổ, ánh trăng mờ mờ, gió nhẹ lay mấy hàng cây trúc đào. Chàng chợt nhớ đến thời kỳ thơ ấu.
Thời còn trẻ, mỗi khi bệnh, chàng được cha mẹ săn sóc tận tình. Cha chàng nay đã qua đời, mẹ còn ở Việt Nam. Chàng ở Mỹ một thân một mình. Không vợ con, không thân nhân quyến thuộc. Nay tuổi ngoài bốn mươi, mang bệnh nặng, Thanh chợt thèm, được có mẹ ân cần săn sóc, được cha âu yếm sờ tay lên trán xem đã bớt sốt hay chưa...như ngày xưa chỉ mới lên mười.

Lúc làm hồ sơ nhập viện, chàng khai có đạo Thiên Chúa. Có lẽ vì đây là một bệnh viện Công Giáo, nên trước khi giải phẩu, có một ông Cha đến làm phép lành cho chàng.
Thanh cảm thấy được an ủi rất nhiều. Chàng cảm ơn vị linh mục và bình tâm chờ đợi.
Mười năm trước đây, khi trốn khỏi Việt Nam trên một con thuyền nhỏ xíu, cứ đêm đến là gặp mưa giông. Giữa biển Đông mênh mông, con thuyền chông chênh trong cơn sóng dữ, Thanh nghĩ con thuyền thế nào cũng chìm. Và chàng đã một lần ...chờ chết.
Trong cơn nguy biến, Thanh cầu nguyện, nếu còn sống sót, chàng sẽ theo đạo Thiên Chúa.
Và chàng đã được cứu vớt. Chàng đến được trại tỵ nạn an toàn. Kể từ ngày ấy, chàng trở thành một tín đồ Công Giáo.

Lúc Thanh tỉnh giấc, cô y tá đến vỗ về, cho biết cuộc giải phẩu đã xong một cách tốt đẹp. Người ta đưa chàng về phòng. Thuốc mê tan dần. Một cơn đau nhức bắt đầu tăng lên. Và một nỗi đau đớn khác trong lòng đang dâng lên...đau đớn không cách gì diễn tả nỗi.
Chưa bao giờ Thanh nghĩ mình sẽ chết trẻ như thế này. Suốt cuộc đời chàng, từ lúc mới sinh cho đến nay đã ngoài bốn mươi. Thanh chưa lần nào bị bệnh nặng, khả dĩ gọi là thập tử nhất sinh. Chàng cũng chưa hề bị tai nạn lớn phải vào bệnh viện. Nói chung tình trạng sức khỏe của Thanh ...tốt.
Thanh thầm nghĩ và tự an ủi lấy chính mình. Đâu phải lúc nào bị ung thư cũng kể như đi vào nhị tỳ đâu. Chàng cố tự trấn an. Thiếu khối gì người bị ung thư...được chữa khỏi.
Với ý nghĩ ấy Thanh cảm thấy bình an trong tâm hồn. Chàng thiếp vào giấc ngủ.
   
Những ngày sau đó Thanh đi làm trở lại...như bình thường. Sức khỏe của chàng không mấy suy giảm.  Nhưng tinh thần chàng sa sút trầm trọng. Chàng cứ nghĩ đến cái chết. Chàng bị cái chết ám ảnh một cách kinh khiếp.
Đối với Thanh, chết dần mòn là điều kinh khủng nhất trên cõi đời này. Chàng luôn ước ao, được chết bất đắc kỳ tử. Đùng một cái, chết. Nghĩa là trước đó năm mười phút, mình không hề biết mình sẽ chết.

Một buổi chiều cuối tuần, Thanh cảm thấy thật mệt. Nỗi lo âu đã đến tột cùng. Chàng nghĩ mình sắp
chết đến nơi.
Tiếng chuông nhà thờ đổ ngân nga. Chàng cảm thấy buồn vô hạn. Thanh đi bách bộ đến ngôi giáo đường gần chỗ chàng ở trọ. Thanh bước vào nhà nguyện. Chàng cầu xin Thiên Chúa ban cho chàng một điều. Luôn luôn được bình an trong tâm hồn.

Buổi lễ chiều chấm dứt. Người ta lần lượt ra về. Chàng lén bước đến gần bàn thờ, núp dưới chân tượng ảnh, trốn trong đó. Không ai để ý đến chàng. Người ta khoá cửa nhà nguyện. Tắt đèn. Chỉ để lại một ngọn đèn nhỏ mờ mờ trên bàn thờ.
Thanh cảm thấy yên tâm...nằm chết nơi đó. Chàng nghĩ đêm nay chàng sẽ chết. Nếu được, có hai điều mà chàng ao ước. Thứ nhất, được chết nơi quê nhà. Lúc gần nhắm mắt lìa đời, được nằm trong căn nhà ngày xưa của cha mẹ, được nghe tiếng chim hót ban trưa, được nghe tiếng mưa rơi ban chiều, được nghe tiếng rao hàng lãnh lót, và nhất là được nghe tiếng bà mẹ đang hát ru con.
Thứ nhì, chàng thường ước ao, lúc gần chết được nghe tiếng chuông nhà thờ đổ liên hồi.
Nghĩ đến điều đó Thanh muốn được chết đêm nay. Chết dưới chân bàn thờ Thiên Chúa. Chàng móc túi lấy mãnh giấy nhỏ và cây viết. "Tôi có bảo hiểm nhân thọ năm mươi ngàn. Khi nào tôi chết, dành một phần lo chôn cất, còn lại bao nhiêu, xin vui lòng gởi về cho gia đình tôi ở Việt Nam".

Chàng khóc. Như một đứa trẻ thơ.

Tiếng chuông nhà thờ ban sáng đổ liên hồi. Thanh tỉnh giấc, chợt nhận ra mình vẫn còn sống. Tín đồ bắt đầu vào nhà nguyện đọc kinh buổi sớm. Chàng bối rối không biết tính sao. Không thể ở lại chỗ này mãi được. Thanh đứng dậy, rón rén bước ra ngoài

Thanh lầm lũi trở về nhà. Tiếng chuông nhà thờ đổ ngân nga.



Ý NGÔN







----------------------------------------------------
Biên tập lại truyện ngắn cùng tên. Đăng lần đầu trên VĂN số 88 - tháng 10/1989


Wednesday, November 25, 2015

ĐI BIỂN MỘT MÌNH


Mùa hè năm ấy tôi được nhà trường đề cử đọc diễn văn trong dịp lễ phát phần thưởng cuối niên học. Vừa bước lên sân khấu, tôi đã thấy một cặp mắt ngó mình châm bẫm. Lúc bước xuống người ấy còn dõi theo và đôi môi chợt cười mĩm. Tối hôm đó, trước khi ngủ tôi có nhớ đến đôi mắt và nụ cười nửa miệng của người đàn ông ngồi ở hàng ghế đầu đó một chút xíu. Nhưng tôi quên không để ý cấp bậc trên bâu áo nhà binh của chàng.

Mấy hôm sau trong khi tôi và Kim Hoàng, bạn đồng nghiệp cũng là bạn ở trọ chung nhà, sửa soạn hành lý về quê nghỉ hè thì chàng đến. Người tài xế thắng gấp, chiếc xe lê bánh trên sân cát kêu ken két. Chàng mặc đồ dân sự, trông có vẻ...hiền hơn. Tôi làm bộ mải mê xếp quần áo không để ý. Chàng bước xuống xe, tiến về phía cửa sổ chỗ tôi đang đứng. Chàng nói chào người đẹp. Tôi chưng hửng với lối ăn nói này. Tôi chưa kịp có phản ứng gì thì chàng nói thêm, hôm đó cô Thuý Vân nói chuyện hay quá. Tôi ngạc nhiên hỏi...sao ông biết tên tui. Chàng nói tại vì tôi muốn biết. Cái kiểu nhún vai của chàng thật dễ ghét làm sao. Tôi không biết tên ông là gì, cứ gọi ông và xưng tui cũng được chứ ?
Chàng rút bao thuốc lá trong túi, lấy một điếu châm lửa hút. Chàng nói ở đây ai cũng gọi tôi bằng ông. Chàng nhìn thẳng vào mặt tôi và xuống giọng một cách tình tứ. Nhưng tôi thích Thuý Vân gọi tôi bằng anh hơn. Hàm răng trắng đều. Cái miệng chàng đẹp làm sao.

Kim Hoàng tằng hắng một tiếng, như nhắc chừng trong nhà này còn có sự hiện diện của cô ta. Con nhỏ làm bộ hỏi Thuý Vân có thấy hộp phấn của mình để đâu không. Tôi chắc chắn một trăm phần trăm tự nảy giờ con nhỏ nghe hết lời đối thoại giữa tôi với chàng. Coi bộ nó cũng muốn nhảy vào vòng chiến.
Chàng không nói, nhìn quanh quất trước sân nhà. Chàng nhìn mấy buội hoa ở hàng hiên. Chàng nhìn mấy con chim đang hót ríu rít trên cành như đang rủ nhau về tổ ấm tối rồi. Kim Hoàng nói chẳng lẽ ông cứ đứng bên ngoài khung cửa hoài sao. Con nhỏ tự động mở cửa mời chàng vào. Nó tự giới thiệu, tôi tên Kim Hoàng, mời ông ngồi ghế. Con nhỏ tài lanh dữ. Tôi ghét ai gọi tôi chỉ Hoàng không không, nghe giống tên con trai. Tôi cũng chúa ghét ai viết tên tôi thiếu chữ G . Chàng bật cười, đàn bà có nhiều chi tiết lỉnh kỉnh quá nhỉ. Tôi tên Nguyễn Văn Tuấn, nhưng thường bỏ bớt chữ Văn, cứ gọi Nguyễn Tuấn cho nó tiện. Con nhỏ bỗng cười hăng hắc, tôi cũng bắt chước cười theo nó, một cách gượng gạo.
Chàng không chịu ngồi ghế  mà bước đến nhìn bức ảnh tôi treo trên tường. Tấm hình này tôi chụp mấy năm về trước. Tay chống cằm, đôi mắt mơ màng theo sự chỉ dẫn của ông thợ chụp hình. Kim Hoàng thường trêu ghẹo, người đẹp hôm ấy chắc bị đau răng.
Kim Hoàng đi xuống bếp pha nước chanh mời chàng. Coi bộ con nhỏ chịu chàng dữ. Chàng nói Thuý Vân có giọng nói thật truyền cảm, chắc là dạy môn Văn. Tôi mà làm học trò chắc là chết mê chết mệt cô giáo. Kim Hoàng từ dưới bếp bước lên tay bưng ly nước . Thuý Vân dạy Lý Hoá, còn em mới dạy Việt Văn. Trời ơi con nhỏ xưng em với chàng cái miệng ngọt sớt.

Bỗng dưng chàng mời đi ăn cơm tối. Thật bất ngờ. Kim Hoàng ra dấu bảo nhận lời . Tôi nói ông mời thật đúng lúc, hai đứa tôi chưa ăn cơm.
Tôi trang điểm qua loa sợ chàng chờ lâu. Tôi mặc áo gấm lá tre màu xanh da trời, đôi hoa tai rất to màu trắng, chuỗi ngọc trai và xách bóp đầm màu trắng. Vừa bước ra, chàng nhìn như thể tôi vừa lột xác. Chàng bảo người tài xế ra băng sau ngồi, để chàng tự lái. Chàng đưa chúng tôi đến một quán ăn cạnh bờ sông. Trên đường đi tôi có cảm tưởng thiên hạ nhìn ngắm mình dữ lắm. Chàng lựa một bàn cạnh cửa sổ. Gió ban đêm dìu dịu thật dễ chịu. Chàng đưa thực đơn, bảo tôi chọn món. Tôi trả lại nói ông chọn món gì cũng được. Chàng ghé sát nói đừng gọi tôi bằng ông. Giọng chàng tình dữ, làm như tôi là bồ của chàng không bằng. Chàng hỏi hai cô có muốn uống bia không. Kim Hoàng hào hứng, hai người cụng ly.
Trong suốt bữa ăn , chàng chỉ nói chút ít và hình như chàng có điều lo nghĩ. Chàng kể lại một vài trận đánh lớn trong đời. Giọng chàng có lúc hăng say, có lúc hơi tếu. Chàng có nhắc sơ qua về thời thơ  ấu ở Vĩnh Long. Tôi nói quê tôi ở Sa Đéc, khít một bên vách với quê chàng đó.
Trên đường về, chàng hỏi hai đứa tôi ăn có ngon không. Có muốn tuần sau trở lại ăn một lần nữa không. Tôi nói ngày mai tôi về quê nghỉ hè rồi. À ra thế, chàng hỏi khi nào thì Thuý Vân trở qua đây lại. Tôi nói tháng sau trở qua gác thi tú tài.
Chàng chỉ ngồi trên xe không bước xuống đưa tôi tận cửa như tôi muốn. Tôi đứng tựa cửa nhìn chàng de xe cho tới khi đi khuất.

Kim Hoàng nói lúc bồ ngồi xe Jeep, trông bồ sang như một bà tướng. Tôi nói thiệt vậy sao nhỏ. Tôi bước đến trước gương lớn, ỏng ẹo ngắm dung nhan. Tôi xoay người qua, trở người lại ngắm nghía chính mình. Cô Thuý Vân đẹp nhất trường tỉnh lỵ Mỹ Tho chớ bộ. Kim Hoàng nói nhưng dáng bồ hơi gầy, mông nhỏ mà bộ ngực lại to quá cỡ thợ mộc. Mũi cao nhưng cánh mũi hơi thô một chút. Tôi nói vừa thôi chớ nhỏ. Bồ tả người đẹp mà đọc lên chỉ toàn điểm xấu.
Kim Hoàng nói bồ đẹp thật sự chớ. Ai cũng công nhận bồ đẹp. Thầy Huân nói cặp môi bồ đỏ thẫm lại ươn ướt, tình lắm đó nhe. Quỷ thần ơi, bộ mấy người đem nhan sắc của tôi ra bình phẩm hả ? Con nhỏ chối bai bãi đâu có đâu có.
Tôi vào phòng tắm rửa mặt và thay đồ ngủ. Lúc lên giường  nằm tôi nói chàng coi vậy mà hiền queo. Kim Hoàng nói coi chừng lầm đó nhe em. Chàng nổi tiếng đào hoa ở đây ai mà không biết. Bồ cũng biết chàng nữa sao, tôi hỏi. Tui thương thầm trộm nhớ ổng từ lâu rồi, con nhỏ pha một chút hài hước, bỗng dưng tối nay thằng chả đem xác lại nộp cho bà. Nghe vậy tôi không nhịn được cười. Thôi để nhường lại cho bồ đó. Con nhỏ giận lẫy, không thèm nữa đâu.

Mấy hôm hè chẳng có gì thú vị. Nhà ba má tôi vắng hoe. Ngày nào tôi cũng trông thư, nhưng chẳng ma nào gởi cho tôi cả. Tôi có nhớ chàng một chút, thỉnh thoảng. Đôi lúc tôi nghĩ sao chàng đến tìm mình. Chàng đào hoa lắm kia mà. Giờ này chàng đang làm gì. Chàng có nhớ đến mình không hay là đang cặp kè một ả nào đó, rồi cũng đưa vào quán, rồi ăn rồi uống. Rồi gì nữa nhỉ. Tôi chấm dứt suy nghĩ ngay chỗ đó. Tự nghĩ mình với chàng đã là gì đâu.
Trở lại Mỹ Tho buổi trưa, buổi chiều đã thấy mặt chàng. Kim Hoàng trêu ghẹo, coi bộ hai người mê nhau rồi nhe. Chàng đưa tôi lại quán ăn cũ, cũng những thức ăn lần trước do chàng tự chọn. Nhưng thái độ chàng thân mật hơn, chàng kể tôi nghe nhiều chuyện lý thú. Tôi chợt thấy mình đã xưng em và gọi chàng bằng anh.

Chàng thường đến gặp tôi vào cuối tuần, lúc đi ăn lúc đi xem chớp bóng. Có lúc chàng đưa tôi về vùng quê câu cá. Đôi khi chúng tôi chỉ ngồi trên xe chạy loanh quanh thành phố, không ghé lại một chỗ nào cả, rồi về. Một hôm, chàng bất ngờ ngõ lời cầu hôn. Tôi thật bối rối. Tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện này cả.
Tôi hỏi ý kiến Kim Hoàng. Con nhỏ làm ra vẻ thầy đời. Chúng mình đã hai mươi bốn rồi còn gì nữa. Lấn bấn mà già tới nơi. Bồ chưa  quyết định là vì bồ chưa cảm thấy yêu anh Tuấn lắm phải không. Không hẳn vậy, mình cũng không hiểu rõ mình. Lập gia đình lúc này, còn hơi sớm. Nhưng ông bà già cứ mong mình lấy chồng. Ai cũng được. Miễn là lấy chồng. Má mình sao cứ sợ cho cái tuổi Dần của mình. Biết vậy, hồi trước bà đẻ mình sớm một chút hoặc trễ một chút có hơn không. Đừng nói nhảm nữa bà ơi. Kim Hoàng nói, đàn ông hay đàn bà , ở một cái tuổi nào đó, cần lập gia đình, đôi bên thấy nhau tạm được thì cứ lấy nhau. Rồi đâu cũng vào đó. Rồi thành chồng thành vợ. Rồi sinh con đẻ cái. Tôi chận lời, thôi đủ rồi nhỏ. Ngày mai mình sẽ cho chàng biết mình nhận lời.

Hai tuần sau  chúng tôi làm lễ hỏi. Bà chị tôi kề tai hỏi nhỏ, bộ kẹt rồi hả cưng. Cái điệu tôi làm đám cưới gấp còn hơn ma rượt ông vải, ai mà không nghĩ tôi mang bầu.
Trước ngày cưới hai tuần, chàng đưa tôi lên Sài Gòn mua sắm đồ cưới cùng nhiều món linh tinh khác. Chúng tôi dự định mướn khách sạn ngủ lại đêm. Buổi chiều khi ăn cơm xong, chàng hỏi em có còn trinh tiết không. Tôi có hơi bất ngờ với câu hỏi này, mặc dù đối với tôi điều này không có nghĩa gì cả. Tự dưng tôi muốn về ngay Mỹ Tho. Tôi cứ nằng nặc đòi về cho bằng được. Suốt đoạn đường chàng cứ càu nhàu, em thật kỳ quặc, anh chẳng hiểu gì cả.
Từ hôm đó tôi cảm thấy có điều gì hụt hẫng  trong tôi, mà chính tôi cũng không hiểu được. Càng gần đến ngày cưới, tôi bỗng có ý định đình hoãn cuộc hôn lễ. Tôi đem việc này nói với Kim Hoàng. Con nhỏ la bài hãi. Bộ bồ điên rồi hả. Biết bao cô gái mơ được lấy ông Tuấn, sao tự dưng giở chứng vậy. Tôi cười trừ. Giỡn một chút cho vui vậy thôi. Đồ quỷ. Rồi tôi và nó ôm nhau cười.

Tôi về nhà cha mẹ làm lễ cưới. Tôi không cảm thấy nôn nao, cũng không hồi hộp, cũng không  vui không buồn. Kim Hoàng là cô dâu phụ, theo nhắc tôi từng chút một. Ngày hôm ấy tôi như một diễn viên, làm đúng những gì đạo diễn chỉ bảo. Duy có lúc bước ra khỏi nhà lên xe hoa. Giây phút ấy tôi thấy cảm động làm sao. Má tôi khóc tấm tức. Lúc nhìn Dì Năm, vú nuôi tôi từ nhỏ khóc mếu máo, tôi không nhịn được bật cười khúc khích.
Chiều hôm ấy, một buổi tiệc cưới thật lớn, quan khách là các người có tiền bạc và quyền thế trong thị xã. Tôi thay đổi xiêm y  ba lần. Ai cũng trầm trồ cô dâu đẹp quá. Có nhiều người còn kéo tôi đến gần, nhìn ngắm vòng chuỗi kim cương sáng lấp lánh trên ngực.
Sau tiệc cưới họ hàng nhà gái trở về ngay. Lúc sắp sửa lên xe, ba má tôi dặn dò, thôi ba má về, hai con ở lại thương yêu đùm bọc nhau. Tôi cảm động ứa nước mắt. Thương cha mẹ quá chừng.

Tiệc tàn, chúng tôi đưa nhau trở về nhà. Tôi cảm thấy hơi cô đơn một chút. Vừa bước vào phòng chàng ôm chầm lấy tôi hôn lấy hôn để. Người chàng nồng nặc mùi rượu. Tối nay chàng quá vui, uống rất nhiều. Tôi cởi giày chàng ra, rồi áp mặt vào ngực chàng. Chàng siết cứng lấy tôi. Hôn như mưa vào tóc vào mặt. Tôi cảm thấy người nóng ran, với tay định tắt đèn, chàng bảo đừng, cứ để vậy.
Tôi cúi xuống hôn lên ngực chàng. Dưới ánh đèn, thân hình chàng thật quyến rũ. Chốc sau, chàng ngủ vùi, hơi thở nồng mùi rượu.
 Tôi đứng dậy bước đến ngồi bên bàn phấn.  chải lại mái tóc đầy keo. Lấy gòn chùi những vết phấn trên mặt. Tôi có cảm tưởng bứt rứt, muốn đi tắm. Nước lạnh làm tôi tỉnh người, tôi thấy thật dễ chịu.
Lọ hoa hồng vẫn còn sắc thắm, tỏa hương thơm dìu dịu. Hai chữ song hỷ bằng đồng, treo nơi cửa, gió nhẹ thổi kêu leng keng. Tôi chưa muốn ngủ, tò mò mở những món quà xem họ tặng những gì. Nhưng không thấy thú vị, đành thôi. Tôi nghĩ từ hôm nay mình không còn là con gái nữa. Mình đã có gia đình. Từ nay cuộc đời mình sẽ trói buộc suốt đời vào người đàn ông đang nằm ngủ say vùi đằng kia. Tôi chợt khóc, tôi cũng chẳng hiểu vì sao.

Nhà có một anh tài xế, một anh tà lọt sai việc vặt và một chị bếp. Nhưng chàng thích tự tay tôi nấu nướng hơn. Nhưng tôi ghét chàng hay chê mặn chê ngọt, trong lúc chàng chẳng một lời với chị bếp, dù đôi khi chị nấu dở khẹc.
Một hôm đi dạy cả ngày, tôi mệt đừ. Hôm đó tôi làm món cá chiên tươi dầm nước mắm. Tôi nghĩ rất tuyệt. Ngờ đâu cũng bị chàng chê mùi hơi tanh. Tôi tức mình chạy lại tủ lạnh đứng khóc. Chàng không nói lấy xe bỏ đi mất. Tôi buồn quá định đến rủ Kim Hoàng đi xem bói, nhưng ngại trời mưa lớn nên thôi. Chị bếp không biết có nên dọn mâm cơm đem cất, hay cứ để vậy. Đứng xớ rớ rồi bỏ lên võng nằm ca vọng cổ. Trời mưa hoài làm tôi buồn muốn thúi ruột.

Chàng trở về bảo chị bếp sao không dọn mâm cơm đi. Rồi tỉnh bơ đọc báo làm như chẳng có việc gì xảy ra. Tôi tức điên người trằn trọc không ngủ được. Tôi lấy cái gối chận phía giữa làm ranh giới phân hai chàng và tôi. Lúc gần sáng chợt nhận ra chàng đang ôm cứng. Tôi cố đẩy chàng ra nhưng không được, đành buông xuôi để chàng một mình độc diễn.
Buổi sáng chàng không đưa tôi thẳng đến trường mà lại đưa vào một quán ăn. Còn giận chàng nên định bụng đóng vai câm điếc . Chàng hỏi muốn ăn gì, tôi chẳng thèm trả lời. Chàng tự động gọi cho tôi cơm tấm bì sườn ( chắc muốn đền bữa cơm chiều qua ) . Tôi nói với người hầu bàn, không, cho tôi một tô phở tái. Chàng cười cười. Tôi tức muốn cành hông. Muốn cắn muốn nhéo chàng cho hả giận. Tô phở nóng bốc mùi thơm phức. Tôi ăn một cách ngon lành, tôi tự nhiên bưng tô lên húp nước lèo. Đôi lúc tôi thích như vậy. Thấy thoải mái.
Chàng nói nhìn em ăn mà phát thèm. Lần sau nếu có giận nhớ ăn cơm no rồi hãy khóc. Chàng không xin lỗi mà cứ trêu tức tôi hoài. Tôi trở lại vai tuồng câm điếc. Chàng huýt gió một điệu nhạc nghe lạ hoắc.
Tôi đến trường trễ gần mười  phút. Học trò được dịp phá phách ồn ào như cái chợ. Tôi gọi hai đứa lên trả bài. Không đứa nào thuộc. Tôi nói mấy em làm cô chán quá, nhưng tôi tha không cho điểm xấu vào sổ đầu bài.

Tôi mang thai vào lúc chiến sự trở nên sôi động. Khi cái bụng của tôi mấp mô thì cộng sản về thành. Chúng bắt chàng dẫn đi mất, tôi ra khỏi nhà không kịp lấy quần áo.
Tôi trở về nhà cha mẹ, lòng hoang mang không biết chàng sống chết ra sao. Những ngày sau đó là những ngày buồn bã nhất trong đời của tôi. Tôi cứ khóc hoài. Má tôi theo an ủi, mày mang thai mà cứ khóc, mai mốt sanh con mặt mày buồn thiu.

Một buổi sáng tôi thấy đau bụng và có triệu chứng khác lạ. Tôi cho mẹ tôi hay. Bà lẳng lặng xếp vào giỏ xách cái bình thủy đựng nước nóng, một cái ly, một cái muỗng , một hộp sữa, tả lót và vài món linh tinh khác. Rồi bà đưa tôi đến nhà bảo sanh, không xa nhà tôi lắm.
Tôi nhớ lúc còn bé, có lần nghe mẹ hát ru con. Đàn ông đi biển có đôi. Đàn bà đi biển mồ côi một mình. Tôi không hiểu hỏi vì sao. Mẹ tôi vỗ đầu cười nói. Con nhỏ này dốt quá. Người ta ví đàn bà lúc sanh đẻ, cũng nguy hiểm như đàn ông lúc đi biển vậy. Giờ tôi sắp đi biển. Tôi không sợ nguy hiểm, nhưng tôi sợ phải đi biển một mình.
Tôi ước gì có chàng ở đây. Để tôi nhìn vẻ mặt lo âu của chàng. Để tôi được nắm cánh tay rắn chắc của chàng mà yên tâm hơn. Tuấn ơi ! Giờ này anh đang ở đâu. Anh có biết anh sắp làm cha.
Tôi úp mặt xuống gối, cố dấu giọt nước mắt vừa trào ra.

Mẹ tôi ra phía trước bệnh viện mua một ít quà bánh . Tôi không đói nhưng cố ăn một chút cho bà vui. Trời tối mẹ tôi về nhà vì bệnh xá không còn chỗ cho thân nhân thăm nuôi nghỉ ngơi. Nhìn bà cầm nón lá bước ra về, lòng tôi như se thắt lại.

Bên cạnh giường tôi là một thiếu phụ còn rất trẻ. Vẻ mặt hai vợ chồng non choẹt. Tôi đoán chừng hai mươi. Họ nói chuyện ồn ào về mùa lúa, mùa dưa. Rồi hội hè đình đám. Cả bên nội bên ngoại đứa trẻ đều đến thăm. Một người đàn bà, mà tôi đoán là bà ngoại đứa trẻ, nói với thiếu phụ. Con nhỏ này tuổi Mẹo, sinh giờ Hợi, tốt lắm đó.
Tôi không biết giờ Hợi là giờ nào. Nhìn khắp phòng xem mấy giờ rồi, nhưng ở đây người ta không có treo đồng hồ.
Tôi nhớ ba tôi ngày trước, mỗi khi anh em chúng tôi ra đời, ông đều giữ tấm lịch ngày hôm đó. Có ghi rõ ngày tây ngày ta, giờ tốt giờ xấu. Những việc nên làm, những điều nên tránh. Bất chợt tôi muốn biết hôm nay là ngày mấy. Nhưng trong nhà thương không có treo lịch Tam Tông Miếu.
Tôi không tin dị đoan nhưng cũng có lần theo Kim Hoàng đi lấy số tử vi. Thầy bói nói mệnh tôi vô chính diệu, nhưng nhờ cách tam không, phú quý khả kỳ. Giờ nghĩ lại thấy có phần đúng. Tôi có bao giờ nghĩ rằng cuộc đời phú quý của tôi chỉ trong một sớm một chiều đâu.

Người đàn ông đứng kế giường tôi bắt đầu nựng con. Anh ta nói với vợ, cái mặt con nhỏ giống y chang em, nhưng cái  miệng giống anh, bàn tay bàn chân giống anh. Rồi anh ta chu cái miệng nói đã đớt. Con mèo con, con mèo mày kêu...meo meo.
Tôi bỗng thèm khát thật sự cái hạnh phúc ở sát cạnh tôi, mà tôi không có được. Tôi thèm được có chàng ở đây. Để tôi nói, anh ơi lấy dùm em ly nước, để tôi nói anh ơi đuổi muỗi cho con, để tôi nói anh ơi thay tả con dùm em đi.

Tuấn ơi khi nào anh mới về để nói với em con mình nó giống ai.

Tôi đau bụng nhiều khi có y tá trực đến thăm. Người ta đưa tôi lên phòng sanh. Tôi kêu đau quá, cô mụ an ủi rán một chút nữa đi cô. Tôi cảm thấy đau đến chết được  khi cô đỡ la lên con trai con trai.

Nước mắt tôi chợt trào cùng với tiếng khóc chào đời của thằng bé.



Ý NGÔN








------------------------------------------------------------------------
Biên tập lại truyện ngắn cùng tên, đăng lần đầu trên VĂN  số 50  tháng 8-1986

Tuesday, November 24, 2015

GIÓ NGƯỢC CHIỀU


Tôi quen Lợi khi mới vào college. Tôi học chung với nó hai lớp. Lợi đến làm quen với tôi trước. Nó tìm cách ngồi cạnh tôi. Sau này có lần nó nói thấy tôi có vẻ hiền lành dễ thương.

Lợi cũng khá đẹp trai. Mũi cao, trán rộng, môi son. Cặp mắt sáng với đôi kính cận làm tăng vẻ con nhà học thức. Chiều cao trung bình, đối với tôi, ngoại hình như vậy quá ổn, dù tướng đi của nó hơi xấu.

Từ khi mới lớn, tôi cũng được nhiều người khen đẹp trai. Nhưng tôi hơi ốm so với chiều cao. Nét mặt nhìn kỹ có nhiều chỗ thô tháp. Giọng nói thì dở quá. Tôi thường có mặc cảm không tốt với giọng nói tiếng cười của mình. Có lẽ vì vậy tôi thường có cảm tình với người nào có giọng nói ấm áp truyền cảm, dù đôi khi người đó rất xấu.

Lợi thường đến đón tôi đi học. Tôi cũng có xe riêng nhưng thường đi chung với nó. Tôi thích được đưa đón. Lợi trái lại, thích đưa đón người khác. Thật ra nó là người năng động. Nó làm gì cũng hăng say lẹ làng. Lợi bằng tuổi tôi, nhưng lúc nào cũng có vẻ từng trãi. Thỉnh thoảng nó chê tôi hiền quá. Sao bạn không nói thẳng là tôi khù khờ. Nó cười trừ.

Trong cuộc đời học sinh, tôi chưa bao giờ đứng hạng nhất. Dù rằng tôi không phải là đứa ngu si đần độn gì cả. Ngược lại, đôi khi tôi cũng tự hào về mình. Tôi nhớ lúc lên mười , tôi đã ham đọc truyện thiếu nhi và bắt đầu mê kiếm hiệp. Mười lăm tuổi tôi đã bắt đầu viết lách lai rai gởi bài đăng ở mấy tạp chí con nít.

Nhưng khi vào Trung học, tôi chỉ là một học sinh tầm thường. Tôi học không đều, những môn nào tôi thích, tôi học khá. Môn nào tôi không thích, tôi chỉ học thờ ơ cho có lệ. Lý do tôi học dở, một phần cũng vì tôi hay buồn bất tử. Những khi buồn tôi không còn thiết tha đến gì cả.

Tôi bắt đầu biết đến khoái cảm nhục dục khi học lớp Bảy. Thuở ấy tôi vừa mười ba. Một buổi tối nghe mấy chú lính nói chuyện với nhau, họ nói chuyện tục, họ kể về mấy chuyện làm tình. Tôi còn nhớ rõ, buổi tối hôm ấy, lần đầu tiên biết được người đàn ông làm tình với người đàn bà như thế nào. Tâm trạng của tôi lúc đó rất kỳ cục. Tôi có cảm giác nhơ nhớp, ghê tởm.

Người yêu tôi đầu tiên có lẽ là Trương, thằng bạn học ngồi kế cận năm lớp Bảy. Người yêu tôi chớ không phải người tôi yêu. Tình yêu của nó chỉ một chiều. Trương lớn hơn tôi hai tuổi, nó si mê tôi một cách say đắm lạ lùng. Sau này, mãi về sau này tôi vẫn không hiểu sao nó mê tôi đến như vậy. Nó là một đứa con trai bình thường . Ý tôi muốn nói, nó không phải là người đồng tính luyến ái hay gì cả. Không, không phải như vậy.

Trong khi Trương càng lúc càng tỏ ra quyến luyến tôi hơn, thì tôi có cảm giác ...sợ nó. Tôi dần tránh xa Trương. Nó buồn bã khi thấy tôi thay đổi. Có nhiều buổi tối, Trương và mấy đứa bạn cùng lớp đến  đứng trước cổng nhà tôi. Tôi nghe tụi nó nói chuyện huyện thiên, nhưng tôi tránh không gặp mặt.
Sắp đến hè năm đó, tôi không còn nhớ tôi có cử chỉ như thế nào. Trương nhìn tôi bằng một cặp mắt hết sức buồn bã. Nó viết vào một mãnh giấy nhỏ và dùng dây thun ném về chỗ tôi ngồi. Trương nói sắp chia tay rồi sao có hành động như vậy.

Mùa tựu trường đến, tôi và Trương không còn đi chơi với nhau nữa. Nó đã quên tôi rồi. Nó trở về đời sống bình thường. Năm lớp Mười một, Trương cặp bồ với một đứa con gái cùng lớp.
Sau này nó lấy vợ, nó lấy một người nào đó, không phải cô bồ năm xưa.

Chắc nó không còn nhớ đến tôi. Nhưng không hiểu sao, tôi vẫn thỉnh thoảng nhớ về nó. Tôi không yêu Trương. Tôi chưa bao giờ yêu Trương. Nhưng kỷ niệm về một người yêu mình say đắm làm tôi khó quên. Tôi sung sướng được có một đứa con trai yêu mình.

 Trong khi Trương trở về đời sống bình thường, thì tôi lớn lên trong một đời sống...bất bình thường. Mười lăm tuổi, tôi bắt đầu mê mấy anh chàng tài tử đẹp trai. Năm mười bảy, tôi mê một tên bạn cùng lớp. Năm mười tám, tôi thất tình một thằng bạn học khác. Thuở ấy, tôi gần phát khùng. Tôi giữ kín các mối tình một chiều đó tận đáy lòng. Tôi cố gắng kềm hãm cảm xúc. Nhưng càng đè nén bao nhiêu, tôi càng khổ sở bấy nhiêu.

Đó là lý do của những cơn buồn khơi khơi của tôi. Đó là lý do khiến tôi thờ ơ với việc học hành thi cử. Đó là lý do khiến tôi càng ngày càng đâm ra thờ ơ với tất cả mọi việc trên cõi đời này.

Lợi học rất giỏi, nó rất ham học. Nó mê học hơn mê gái. Mộng của nó là theo đuổi ngành Luật, dù sang đây tuổi của nó có hơi muộn màng. Lợi thường nói, trong khi nó không đủ thời giờ học bài, thì tôi lại có quá nhiều giờ rỗi rãnh. Tôi cũng thường theo Lợi vào thư viện, nhưng chỉ học bài làm bài vừa đủ. Còn thì ưa đọc sách báo vớ vẩn. Có nhiều buổi chiều, tôi ngồi dưới mấy gốc cây trong sân trường, ngó ông đi qua bà đi lại hằng giờ không biết chán.

Ngoài giờ học, tôi và Lợi có làm thêm ở phòng ăn của trường. Nơi đây tôi quen Thuý. Nàng có vẻ chịu tôi dữ. Nàng thường quanh quẩn những nơi có sự hiện diện của tôi, thư viện, cafeteria chẳng hạn. Nhưng tôi đáp lại tình nàng bằng một thái độ lạnh nhạt. Tôi không hiểu sao Thuý lại thích tôi, trong khi tôi lạnh như nước đá cục.

Phượng là bạn thân của Thuý, ăn nói rất bạo dạn. Có lần Phượng hỏi Lợi, trước mặt tôi, có phải anh Lợi không giống mấy người khác phải không. Tôi ngượng đến đỏ mặt, Lợi tỉnh bơ. Nó chẳng hiểu lời ám chỉ xa xôi của con bé. Nghĩ cho cùng, nó thản nhiên vì nó đâu có phải như vậy.

Một hôm, sau khi thi final xong, Lợi muốn đi chơi xa  sau bao ngày học hành miệt mài. Tôi đề nghị đi casino ở Reno. Lợi đồng ý, dù hai đứa chẳng mấy thích các trò chơi đen đỏ.

Qua khỏi Sacramento khoảng ba mươi phút lái xe, đường bị kẹt vì tuyết xuống. Lần đầu tiên nhìn tuyết rơi, tôi reo vui nói với Lợi. Những hạt tuyết nhỏ bé rơi rơi có hình cánh hoa y chang trong hình vẽ. Lợi bước ra ngoài xem xét tình hình. Sau đó nó trở về xe, tôi tựa đầu lên vai Lợi, nghe niềm vui đang xôn xao dậy sóng trong lòng.
Sau khi xe cào tuyết dẹp  đường, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Đến Reno lúc nửa đêm, chúng tôi tìm mướn khách sạn. Sau khi ăn tối, tôi giả vờ mệt mỏi và than buồn ngủ. Tôi chỉ muốn kéo Lợi về phòng trọ.

Phòng chúng tôi có hai giường, nhưng tôi nhào vào giường của Lợi ngủ chung với nó. Lợi ngủ để mình trần. Nhìn nó mà tôi thèm muốn phát khùng. Trước  đây tôi đã nhiều lần ngắm lén nó rồi, những khi tụi tôi tắm chung với nhau.

Hai đứa nói chuyện bâng quơ. Lợi sẽ chuyển qua một trường khác để hoàn tất chương trình cử nhân. Nó chọn một trường lớn, danh tiếng ở một thành phố khác. Nó thuyết phục tôi tiếp tục việc học. Tôi trả lời ởm ờ, để xem, cái đó cũng còn tuỳ hoàn cảnh.

Tôi bắt đầu đưa tay xoa nhẹ lưng của Lợi. Nó uốn éo thân mình khi tôi đưa mũi cọ vào gáy của nó. Lợi kể tôi nghe về đứa con gái nó vừa quen. Nó nói cô nàng cũng khá thông minh . Nó kể tôi nghe những lần nó và cô gái đó đi chơi. Nó nói nàng thật tuyệt vời trong phòng the. Tôi cảm thấy đau đớn. Tôi ghen tức với đứa con gái tôi chưa từng gặp mặt.

Lợi ngồi dậy bật đèn, lôi từ trong ví của nó hình con bé đó cho tôi xem. Tôi đau khổ thú thật tôi yêu nó từ bao lâu nay. Lợi có vẻ hơi bất ngờ khi bị tôi tỏ tình. Nó nói không, không, Giang yêu Thuý lắm kia mà. Giang có người yêu, Thuý đó, Thuý đó.

Lợi nằm im quay mặt sang hướng khác. Chốc sau nó nhảy sang giường bên cạnh ngủ một mình. Tôi nhìn ra bên ngoài, tuyết rơi nhẹ nhàng bay bay trắng xoá. Lòng tôi buồn và lạnh như mùa đông.

Buổi sáng  lúc thức dậy, Lợi có vẻ ngượng. Tôi làm tỉnh. Sau khi tắm rửa xong, hai đứa dẫn nhau đi ăn sáng. Rồi chúng tôi lên xe trở về, không đánh bài đánh bạc gì cả. Tôi để Lợi lái xe, tôi kéo ghế thấp xuống, cố dỗ giấc ngủ.

Tuần sau tôi gọi điện thoại, Lợi trả lời nhát gừng. Sau đó nó có đến nhà đưa mấy tấm hình chụp hôm đi chơi ở  Reno. Lúc ấy tôi đi vắng. Sau này tôi nghĩ nó cố ý tránh mặt. Tôi có trở lại nhà Lợi một lần rủ nó đi xem chớp bóng. Nó từ chối, viện cớ loanh quanh. Tôi nói, tôi hiểu. Tôi cũng hiểu tình bạn giữa hai chúng tôi coi như đã hết.

Khoá học mùa xuân trở lại, Lợi chuyển sang một trường khác. Tôi vẫn còn ở lại ngôi trường cũ...đau đớn biết mình đã xa một người bạn. Tôi cố gắng lấy mấy lớp sau cùng để hoàn tất chương trình hai năm. Hôm tốt nghiệp, Lợi có dự. Nó nhìn tôi và có vẻ muốn nói một điều gì đó. Tôi làm bộ tảng lờ nói chuyện với Thuý. Tôi cố làm ra vẻ vui cười ngoài mặt mà trong lòng thì héo queo như một đóa hoa tàn.

Kể từ đó, tôi không còn gặp lại Lợi nữa.




NGUYỄN THẠCH GIANG

1987