Wednesday, July 22, 2020

Andy Van

Di Cư Vào Miền Nam 1954 (Operation Passage To Freedom)


Người dân Công Giáo ỡ Bắc cầu nguyện trước Chuá, trước khi di cư vào Nam
Người dân Công Giáo ỡ Bắc cầu nguyện trước Chuá, trước khi di cư vào Nam
người dân trên đường đi di cư
người dân trên đường đi di cư
Những người Công giáo di cư vào Nam
Những người Công giáo di cư vào Nam
Quang cảnh đồng bào miền Bắc lên tàu di cư từ Hải Phòng vào Nam (1954).
Quang cảnh đồng bào miền Bắc lên tàu di cư từ Hải Phòng vào Nam (1954).

Con bồng con bế
Con bồng con bế

Hàng chữ trên tường:
Hàng chữ trên tường: "Ra đi là sự lựa chọn tự do"

Chăm sóc người di cư trên tàu
Chăm sóc người di cư trên tàu



Tàu há mồm
Tàu há mồm
Cầu nguyện trước khi vào Nam
Cầu nguyện trước khi vào Nam

Khoảng 130.000 người theo cộng sản tập kết do tầu Ba Lan và Sô Viết chở ra Bắc
Khoảng 130.000 người theo cộng sản tập kết do tầu Ba Lan và Sô Viết chở ra Bắc

A helping hand
Tháng 7-1954, tại quảng trường trước Nhà hát Lớn Hà Nội, nhiều người dân mít tinh phản đối việc chia cắt đất nước theo Hiệp định ký giữa Pháp và Việt Minh sau khi Hiệp định này được công bố
Tháng 7-1954, tại quảng trường trước Nhà hát Lớn Hà Nội, nhiều người dân mít tinh phản đối việc chia cắt đất nước theo Hiệp định ký giữa Pháp và Việt Minh sau khi Hiệp định này được công bố 
Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi ký Hiệp định Geneva
Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi ký Hiệp định Geneva

Các gia đình lo bán đồ đạc để chuẩn bị di cư vào Nam sau khi ký Hiệp định Geneva 

Đồng bào Công giáo ở miền Bắc đi cư vào Nam - 1954
Đồng bào Công giáo ở miền Bắc đi cư vào Nam - 1954 

Một y tá đang tiêm chủng cho các trẻ em trước khi lên tàu di cư vào Nam
Một y tá đang tiêm chủng cho các trẻ em trước khi lên tàu di cư vào Nam 
Có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên cũng di cư vào Nam.
A helping hand
Có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên cũng di cư vào Nam. 
Đồng bào di cư vào Nam tại cảng Hải Phòng, tháng 7/1954
Cảng Hải Phòng, tháng 7/1954
Đồng bào di cư vào Nam tại cảng Hải Phòng, tháng 7/1954
Các thủy thủ Pháp chia phần ăn cho đồng bào miền Bắc di cư (vào Nam) trên tàu USS Bayfield (APA-33) năm 1954.
Các thủy thủ Pháp chia phần ăn cho đồng bào miền Bắc di cư (vào Nam) trên tàu USS Bayfield (APA-33) năm 1954.
Người di cư miền Bắc (vào Nam) rời tàu Bayfield (APA-33) ở cảng Sài Gòn vào tháng 9 năm 1954.
Người di cư miền Bắc (vào Nam) rời tàu Bayfield (APA-33) ở cảng Sài Gòn vào tháng 9 năm 1954.
Khoảng một triệu người dân miền Bắc (khoảng 800,000 người Công giáo di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu do Pháp và Mỹ tổ chức. (Ảnh National Geographic)
Khoảng một triệu người dân miền Bắc (khoảng 800,000 người Công giáo di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu do Pháp và Mỹ tổ chức.
(Ảnh National Geographic) 
Tạp chí National Geographic gọi cuộc di cư vào Miền Nam 1954 là “một vụ di dân mang tính lịch sử.”  Stanley Karnow, gọi đây là “một phong trào tị nạn khổng lồ từ Bắc vào Nam
Tạp chí National Geographic gọi cuộc di cư vào Miền Nam 1954 là “một vụ di dân mang tính lịch sử.”
Stanley Karnow, gọi đây là “một phong trào tị nạn khổng lồ từ Bắc vào Nam" trong cuốn "Việt Nam :Một Lịch sử" (Vietnam: A History) 
Đồng bào gồng gánh từ quê chuẩn bị lên Hà Nội hoặc Hải Phòng để chờ di cư vào Nam
Đồng bào gồng gánh từ quê chuẩn bị lên Hà Nội hoặc Hải Phòng để chờ di cư vào Nam 
Chờ đợi
Chờ đợi 
Chuẩn bị lên tầu
Chuẩn bị lên tầu 
Lên tầu  Haiphong, Indo-China --- 8/21/54-Haiphong, Indo-China: There is no sign of abatement in the steady stream of evacuees who have abandoned their homes in northern Vietnam, to flee areas that will fall under Communist domination according to the Geneva Agreement on ndo-China. Almost 2,500 refugees pour into Hanoi and Haiphong daily to beat the deadline. In this photo, a French social worker is shown helping one of the fleeing families to board a transport bound for Saigon in the south. --- Image by © Bettmann/CORBIS
Lên tầu 
USS Bayfield (APA-33) docks at Saigon, Indochina, to offload refugees following a trip from Haiphong, September 1954.
Xem VC tuyên truyền
Một bài báo viết về việc di cư vào Nam của đồng bào Công giáo năm 1954. Tác giả là C.B (tức Hồ Chí Minh) đăng trên báo Nhân Dân ngày 29/9 - 1954.
Một bài báo viết về việc di cư vào Nam của đồng bào Công giáo năm 1954. Tác giả là C.B (tức Hồ Chí Minh) đăng trên báo Nhân Dân ngày 29/9 - 1954
Một nhà thờ mới được dựng lên tại khu định cư của đồng bào miền Bắc di cư năm 1954 tại Cái Sắn, vừa kịp thời để Mừng Chúa Giáng Sinh 1957.
Một nhà thờ mới được dựng lên tại khu định cư của đồng bào miền Bắc di cư năm 1954 tại Cái Sắn, vừa kịp thời để Mừng Chúa Giáng Sinh 1957. 
Nỗi lòng người đi, nhạc sĩ Anh Bằng viết về cuộc di cư này.
Nỗi lòng người đi, nhạc sĩ Anh Bằng viết về cuộc di cư này. 
Gia tài mang theo của bà mẹ trẻ là đứa con
Gia tài mang theo của bà mẹ trẻ là đứa con 
Đồng bào Công giáo Phát Diệm chuẩn bị lên tàu di cư vào Nam
(LIFE)
Đồng bào Công giáo Phát Diệm chuẩn bị lên tàu di cư vào Nam 
Người dân Miền Nam đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam, Sài Gòn tháng 6/1954   photo by Rufus Philips
Người dân Miền Nam đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam, Sài Gòn tháng 6/1954 
Đồng bào Sài Gòn đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam  ngay từ cầu thang máy bay. một bức ảnh màu được chụp tại Sài Gòn, 1954.  photo by Rufus Philips
Đồng bào Sài Gòn đón tiếp đồng bào Miền Bắc di cư vào Nam ngay từ cầu thang máy bay.một bức ảnh màu được chụp tại Sài Gòn, 1954. 
Một giáo dân Công Giáo nhận hàng tiếp tế của Mỹ trong Chiến dịch
Một giáo dân Công Giáo nhận hàng tiếp tế của Mỹ trong Chiến dịch "Passage to Freedom" 

Tuesday, July 21, 2020

 Cõi Già Trên Đất Lạ.

 Aging in a Foreign Land
Andrew Lam  
                      
Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ

(Andrew Lâm là một nhà văn trẻ, Việt Kiều, khá thành công trong những bài viết của ông về cộng đồng Việt cho độc giả Mỹ. Anh là con trai của Cựu Trung Tướng Lâm Quang Thi. Bài được viết theo tâm sự của mẹ tác giả, bà Lâm Quang Thi.)

Người Việt có một câu nói: Mỹ là thiên đường giới trẻ, địa ngục giới già. Nay tôi đã vào cái tuổi giữa 70, câu nói này thật là thấm thía. Mỹ có tất cả những sản phẩm dành cho thanh thiếu nhi: đồ chơi, phim ảnh, máy chơi điện tử thính thị, khu giải trí có chủ đề (theme parks). Còn đối với người già, thì chỉ có sự cô lập và nỗi cô đơn.
Căn bản nếp sống của người Việt dựa vào gia đình, cộng đồng và khi ta mất những cái đó, ta mất đi một phần lớn cái tôi. Khi còn sống ở Việt Nam, tôi không bao giờ nghĩ đến việc sinh sống tại một nơi nào khác ngoài quê hương. Ta sống và chết nơi tiền nhân đã sống và đã chết. Ta có thân nhân, dòng họ; ta có gia đình, có những miếu đền.
Một khi ta đã quen miền đất với mồ mả tổ tiên, ta sẽ không còn sợ tử thần và cái chết. Nhưng tại Mỹ, lối sống cũ của chúng ta không còn nữa. Chúng ta bị buộc phải ra đi khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, và chúng ta đã sống xa xứ từ lúc đó. Ngày nay, bạn bè và thân nhân của chúng ta tản mạn khắp nơi trên thế giới.
Tại Mỹ, càng già càng mất mất nhiều – bạn bè, thân nhân, trí nhớ, khả năng di chuyển và ý nghĩ của chính mình. Chuông điện thoại kêu. Tôi nhấc ống máy. Đây là bà tên-này-tên-nọ ở Los Angeles. Bà mắc bệnh tiểu đường và mới bị cưa chân. Rồi chuông điện thoại lại reo nữa: Ông tên-ni-tên-nớ ở Georgia bị ung thư phổi, chỉ còn sống khoảng vài tháng. Ở Việt nam, chúng tôi đều là bạn thân. Nhưng với cái tuổi đời chồng chất như tôi, tôi làm sao đến thăm họ được khi họ hàng ngàn cây số cách xa? Làm sao ta tưởng tượng được đến việc gọi điện thoại cho người bạn thân khi họ nằm chờ chết trong bệnh viện, để nói lời xin lỗi là không thể tận mình đến viếng thăm được lần cuối. Ấy vậy, tôi làm điều này mỗi tháng, buồn lắm.
Tôi và chồng tôi, chúng tôi dự định đi một chuyến du lịch Âu châu vào kỳ hè tới đây. Chuyến đi này là chuyến đi cuối cùng, để nói lời giã biệt thân nhân bè bạn. Chúng tôi biết là sau chuyến đi này, chúng tôi sẽ không đi đây đi đó được nữa vì sức khỏe đã kém, sẽ không thấy mặt họ nữa. Tôi gần như không bước xuống được cầu thang nhà vì đầu gối chân rất đau. Nhà thì đã bán, giờ thì chúng tôi ở trong một chung cư có thang máy vì đó là điều kiện duy nhất mà chúng tôi có thể sống độc lập không nhờ vả đến ai bây giờ.
Điều mà tôi quan tâm nhất là trí nhớ suy sụp rất nhiều. Tôi là người giữ gia phả của dòng họ, nhưng tất cả đều nằm ở trong đầu. Biết ai liên quan với ai như thế nào trong họ là nghề đặc biệt của tôi, người con gái trưởng trong nhà. Nhưng không một đứa con nào của tôi biết được những mối dây liên hệ gia đình trong gia tộc, ngay cả đến những người em của chính tôi. Không có tôi, họ hàng thân thích sẽ trở thành kẻ xa lạ nếu tình cờ gặp nhau trên đường phố. Tôi có thể nhớ đến được những bà con cô dì chú bác ba đời của gia đình bên tôi và của cả bên chồng.
Tôi phải viết xuống trước khi trí nhớ tôi lụt hết.
Thỉnh thoảng vào buổi sáng khi thức dậy, tôi lặng nhìn cây cối ngoài phố và tự hỏi tôi đang ở nơi nào. Đôi lúc, tôi đi sang khu chung cư kế cận, nơi có một số mèo hoang, và cho chúng ăn những thức ăn thừa. Khi tôi cất tiếng gọi, chúng nhận ra giọng nói của tôi và bổ xua lại. Bây giờ, chúng là những niềm vui nhỏ của tôi.
Đương nhiên những ngày hạnh phúc nhất là những ngày con cháu đến thăm. Nhưng chúng cũng có đời sống riêng, thỉnh thoảng chỉ đến chơi được một lúc rồi về, tôi làm gì cho hết những khoảng thì giờ trống trải sau đó?
Mẹ tôi, bà mất năm bà 97 tuổi, và mẹ chồng tôi, qua đời lúc 95 tuổi; cả hai người có sống chung trong một khu dưỡng lão nhiều năm. Tôi thường đi xe buýt đến thăm hai bà mỗi ngày, ngay cả khi còn đi làm. Từ lúc đó tôi đã biết cái thảm não của người già trên đất Mỹ, ngay khi tôi còn trẻ trung mạnh khỏe. Các nhân viên điều dưỡng ở đó thường nói với tôi là hai bà có phước lắm, thường có được con cháu đến thăm. Tôi trả lời: “Đó là lối sống của người Việt Nam”. Còn những người già khác, con cháu họ ít đến. Tôi có nhớ một số bà lão, ngồi trên những chiếc xe đẩy, ngóng trông con cháu hay người thân, ngày này qua ngày khác, nhưng chẳng thấy ai. Có cả một bà cụ, cụ còn sống lâu hơn những người con trai; mỗi ngày bà vẫn ngồi chờ trông mong hình ảnh người con trai bước qua khung cửa. Thật tội nghiệp khi người ta sống dai như vậy trong sự cô đơn!
Ở xứ Mỹ này, tuổi già đúng là tuổi lỡ thời; cả hai đều không được người ta kính nể hay cho một chút gì quan trọng. Ở quê nhà, các ông già bà lão thì được nể vì nhất, vì họ là những người chia xẻ túi khôn cùng kinh nghiệm cho những người đi sau. Điều đó không có ở đây. Không ai muốn nghe tiếng nói của người già. Họ cảm thấy bị cô lập ngoài vòng ranh giới của con cháu Mỹ hóa của họ. Chúng cười vang về nhiều thứ mà tôi không hoàn toàn hiểu được. Mỹ đúng là một quốc gia của giới trẻ hơn là giới già như tôi.
Vào những buổi chiều mùa đông, tôi ngồi nhìn những hàng cây trơ trụi lá, tâm hồn lạc lõng. Tôi nghĩ về cái thế giới mà tôi đã biết, nay đã bay xa, như làn khói hương trầm. Tôi nghĩ đến cố hương, đến những mùa lễ Tết ở Saigon, đến những đám cưới, đám hỏi, đến những chuyến du lịch, những lần tíu tít họp mặt gia đình, ai ai cũng có mặt, con nít chạy quanh, người lớn ngồi nói chuyện đời chuyện gẫu, đàn bà con gái quây quần chung lo việc bếp nước. Và tôi cảm thấy rất khao khát những ngày quá khứ xa xưa.

Andrew Lâm
Nguyễn Đức Nguyên (chuyển ngữ)

*****
A commentary posted on New American Media on 10 Jan 2007. This article is an account by Ngoc Bich Lam (Quang Thi Lam) as told to her son Andrew Lam..

There’s a Vietnamese saying: America is paradise for the young, but hell for the old, and how true it seems now that I’m in my mid-70s.

America has all these products that cater to children: toys, movies, video games, theme parks. For the old there’s only isolation and loneliness.

Vietnamese are defined by family, by community, and when you lose that, you lose a big part of who you are. In Vietnam I never thought of living anywhere else but in my homeland. You live and die where your ancestors lived and died. You have your relatives, your clan; you have your family, your temple.

Once we were bound to the land in which our ancestors are buried, and we were not afraid of death and dying. But in America our old way of life is gone. We were forced to flee after the war ended in 1975, and we have lived in exile since then. Today, my friends and relatives are scattered across the world.

In America you lose so much the older you get — friends, relatives, memories, mobility, a sense of yourself. The phone rings. I pick it up. It’s Mrs. so-and-so in Los Angeles. She’s got diabetes and had her leg amputated. Then the phone rings again: Mr. so-and-so in Georgia has lung cancer. He’s only got a few months left. Back in Vietnam, we were all good friends. But at my age, how do you visit when they’re thousands of miles away? Can you imagine calling your close friends as they lay dying in a hospital, apologizing for not being able to go see them for one last time? Well, I do that monthly now. It’s very sad.

My husband and I, we are planning a trip this summer to Europe. It’s our final trip, to say goodbye to relatives and friends.. We know we won’t be able to travel after this, as our strength is failing. We’ll never see them again after that. I can hardly climb down stairs because my knees hurt very badly. We sold our house and live in a condo with an elevator because it’s the only way to be independent now.

What I worry about most is that my memory is not what it used to be. I am the keeper of our family tree, but it’s all in my head. Who’s related to whom was my specialty, being the oldest daughter in the family. But none of my children know about the large clan connection, not even my younger siblings. Without me, people who used to be relatives will be strangers if they meet again on the street. I used to know all the way to my third cousins on both my side and my husband’s side of the family. I have to write down all of their names before my memory goes.

Sometimes when I get up in the morning, I stare out at the trees outside and wonder where I am. Sometimes I go to the apartment complex across the street, where there are some abandoned cats. I feed them with my leftovers. They recognize my voice. I call and they run to me. They are my source of joy.

When my children and grandchildren visit, it’s a great time, of course. But everyone has their own lives. They come once in a while, but what do you do with all those empty hours that stretch out before you?

My mother, who died at the age of 97, and my mother-in-law, who died at the age of 95, were in the same convalescent home for years. I used to take the bus to see them everyday, even when I was working. I knew how sad it was to grow old in America even back then, when I was healthy and younger. The nurses told me how lucky the two grandmothers were, having all these children and grandchildren visiting them on a regular basis. “It’s the Vietnamese way,” I would tell them. All those other old people, their children rarely visit. I remember a few old women sitting in their wheelchairs waiting for their children or family, day in and day out, and no one came. There was even one who outlived her children and still, everyday, she expected her sons to walk in through the door. How tragic to live so long and to be so alone!

The old are obsolete here in America. Neither respected nor deemed important. Back home, the elders are given the highest place of honor, and it was they who dispensed wisdom and shared their experiences with those who came up after them. It’s not true here. No one wants to hear what you have to say. You feel isolated from your Americanized children and grandchildren. They laugh at things I don’t understand.

America is so much more their country than it is mine. In the winter afternoons I sit and watch the barren trees, feeling very lost. I think of how the whole world I once knew is all gone now, like incense smoke. I think of the old country, of the Tet Festivals back in Saigon, of the weddings and holidays, with gatherings of families and friends, everyone together, children running, adults gossiping, women cooking together, and I feel this deep yearning for the distant past.

Andrew Lam

Thursday, July 16, 2020

CHẮT CHIU…CHÚT K NIỆM

Võ Văn Lượng 
  Tôi vừa xong lớp nhì tiểu học ở Pellerin, ba tôi muốn chuyển tôi qua Providence học lớp nhất. Năm đó Providence vừa mới mở thêm hai lớp nhất và nhì tiểu học chương trình Việt. Lúc đó, người ta quen gọi tên trường  là Providence hơn là Thiên Hựu.
     Tôi không ngại đường đi xa gần  nhưng cũng biết buồn vì sẽ xa bạn bè cũ cùng lớp. Tôi buồn nhất vì ngày ngày không còn đi học chung đường chung trường với các người anh họ con các  cậu của tôi. Với các người anh họ nầy tôi đã hưởng được bao ngày vui của thời tiểu học. Mùa nắng bắt ve vebẻ phượng, mùa mưa bì bõm lội nước, bắt cá dọc hai bên đường. Rồi, tôi sẽ mất tất cả những ngày vui đó.
     Một mình qua Providence tôi cũng không mấy vui. Tôi tự mình đi xin nhập học. Hôm đó, tôi còn nhớ rõ, vừa vào hành lang văn phòng tôi gặp ngay cố Vị (cha Viry) đang đứng ở đó.Chúng tôi quen gọi các cha người Pháp là ‘’cố’’. Tôi nghe danh cha  đã lâu nhưng  đây là lần đầu tiên tôi gặp. Cha thật cao người và gầy. Cúi thấp người xuống cha hỏi tôi muốn gì bằng tiếng Việt. Cha thật hiền theo nhận xét của tôi lúc đó. Sau này, đám bạn tiểu học  vẫn kháo nhau: cố Vị là Quan sáu (Đại tá) trong quân đội Pháp. Tôi cũng tin vì thỉnh thoảng tôi thấy những người lính Pháp đứng nghiêm chào cha mỗi lần gặp. Giờ này tôi cũng không biết lúc đó cha là Đại tá hay không !
     Đầu năm học, trường Providence có một biệt lệ cũng nên nhắc lại. Trường cho học sinh thuê sách học, thường là những sách Pháp văn rất khó tìm ở các nhà sách ngòai phố. Những năm sau, tùy lớp trường bán sách Pháp văn cho học sinh. Đó là những sách mới trường đã mua thẳng từ Pháp.Tôi còn giữ những sách đó cho đến tháng 4/75 mới bị mất.
     Những năm trước học ở Pellerin chỉ một thầy giáo hay một sư huynh dạy cho chúng tôi tất cả các môn học. Bây giờ lớp nhất , tôi có đủ các thầy các cô giáo.Cô giáo chính của lớp là cô Nhung. Cô dạy Pháp văn, Sử ký, Địa lý và Khoa học thường  thức. Cô còn trẻ nhưng nghiêm nên đám học trò nhỏ cũng sợ cô. Dạy môn Toán là bà Cổ. Bà lớn tuổi, người dong dỏng cao và gầy dáng khó khăn như môn Toán khó nuốt  của bà. Bà hay rầy la và không mấy khi thấy bà cười. Chúng tôi sợ bà hơn tất cả những thầy cô dạy trong lớp. Bà đi dạy luôn có xe xich lô đưa đón. Thầy Lưu dạy Việt văn. Thầy có dáng phong thái, lái xe hơi đi dạy. Thầy luôn hút thuốc Cotab thơm. Lắm buổi trưa, ra khỏi lớp tôi thấy thầy đứng đạp bơm bánh xe. Chắc chắn có quỷ ma học trò đã xả xì bánh xe của thầy. Tôi có nhiều kỷ niệm với thầy. Giờ chính tả, bài tôi viết thường không có lỗi. Học trò trong lớp  đổi bài nhau để chấm bài. Thầy không tin bài của tôi không có lỗi nên tôi phải đưa bài lên cho thầy chấm lại. Thầy hay trừ tôi 1 điểm vì viết không sạch sẽ. Hồi đó đi học phải xách theo bình mực, vừa viết vừa chấm mực nên lúc đậm lúc nhạt, lúc mực nhòe hay còn ướt phải có sẵn tờ ‘’giấy chậm’’ để kịp sang trang. Với lớp tuổi tiểu học, chúng tôi viết cho thật sạch cũng khó. Sau này thầy có vẻ để ý đến tôi, một đứa học trò khá của thầy. Thầy căn dặn tôi đủ điều trước lúc  đi thi tiểu học.
      Ngoài các thầy cô dạy môn chính, chúng tôi còn hai người thầy cho môn phụ :vẽ và Giáo lý. Cha Nguyễn Kim Bính dạy giáo lý. Cha có lúc làm Tuyên úy Hướng đạo Công giáo tại Huế. Cha dạy giáo lý nhưng không mấy khi nói về Chúa nhưng thường dạy về bổn phận người con đối với cha mẹ, ông bà, bạn bè…
       Vị thầy sau cùng là cụ Tôn Thất Sa. Cụ dạy vẽ. Cụ đã già. Đi dạy cụ luôn mặc áo dài đen, tôi có cảm nghĩ cụ là một nhà nho cuối mùa. Ngày trước cụ cũng là họa sĩ cho Cung đình Huế. Cụ đã vẽ lại tất cả những hoa văn, những chạm trổ trong các cung điện.( Các bạn có thể tìm lại những hình vẽ đó trong  L’Art à Hué của les Amis du Vieux Hué).Cụ q dễ dãi và quá hiền lành nên đám học trò nhỏ tha hồ nghịch ngợm phá nhau trong giờ vẽ của cụ.
        Ngoài đám học trò tuổi nhỏ phá phách nghịch ngợm cũng không thiếu những người học trò ngoan hiền lành chăm chỉ. Ngồi cạnh tôi suốt năm lớp nhất là trò Nguyễn hữu Giải, một người học trò thật hiền lành. Thân phụ của Giải là thầy Nhạc, người điều hành hành chánh và tài chánh của trường. Hàng tháng chúng tôi đến văn phòng gặp thầy để đóng học phí.
         Những ngày đi học thật êm ả. Mỗi tuần 6 ngày học. Mỗi ngày học 3 giờ buổi sáng và 2 giờ buổi chiều.
         Một buổi sáng đến trường, thay vì vào lớp học như thường lệ, chúng tôi sắp hàng ở cửa lớp và được các anh  lớp lớn hướng dẫn chúng tôi đi…tham gia biểu tình bãi khóa để phản đối cha Viry đã đuổi anh Đào Xuân Viên, đang làm Giám thị cho trường, chắc vì anh đã có những hành động chống Pháp. Chúng tôi cũng chưa ý thức vấn đề chính trị nhiều nhưng không vào lớp để học, lại đi loanh quanh bên ngoài chúng tôi  thấy vui lắm.
       Vài ngày sau, ông Nguyễn Đôn Duyến, Đại Biểu Chính Phủ phải đến can thiệp để hòa giải. Anh Đào Xuân Viên không trở lại trường nhưng thời gian sau đó cha Viry phải giã từProvidence. Cha Simon Hòa Nguyễn văn Hiền lên thay nhưng chỉ khoảng 3 tháng thì ngài thụ phong Giám mục và chuyển về Saigon và sau đó cha Trần Hữu Tôn về thay.
          Nếu đọc được những giòng này, anh Viên có biết có đám học trò tiểu học chúng tôi lúc đó cũng đã tham gia biểu tình để ủng hộ anh không !
           Ngòai một chút ‘’xáo trộn nhẹ nhàng’’, một năm học q bình lặng, buồn vui  theo tiếng chuông ra vào lớp học ngày ngày. Cuối năm học, chúng tôi đi thi tiểu học. Lúc đó, thi tiểu học ngoài phần thi viết còn phải vào vấn đáp. Thi vấn đáp, học sinh chép 3 bài thuộc lòng hay 3 bài hát. Giám khảo sẽ chỉ định cho học sinh hát hay đọc một bài trong số đó. Thầy Lưu có nói với tôi nếu hát được thì nên hát. Tôi nắn nót chép 3 bài 
 -- Việt Nam minh châu trời Đông của nhạc sĩ Hùng Lân                                                                
 -- Quyết tiến của Võ Đức Thu                                                                                                                          
   -- Bóng cờ lau của  Hoàng Q
          Tôi gặp một thầy giám khảo già lúc vào vấn đáp. Thầy bảo tôi hát bài Việt Nam minh châu trời Đông. Hát xong thầy khen tôi ‘’Giỏi’’ và bảo tôi hát lại. Tôi hát không sai lời nhưng chắc có sai cung bậc và chắc chắn tôi hát không hay. Không ai tập trước cho tôi bài nầy nhưng tôi thuộc vì các anh của tôi hát nghêu ngao cả ngày. Sau nầy nhớ lại những ngày đi thi tiểu học, tôi nghĩ giám khảo đã khen tôi giỏi vì ý nghĩa bài hát do tôi chọn nên thầy giám khảo mới muốn tôi hát lại lần thứ hai: «Việt Nam minh châu trời Đông, Việt Nam nước thiêng Tiên Rồng… »
         Rồi, những năm tháng tiếp, tôi vẫn ở lại Thiên Hựu cho đến hết năm đệ nhị.
         Các giáo sư vừa các cha Việt vừa các cha người Pháp vừa  các giáo sư bên ngoài vào dạy khá nhiều tùy theo lớp theo niên học đổi thay. Tôi rất nhớ hai vị giáo sư dạy những môn phụ âm nhạc và vẽ của những năm Trung học đệ nhất cấp. Đó là nhạc sĩ Lê Quang Nhạc và họa sĩ Phi Hùng.
      Nhạc sĩ Lê Quang Nhạc dạy chúng tôi nhạc lý, viết ký âm pháp và xướng âm. Thỉnh thỏang thầy đàn violon cho học sinh nghe. Thầy là tác giả bài hát  « Xa quê », lời của Hồ Đình Phương Bài hát Xa quê của thầy được hát nhiều lần trên Đài Phát thanh Huế, tôi nghe gần như thuộc;       «Chiều xa cố hương, lắng nghe niềm thương xao lòng  vấn vương… ».Sau này tôi nghe thầy đã mất trong biến cố Tết Mậu thân ở Huế.
       Họa sĩ Phi Hùng chắc rất quen thuộc với mọi giới lúc đó. Người ta biết thầy nhiều do những nhạc bản tiền chiến được thầy vẽ hình bìa và đã được nhà xuất bản Tinh hoa tại Huế phát hành. Tôi rất thich nét họa của thầy nên nhiều lúc tôi mua  nhạc vì thích hình vẽ hơn là vì thích hát. Tôi mua khá nhiều nhạc bản nhưng đến tháng 4/75 tôi vẫn không giữ được dù cố thu giấu. Ngoài ra chính thầy đã vẽ cho tôi bằng viết chì trên giấy croquis nhiều bức vẽ thật đẹp nhưng rồi tôi cũng đành mất tất cả.
       Tháng 3/75, Huế đã mất, Đà nng đang mất, tôi gặp lại thầy ở thành phố đang dầu sôi la bỏng này. Thầy chạy từ Huế vào, tôi từ Tam kỳ nơi làm việc chạy ra  Đà nng. Tình cờ gặp lại thầy trong hoàn cảnh nghiệt ngã đó. Thầy đã già và tôi thật buồn lúc thầy không còn nhận ra tôi.
         Những ngày đi học lặng lẽ trôi. Mỗi năm, lớp tôi thêm vài người bạn mới và cũng bớt đi vài người bạn cũ. Năm cuối đệ nhị, tôi gặp lại người bạn cũ lớp nhất tiểu học ngồi cạnh tôi ngày  xưa: Trò Nguyễn Hữu Giải. Giờ là chú Giải của năm cuối Tiểu Chủng viện Huế. Giải đi tu! Vài năm sau đó, chú Giải đã được thụ phong linh mục và nay cha Giải là một trong nhiều người đang can đảm tranh đấu cho Dân quyền và Dân chủ ở Việt Nam.
        Tôi cũng nhắc lại hai người bạn cùng lớp mà các bạn ở Cali rất quen thuộc vì đã được nhắc đến trước đó: Hòang Ngọc Hữu, tôi thấy tên anh trong nhóm thành lập hội Cựu học sinh Thiên Hựu những năm trước. Trịnh Quang Hà, một người  âm thầm và không ồn ào trong lớp. Tôi đọc «Biến động Miền Trung» của ông Liên Thành, ông có nhắc đế  anh. Hy vọng  hai người bạn cùng lớp này còn nhớ đến tôi lúc tôi nhắc đến họ.
         Có nhũng mùa hè, đi làm xa trở lại Huế, thỉnh thoảng tôi vẫn trở lại trường, thăm trường và thăm cha Tôn. Tôi đi loanh quanh  qua những lớp học. Tôi đi trong sân trường vắng lặng, tôi đi trong dãy hành lang im lìm, tôi nghe chừng như những bước chân của mình, những bóng hình mình những ngày xa xôi đó. Tôi thấy hồn mình  đang gắn chặt đâu đây trong những lớp học. Có lần tôi vào lại lớp học năm đầu tiên: lớp nhất tiểu học.Tôi đã gặp lại chiếc bàn tôi đã ngồi ngày trước. Tên tôi vẫn còn rõ nét với thời gian. Chính tôi đã khắc tên tôi hằn sâu xuống mặt bàn trong giờ học. Tôi nhớ lại năm học đầu tiên  của tôi ở lớp này. Tôi đã ngồi đúng chổ này. Tôi mơ hồ nghe tiếng phấn trắng của thầy cô đang viết trên bảng đen.Tôi đang thấy các bạn tôi chung quanh và thầy cô đang đứng trên bục gỗ….Lòng tôi chùng xuống, ray rứt. Giờ này ai đang còn ai đã mất, ai đang ở góc trời cuối biển …
          Cách đây vài năm, tôi có dịp trở về. Ngang qua trường cũ, tôi muốn vào thăm lại dù biết trường đã bị thoát xác đã bị thay tên đổi chủ. Tôi chỉ muốn nhìn lại dãy hành lang lớp học ngày ngày mình đã đi qua, nhìn lại chiếc chuông như người bạn đã chứng kiến bao thế hệ học sinh đến rồi đi  khắp muôn hướng.
 «Bạn đừng nên vào, không còn kỷ niệm gì của bạn nữa đâu!». Người bạn tôi nói. Tôi chợt  tỉnh. Phải! Phải! Đừng nhìn lại nó hôm nay để còn giữ được mãi mãi trong hồn mình những ảnh hình cũ đẹp của ngày xưa. Cũng buồn!  Buồn chi lạ!!!
Võ văn Lượng



NGÀY XA TAM KỲ -  MẤT ĐÀ NẲNG

Võ Văn Lượng

Ngày 10.03.75 hai quận Tiên Phước  và Hậu Đức bị VC tấn công và tràn ngập... Mất !
Tiên Phước, một quận lỵ miền núi mà tôi đã có một thời kỳ đã lên làm Phó Quận Trưởng quận lỵ này. Tôi nhớ đến những nhân viên quận đã có thời cùng làm việc với tôi. Không biết giờ này họ ra sao ? Có ai chạy thoát không, số phận họ sẽ ra sao nếu không thoát được. Và còn những người  lính, người dân tôi quen tôi biết nữa… Tôi không dám nghĩ đến những khốn cùng như hồi Tết Mậu thân ở Huế. 
Quận lỵ Hậu Đức nằm cao hơn và sâu hơn trong núi. Đúng là một quận lỵ đèo heo hút gió sớm chiều mây bay sương phủ đúng nghĩa. Từ Tiên Phước phải băng qua một ngọn đèo, có tên là đèo Le để đến Hậu Đức. Tôi có lên quận Hậu Đức hai lần bằng trực thăng. Lần đầu, từ Tiên Phước tôi theo trực thăng lên Hậu Đức và ngủ lại một đêm với anh Phó quận Thái Công Phú (ĐS16) trong Chi khu Hậu Đức  trên một ngọn đồi cao, lúc đó Thiếu tá Lý văn Sơn đang là quận trưởng. Lần thứ hai, vừa sau Tết, theo một ngươi bạn làm việc cho Usaid đi trực thăng từ Đà Nẳng vào ghé Tiên Phước bốc tôi theo trực thăng lên Hậu Đức chơi trong công tác không ảnh của anh. Đến Hậu Đức trong đầu tôi luôn có ý nghĩ nếu VC đánh thì Hậu Đức sẽ mất dễ dàng vì quận… quá lẻ loi và đơn độc . Giờ nghe Hậu Đức mất tôi không ngạc nhiên. 
10.03: các trường học ở Tam Kỳ đã đóng cửa nhưng sinh hoạt ở Tam Kỳ vẫn còn vẻ bình thường dù dân chúng cũng đã chộn rộn lao nhao chạy ra Đà Nẳng. Tôi không nhớ anh Thiệu, Phó Tỉnh Trưởng và các anh Trưởng Ty Cư, Tạo, Nghĩa, Chính (Ty Xã hội) và Gia đình anh Quý và các anh khóa 19 mới ra nhận nhiệm sở Quảng tín không lâu, đã ra Đà nẳng lúc nào ? Anh Trình Ty Thuế vụ cũng vù mất rồi vì gia đình anh đang ở Đà nẳng. Tôi làm ở Trung tâm Chuẩn Chi không có xe hơi. Tôi liên lạc với anh Sanh, Quản đốc Trung tâm Cải huấn hẹn ngày cùng anh ra Đà Nẳng.  
Thứ bảy 15.03 tôi cùng anh Sanh thẳng ra Đà Nẳng. Đây là lần cuối tôi đi cùng anh. Từ ngày đó tôi không còn một tin tức nào của anh cả. Quản đốc TT Cải Huấn thì cũng  khó tránh nguy hiểm với chế độ mới. Trên đường tôi chỉ thấy xe các loại lũ lượt chạy ra hướng Đà Nẳng. Lưa thưa vài chiếc chạy ngược chiều. Ra Đà Nẳng, tôi cũng nghĩ như những lần trước, chiều chúa nhật còn phải trở lại Tam Kỳ để sáng thứ hai chào cờ. Tôi chỉ đem theo chút ít đồ dùng còn để lại tất cả, cũng không nghĩ mình rồi sẽ đi luôn vĩnh biệt không còn trở lại.
Gia đình má và hai em tôi cũng đã từ Huế chạy vào được Đà Nẳng. Một người em trong quân đội là pháo binh đi đề lô cho 56/3BB xin nghỉ ba ngày phép ra Huế đưa ba tôi vào Đà nẳng trước và đã mua được vé Air VN cho ông vào Nha trang. Tôi tìm được gia đình đang tá túc trong nhà người cháu trong xứ đạo Thanh Bồ Đức Lợi. Tức tốc tôi đưa tất cả theo xe GMC quân đội chở dân chúng lên phi trường Đà Nẳng để di dân vào Nam lập nghiệp . Nhưng  lính không quân gác cổng không cho ai vào trừ những người lính không quân và gia đình của họ. Điều này đã tạo ra hiềm khich cho các quân binh chủng khác nhất là trong giai đoạn hổn quan hổn lính lúc đó nên sau này nghe kể có sự xung đột bằng súng và có người chết là chuyện phải đến. Tại cổng vào tôi gặp Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, Tình trưởng Thừa Thiên. Ông nói với tôi: “ Ngay tôi tụi nó cũng không cho vào!”. Sau đó tôi thấy anh Thiệu, Phó Tỉnh trưởng xếp của tôi từ trong phi trường đi ra. Anh nói anh em và dân Quảng tín vừa đi xong. Tôi nhớ hôm đó là chiều chúa nhật 16.03. Sau này tôi biết đó là chuyến bay cuối cùng ra đi đàng hoàng, nhờ các anh Hành chánh đứng ra sắp xếp rất trật tự.  
Hàng xe dài nằm ngoài cổng phi trường chờ thêm một ngày và một đêm nữa. Không ai dám rời xe. Rồi. Tan hàng mọi người hết hy vọng lên được phi cơ. Gia đình tôi quay lại Thanh Bồ Đức Lợi. 
23.03.75 Tam Kỳ mất… 24.03: Tiểu khu Quảng Tín rút chạy về Đà Nẳng.         
Anh Thiệu, Quý, Trí đến tá túc nhà anh Oanh,Trưởng Ty Công Chánh Quảng Tín. Tôi cũng ngày ngày lại tìm các anh xem có tin gì mới không. Thành phố Đà Nẳng giờ rất hổn độn, người tỵ nạn từ Quảng Trị, Huế tụ vào, từ Quảng Ngải, Quảng Tín, Quảng Nam đổ ra, thêm lính tráng lạc đơn vị lang thang trên các đường phố.  Thành phố Đà Nẳng tràn ngập người và người. Di chuyển xe hơi khó khăn, tôi đưa chiếc xe Nhật hai bánh của em tôi cho anh Thiệu xử dụng. Sau này anh Quý chạy chiếc xe này và bị cướp dí súng lấy mất.
Anh Thiệu đi họp với giới chức từ Saigon ra cho biết sẽ có 7 chiếc tàu thủy và 21 chiếc phi cơ sẽ lập cầu hải vận và không vận đưa đồng bào vào nam lập nghiệp. Chờ. Chờ. Không thấy gì. Tuyệt vọng. Mạnh ai nấy thoát.  Dân chúng ra các bến tàu để tìm cách ra khỏi Đà Nẳng... Tôi còn gia đình mẹ và các em, không phương tiện cũng không quen đường xá  Đà Nẳng nên cũng chờ những chuyến tàu như hồi 54 ra đi từ miền Bắc. Em trai tôi trong quân đội, cũng ở quanh đâu đây, giờ cũng không biết ra sao. Tôi lang thang trên các ngã đường . Gặp nhân viên gặp các bạn họ hỏi xem tình hình. Tôi cũng như họ. Không biết gì! Thành phố quá hổn độn, ồn ào tiếng xe cộ và tiếng súng vu vơ.  Tôi có cảm tưởng mọi người như con kiến bò quanh miệng chén không lối thoát. Một buổi trưa tôi thấy anh Trương Minh Hòa, làm việc ở Huế cùng khóa với tôi lái xe jeep màu trắng rất hốt hoảng đưa vợ con và gia đình ra bến Tàu. Chúng tôi vẩy tay chào, xe vẫn chạy đi. Mãi sau này mới hay tin anh cũng qua được Mỹ theo diện HO.
Tôi cũng tìm đến hai người  bạn thân Hành chánh đang làm viêc tại Đà Nẳng để dò xem đường đi. Anh Ngữ cùng khóa đang làm Phó quận nhì và anh Diêu Xương Thủ (ĐS 13) đang làm Phó quận 3. Anh Thủ không đi được và bị đưa vào TT Cải Huấn một thời gian ngắn, sau  được thả vì bệnh nặng, ung thư gan. Về nhà thời gian ngắn, anh mất. Anh Ngữ, trưa 27.03. ( hay 28 ?) tôi còn gặp anh tại nhà đường Nguyễn thị Giang. Anh bảo tôi chờ anh và anh cũng đi không trở lại. Tôi nghĩ hoàn cảnh không cho phép anh còn thì giờ để quay trở lại. Anh đã vào được Saigon trước ngày mất Đà Nẳng. Sau này cũng nhờ chương trình HO anh đến Mỹ.
26.03: Đà nẳng đã lên cơn sốt. Các kho gạo gần thương cảng đã bị dân chúng vào cướp bóc.
Chiều 28.03 tình cờ tôi gặp anh Trần Ngoc Thanh (Tài chánh). Tôi không nhớ vì sao và ở đâu tôi gặp anh. Anh rủ tôi cùng anh đến gặp “ bò lục” Tỉnh trưởng Đào Mộng Xuân ở nhà ai đó tôi cũng không nhớ. Anh Thanh có bà con với ông Xuân. Hai người chỉ nói với nhau chuyện nhà cũng không nói chuyện chạy. Ông Xuân hỏi tôi qua loa vài ba câu chiếu lệ… Mãi năm 80 đi biểu tình 30 tháng 4 ở Ottawa tôi gặp lại ông trong nhóm Toronto lên. Nghe ông là Chủ Tịch hội Cựu Quân nhân ở đó. Những năm sau tôi gặp lai anh Thanh tại Montreal lúc anh qua thăm người bà con ở đây. Rồi cũng vài năm sau nghe anh mất vì bệnh.
Chiều 29.03. Đang trên lầu nhà người bạn, tôi nghe tiếng la ó dưới đường (Tôi quên tên đường vì tôi không mấy nhớ tên đường ở Đà nẳng). Nhìn xuống đường, đoàn xe VC đang tiến vào thành phố Đà nẳng. Tôi thấy lạnh người. Xe dẫn đầu cắm cờ MTGPMN và cờ Phật giáo. Một nhà sư ngồi trước và người lái xe chắc là sĩ quan CS. Hai bên đường đã có một số dân chúng cầm cờ Phật giáo và cờ MTGPMN chào mừng quân đội CS. Tôi không can đảm nhìn đoàn quân. Tôi ngồi bệt xuông nền nhà, tựa lưng vào tường, nước mắt chảy dài… Nổi đau đang trào qua những giọt nước mắt nóng! 
29.03.75. ngày thứ bảy. Đà nẳng mất.  Thứ bảy tối lễ Thánh Thủy vọng Chúa Phục Sinh của người Công giáo. Một Tuần Thánh diễn lại cuộc thương khó của Chúa đã qua, nhưng chúng tôi thì đang bắt đầu. Buổi tối trong căn nhà tạm trú, ngoài gia đinh tôi còn thêm vài gia đình bà con khác, cũng từ Huế chạy vào. Mọi người đều ngủ sớm nhưng chắc không một ai ngủ được. Trong bóng đêm, im lặng, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng và ai cũng cảm thấy những ngày đen tối của cuộc sống bắt đầu. Tôi nghe tiếng khóc rưng rức của vài người bà con trong bóng đêm mịt mù. Tôi nằm im, suy nghĩ mông lung. Tôi cũng đang nuốt nước mắt. Tôi nghe tiếng mẹ tôi cứ thở dài não ruột. Cũng không biết lúc này người em tôi, thiếu úy pháo binh đang đi làm đề lô cho Trung đoàn 56/3 BB đang ở đâu? Sau 30.04 tôi biết tin em tôi đã về được Saigon trước lúc Đà Nẳng mất. Hôm đó, em tôi theo đơn vị thiết giáp BB vào quận Thăng Bình, Quảng Tín. Đến tối có lệnh di chuyển ra vùng biển. Sau đó, theo đơn vị lội ra tàu lớn. Em tôi kể, lên tàu, nghe có Tướng Ngô Quang Trưởng cũng có mặt trên tàu. Em tôi thấy Đại tá Tỉnh trưởng Quảng Trị, măc  áo thun trắng, quần treilis….  
Hai ngày sau, tôi lại nhà anh Oanh để gặp các anh Thiệu, Trí, Quý. Vừa vào nhà, gặp bà giúp việc, chưa kịp hỏi bà đã la to: “ Đi ! Đi ngay ! Đi ngay, hồi đêm xe  đã đến bắt đi ba người rồi !”. Tôi quày ra ngay không kịp chào, không kịp hỏi. Tôi tự hỏi nếu bà này không là dân nằm vùng  thì ai vào đây mà chỉ điểm cho người ta biết anh Thiệu, Phó Tỉnh Trưởng, Trí  Phó Quận Trưởng và Quý là Quản đốc Tu Nghiệp tỉnh Quảng tín ?!         
Ông Trưởng Công an khu Thanh Bồ Đức Lợi hỏi tôi làm  gì. Tôi làm chuẩn chi là tiền. Ông nói tôi xem có khóa học nào trong Phường khóm thì đi học. Tôi đã đi học 12 ngày với Trung sĩ Cảnh sát và Liên toán trưởng Nhân Dân Tự Vệ. Sáng đi trưa về, chiều đi tối về. Xong khóa học, tôi theo lớp học đi dự lễ Mừng Chiến Thắng của Thành phố Đà nẳng. Tôi gặp anh Oanh, Trưởng Ty Công Chánh Quảng Tín. Chúng tôi nhìn nhau, thinh lặng , không  ai nói với ai lời nào, ngậm ngùi.
Nắm tờ giấy chứng nhận học tập 12 ngày, tôi vào Saigon… Tháng 06. 79 tôi mang tên người Hoa lên tàu sắt qua Hongkong. Tháng 09.79, Canada đã rộng mở tay đón tôi, một người tỵ nạn Cộng sản.
Võ Văn Lượng 
Dịp 30 tháng 4 năm 2019. 

Wednesday, July 15, 2020

CÒN NỢ THANH AN 

Thân tặng những ai đã từng ở PLEIKU

BK PHẠM QUANG CHIẾN 342
Mải bận bịu với những lo toan cho miếng cơm , manh áo của cuộc sống đời thường - Đến hôm nay , gần 40 năm đã trôi qua , dù ở rất gần với BÀU CẠN , với THANH AN &PLEIKU bụi mù đất đỏ , tôi vẫn chưa có lần về thăm lại chốn xưa để tạ lỗi cùng người , cùng mảnh đất đã cưu mang , đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm của cả một thời thanh xuân !

Tôi đến THANH AN sau MÙA HÈ ĐỎ LỬA , cởi bỏ chiếc áo thư sinh , khoác lên vai mảnh chiến y của SƯ ĐOÀN BIÊN TRẤN 23 , địa bàn hoạt động của đơn vị tôi là cả mặt trận cao nguyên bao gồm các tỉnh :

QUẢNG ĐỨC , BMT , PLEIKU , KONTUM & PHÚ BỔN

Nhưng PLEIKU lại là nơi cho tôi rất nhiều kỷ niệm , tôi đến đây đầu tiên để trình diện đơn vị , khởi đầu cho cuộc sống phong sương của đời lính chiến & cũng từ biệt CAO NGUYÊN từ chốn này !

Tôi nhớ sở trà BÀU CẠN với những đêm quân hành vội vã - những sáng , những trưa , những chiều trên đường hành quân được ngắm nhìn những bông hoa cúc dại vàng cả một góc trời KATIKA ( BÀU CẠN )

Tôi nhớ THANH AN , một quận lỵ nghèo của PLEIKU , một thị trấn nhỏ nhoi nằm trên trục lộ nối liền PLEIKU - ĐỨC CƠ một vùng đất nghèo khó , đầy máu và lửa của quê hương , nơi mà người dân vẫn phải độn khoai vào bữa cơm ! nơi mà cái chết vẫn hằng ngày đe dọa , vẫn thường đổi chác miếng cơm , manh áo bằng chính mạng sống của người dân nghèo THANH AN ! Đa số người dân nơi đây mưu sinh bằng nghề hái ĐÓT để làm chổi , đã có bao người phải bỏ mình trên những ngọn núi ở tây THANH AN ,

Tôi thương THANH AN , tôi quý người THANH AN : nghèo tiền bạc , của cải nhưng rất giàu tình thương , giàu lòng nhân ái .

Như một định mệnh , khi cuộc chiến tháng 3/75 nổ ra , đơn vị tôi lúc đó đang đóng quân tại BMT , sau 7 ngày tử thủ tại MẶT TRẬN PHI TRƯỜNG PHỤNG DỰC , tôi bị bắt và bị dẫn đến nhiều địa danh từ BMT đến biên giới ĐỨC CƠ và cuối cùng lại là một trại tù tự lập tại chính mảnh đất đầy kỷ niệm THANH BÌNH , THANH AN , PLEIKU cho đến ngày được trẳ " TỰ DO "

Tôi nhớ THANH AN nhiều lắm : nhớ mẹ già THANH AN , nhớ người em gái nhỏ THANH AN ngày nào đã  dấu cho tôi từng củ khoai , từng khúc củi rừng những lần toán tù chúng tôi đi làm ngang qua xóm ( chúng tôi được phân công đi lấy củi , mẹ và em chặt sẵn cho tôi mang về )

Cũng ngay tại quê hương này ở thời điểm ấy chắc cũng không ít những bà mẹ già , những em gái như THANH AN của tôi cũng đã cưu mang , đã cùng sẻ chia những nỗi đau với anh em , với đồng đội của tôi trong những tháng ngày đau thương và khốn khó ấy !

Lòng mẹ là thế ! tình em chan chứa biết dường nào mà tôi lại vô tâm , vô tâm quá ! không một lời từ tạ THANH AN khi được thả về ...Để đến mãi hôm nay, ngồi tại quê hương này , dù đã gần 40 năm không gặp lại THANH AN - Dù có muộn màng , tôi xin được gởi đến THANH AN , đến mẹ , đến em lời tạ lỗi :

Tôi còn nợ THANH AN , con còn nợ MẸ , anh còn nợ EM - Món nợ ân tình ấy con xin ghi khắc trong tim ...

BK PHẠM QUANG CHIẾN 342( Để nhớ về THANH AN dấu yêu )