Tuesday, August 6, 2019

DẠ MỘ KHÚC



 Thuyên Huy


Để nhớ HTN - người lẻ loi mang theo những gì muốn nói nhưng chưa nói được  xuống lòng mộ lạnh.



    Giữa tháng giêng, cuối hạ, buổi sáng, trời vẫn nắng như những ngày  đầu mùa, vài ba cơn gió bắc gay gắt nóng hậm hực tụ nhau về rồi lửng thửng bỏ đi không chào không hỏi, chủ nhật, nghĩa trang Altona vắng tanh, không bao nhiêu người thăm, dọc theo mấy hàng mộ bia, cùng kích thước vuông, lớn cở hai gang tay, cùng loại đá, đặt nằm thẳng, cách đều nhau, trên cái đồng cỏ xanh trải đầy xác hoa phượng tím , sâu hút phía trong cùng, lác đác đôi ba người đứng ngồi ở cuối đường. Ngồi đó lâu rồi, trước mộ, nói là mộ nhưng ở đây, mộ là những khoảnh đất xanh cỏ, bằng phẳng, tro cốt chôn bên dưới, chính giữa phía trên, người ta đặt một cái bình đựng hoa bằng sứ đen, mộ nào cũng như mộ nào, chỉ khác nhau ở chỗ là hàng chữ khắc trên bia và loại hoa cắm trong bình, Đạm chưa nói được trọn những gì mình muốn nói, hơn năm năm gặp lại nơi xứ người, cùng cảnh đời lẻ loi, vui buồn có nhau, vậy mà cuối cùng, ngày anh Huỳnh mất, Đạm đã không tiễn anh lần đi sau cùng, không như lần tiễn nhau tại một góc quán cà phê, ở chợ Nancy, đêm chờ khuya ra biển, hẹn ngày gặp lại, tay vuốt nhẹ mộ bia, khắc vỏn vẹn tên người và ngày sinh ngày chết, chợt dưng Đạm nức nghẹn, thì thầm, rấm rứt khóc “vậy mà em đã thất hẹn với anh rồi”. 

    Tuần trước, trưa thứ sáu, khi đến phụ anh điền một số giấy tờ, để tái xin trợ cấp tiền thuê nhà hàng tuần, nộp cho văn phòng “Nhà Cửa” của chính phủ tiểu bang, anh cho biết bệnh tình, từ tim tới phổi, từ đầu gối tới bàn chân, vốn đều trải qua hơn một lần giải phẩu, xem ra tệ hơn, mấy ngày nay anh trông rã rời, mệt mỏi và không đi đứng lâu được, cũng như thường ngày, hai anh em ngồi nhìn ra trời bên kia sông, nói qua hỏi lại chuyện chợ búa chuyện tin tức thường ngày, anh cười mà buồn rười rượi “không biết còn chịu được bao lâu nữa”, ra về, Đạm hẹn ngày mai, thứ bảy, đến cắt đám cỏ đã lên cao ở sân trước, rộng chừng đủ cho hai chiếc xe hơi đậu, lần này anh ngồi dựa vào tường nhìn theo, không còn đủ sức đứng lên ra tới cửa như mọi khi, đám bồ câu hoang chờ ăn thường ngày, không đủ kiên nhẩn, bỏ bay đi từ lâu vì cũng đã nhiều ngày, anh không rải gạo khô dư cho bọn chúng. Mây bất chợt kéo về xám xịch và chùng xuống thấp bên kia sông, trời có chút gió mát muộn, chắc sắp mưa, xe ra khỏi ngã tư đường, nhìn từ kính chiếu hậu, cửa nhà anh Huỳnh không thấy mở. 

    Đi loanh quanh tìm mua vài thứ lặt vặt, nhìn người qua kẻ lại ở khu thương mại gần nhà cho đở buồn, về đến nhà, nhận điện thoại của vợ chồng người bạn quen thân từ trên Wollongong kêu xuống, nhắn một hai lên gấp, giúp giùm ai đó một số giấy tờ để sáng thứ hai họ kịp ra tòa, tìm chuyến bay qua mạng điện tử, Đạm đi chuyến bay Jetstar sáng sớm thứ bảy vì vé hạ giá chuyến trễ trong ngày không còn nữa. Tối lại, Đạm gọi điện thoại cho anh Huỳnh biết không tới được ngày mai như đã hẹn, vì phải lên Sydney vài ngày, khi về lại sẽ cho anh hay và không quên nhắc anh nhớ uống đủ thuốc như thường lệ. Không như lấy lần trước, vì có một vài trục trặc, chờ xong xuôi, Đạm ở lại Wolongong thêm mấy ngày, trưa hôm về Melbourne, tới nhà, vội gọi điện thoại cho anh Huỳnh ngay mấy lần mà không được, nên gọi cho cô Hương, người đã sống gá nghĩa vợ chồng với anh một hai năm qua, cô có nhà riêng trên miệt Coburg, nhưng anh Huỳnh thường ở nhà mình, đi đi về về một tuần hai ba ngày, một căn vi la nhỏ đầu dãy trong khu nhà của chính phủ cấp cho người già cả ở Seddon,  Đạm gặp chị đôi ba lần, chuyện anh chị như thế nào, anh Huỳnh chưa lần nào nói tới, biết thì biết vậy thôi, Đạm cũng chưa lần hỏi, Đạm buột miệng, chết nghẹn “trời ơi” khi chị cho biết anh chết rạng sáng chủ nhật, trên đường từ nhà chị tới bệnh viện St Vincent, bỏ điện thoại xuống bàn, Đạm ngồi bất động, nhìn ra bên kia sông, theo nhau chút mây xám đong đưa hửng hờ xuống thấp rồi thật thấp, không khóc nhưng nước mắt cứ tuôn dài trên mặt. 

                                            *

     Hôm cùng thiếu tá Huỳnh, quận trưởng, đi qua bàn vài chuyện với bên quận Bình Lâm về, ngồi ăn trưa ở một quán cơm trong chợ quận Lạc Tánh, không mấy người qua người lại, chợ vắng tanh, lâu lâu mới thấy vài anh lính nghĩa quân, thượng có kinh có, súng khoát hờ trên vai, nhìn lên nhìn xuống, thả bộ tán gẫu về hướng chi khu, chim rừng đậu từng đám trên nóc gọi nhau ồn ào cả chợ, trời nắng và nắng nóng, cũng như thường lệ, từ ngày đổi về quận Tánh Linh, Bình Tuy, làm việc với thiếu tá Huỳnh sau tết, đầu năm 1974, cho tới giờ, ông ít khi nào hỏi han gì về chuyện hành chánh văn phòng, trừ khi cần có chữ ký của ông cho công văn nào đó, ký tên mà miệng lúc nào cũng bảo Đạm “mọi thứ ông phó cứ tự quyết định, không cần phải chờ tôi”, ông vui tánh và ít nói, bình dân, giúp người nên trong quận chẳng ai phiền hà than vản, lính tráng thì coi như con cháu anh em, lầm lỗi gì nặng lắm ông mới rầy rà chút đỉnh rồi thôi, không nhắc tới, trước đây không biết sao, an ninh trong cả quận giờ tạm gọi là khả quan, quân du kích thỉnh thoảng phối họp với quân chính quy Bắc việt đánh phá nhiều lần, nhất là sau mùa hè đỏ lửa nhưng chưa chiếm giữ được gì, lính quận, có chết có bị thương nhưng chưa đến nổi tản cư, hồi cư như mấy tỉnh cao nguyên, ăn xong, trên đường chở Đạm qua văn phòng quận, ông cười cười, nửa đùa nửa thật “tình hình này cả nước, xem ra cũng găng lắm chứ không dễ như mình tưởng đâu, thôi ông phó về Sài Gòn nghỉ phép vài ngày đi cho đở buồn”. 

    Đạm nhận chuông, đứng chờ ngoài cổng rào, thấy người lạ, cô con gái chừng khoảng mười chín hai mươi, khá đẹp, bước ra cửa nhìn rồi quay nói gì đó với ai trong nhà, ở một góc vườn trước, xác phượng rụng ngập đỏ bầm một khoảng sân, Sài Gòn bây giờ là những ngày cuối hè, cũng còn nghe tiếng ve nấn ná và rã mệt đâu đó, trời sắp giữa trưa, không nhiều nắng, cô gái chậm bước ra cổng gật đầu chào mời vào. Vào nhà, Đạm giới thiệu mình và trao lại lá thư của ông gởi cho gia đình, cầm lấy thư, bà thiếu tá Huỳnh hối hả gọi vào trong “ Nhã Quyên, Nhã Tuyền ơi, ra đây con chào anh Đạm nè, ông phó quận của ba ngoài Tánh Linh về đó”, bẽn lẽn ngồi xuống bên cạnh, bà thiếu tá nhìn hai cô con gái, cô lớn, Nhã Quyên, là cô ra mở cổng hồi nãy, tựu trường năm nay vào năm thứ nhất dược, cô nhỏ, Nhã Tuyền, lên đệ nhị ở Gia Long, bà hỏi Đạm đứ thứ chuyện, cười nói luôn miệng, từ ba mẹ dưới Mỹ Tho tới chuyện ngoài Tánh Linh, đầu câu cứ “một ông phó hai ông phó”, Đạm chỉ biết cười trừ, bỡ ngỡ lúc đầu, trước lạ sau quen, quen thân quen thiết hồi nào không ai biết, anh anh em em rộn ràng trong nhà vườn trước sân, sau đó, suốt hai ba ngày còn lại ở Sài Gòn, chiều nào Đạm cũng đến ăn cơm chiều với ba mẹ con bà thiếu tá Huỳnh như đã hứa. Buổi sáng, hôm trở lên Tánh Linh, hai chị em đưa Đạm ra tận bến xe, nhắc lần sau có về, nhớ đến nhà, ở lâu hơn lần này, xe rời bến, khuất cuối đường, nhìn lại sau, chợt dưng Đạm thấy lòng mình như có chút gì nhung nhung nhớ nhớ.

    Tình hình chiến trận xem ra có vẻ sôi động hơn trước, Bắc quân xe người, ùn ùn, rầm rập vượt đường mòn “HCM”, tràn qua tam biên, bủa vây kìm hảm cao nguyên, các tỉnh dọc biển còn có chút dễ thở hơn nhưng không biết được bao lâu. Buổi chiều, tại văn phòng quận, sau buổi họp nghe mấy anh trong ủy ban Phượng hoàng quận báo cáo tình hình “ta địch” xong, Đạm qua chi khu ăn cơm tối với thiếu tá Huỳnh, bây giờ là những ngày vào đông, trời lành lạnh mang theo hơi gió biển, đêm xuống mau hơn mọi khi, ngồi bên nhau, một lần nữa, thiếu tá Huỳnh cười cười, nhắc lại câu hỏi mà ông đã hỏi hôm Đạm từ Sài Gòn trở ra “ông phó thấy con Nhã Quyên thế nào, cũng được hả”, không đợi Đạm trả lời, ông gục gặt đầu tiếp “hy vọng mình còn làm việc chung ở đây lâu hơn, nếu không có gì trở ngại, có ngày nào đó mình cùng về Sài Gòn một chuyến, chắc là vui lắm”, hiểu ý ông, thêm một lần Đạm chợt nhớ Sài Gòn, Đạm không nói gì thêm ngoài tiếng “dạ” rất nhẹ. Có tiếng súng nổ liên hồi phía cuối hàng rào phòng thủ chi khu, tiếng chân người dồn dập chạy tới chạy lui ngoài cổng, anh lính cận vệ quen, tay cầm súng, mặt đăm đăm đẩy cửa vào cho biết chi khu bị tấn công rồi đứng yên chờ lệnh, thiếu tá Huỳnh đứng dậy, anh lính đưa khẩu súng M16 cho Đạm, ba người bước nhanh ra ngoài, rồi mất dạng giữa tốp lính địa phương quân, nghĩa quân chừng mười mấy người súng ống chờ tự nãy giờ, có tiếng đạn pháo kích của quân Bắc việt rớt đâu đó phía bên phố chợ,  súng nổ nhiều và nghe gần hơn, lửa cháy lập lòe trong màn đêm tối đen và đen thăm thẳm. 

     Cuối tháng ba, những ngày giữa tháng tư năm 1975, vùng Một, rồi vùng Hai, các tỉnh cao nguyên, tới Phú Yên, Qui Nhơn Khánh Hòa, xuống Ninh Thuận lần lượt bỏ trống vào tay quân Bắc việt, Bình Tuy cũng không khá hơn, đường quốc lộ Một về Sài Gòn bị cắt đứt, người hàng hàng lớp lớp chạy giặc tràn xuống ngả Hàm Tân ra biển xuôi Nam. Theo dòng người, bằng đường bộ thiếu tá Huỳnh, Đạm cùng một số sĩ quan trẻ của chi khu, bỏ Tánh Linh đi, xuống tới Hàm Tân giữa khuya đêm trước ngày có lệnh buông súng đầu hàng từ Sài Gòn, bờ biển Hàm Tân người đông như kiến, ghe tàu đánh cá đèn tối mù mờ cả một vùng, chiếc nào chiếc nấy đầy ắp, lính tráng dân thường, trẻ già lớn bé, chòng chành sóng vỗ chen nhau bỏ bờ ra khơi, người còn lại trên đường gọi nhau nhắn nhau ơi ới, át cả tiếng súng tiếng đạn đại bác từng chập dọa nạt đuổi theo, cứ vậy lẳng lặng nhấp nhô trên sóng biển âm u. Quá giữa khuya, trời bổng dưng nổi gió, gió gào gió thét, mây đen một màu ma quái, mưa bất chợt trút xuống như thác, bão nổi lên gầm gừ, che kín người và nước, người nhìn người, hớt hãi lo sợ, đoàn tàu nối nhau cố bám sát dọc theo bờ, vì chở quá đông, nhiều chiếc đã lật ngang, lật úp, mất hút giữa những con sóng cao hơn nhà, chiếc có thiếu tá Huỳnh và Đạm, không may đã cùng chung số phận trong đám tàu đó, tàu họ chìm, người chìm theo, người còn lại từ các chiếc tàu khác muốn cứu cũng không làm sao mà cứu, biển cứ lồng lộng đen ngòm, nhìn lại, thở dài, đoàn ghe tàu cứ đi, trời vẫn mưa, bão vẫn vậy cho tới rạng sáng. Đạm nằm bất tỉnh trên tấm ván nắp đậy hầm chứa cá nhấp nhô ẩn hiện, được một chiếc ghe nhỏ, hư hết một máy, chở ít người, lẻ loi phía sau cứu, có phần muộn nhưng cuối cùng cũng tấp vào được bờ Long Hải, Phước Tuy, rạng sáng ngày 30 tháng 4, đành thôi, ngồi thừ người trên bải cát, nhìn ra biển nước mênh mông, nước mắt mặn pha chút nước biển trên môi, tim đau nhói, Đạm rươm rướm khóc “thiếu tá ơi thiếu tá”. 

                                                    *

    Đem mớ bánh ba-tê-sô giao cho tiệm cà phê quen ngay góc đường như mỗi sáng xong, đẩy cái xe đạp cũ, người dì họ cho mượn làm chân, có mà chạy đi chạy lại kiếm sống chờ thời, xuống lề đường, sau ngày ở tù về, ở Mỹ Tho bị làng xã hạch hỏi dòm ngó quá, nên bỏ lên Sài Gòn tìm chốn dung thân, mặc dù phải rày đây mai đó, lang thang bến xe bến tàu, may gặp lại chị Trang, có sạp bán vải trên đường Lê Lợi trước đây, vốn quen nhau vì là khách hàng thường xuyên trong những ngày còn đi học, giờ chị mở tiệm làm bánh ngọt Tây tại nhà, ở cuối hẽm ngã tư Cao Thắng - Phan Thanh Giản, nhận làm người đi giao bánh cho mấy tiệm cà phê còn mở cửa, nên tạm yên thân, có chút đồng ra đồng vô, bữa cơm bữa bánh mì, cũng cảm thấy hạnh phúc lắm rồi, đội cái nón kết xám bạc màu lên, định đạp đi thì chiếc xích lô trờ tới bỏ khách xuống chặn ngang, Đạm cầm ghi đông chờ, người đạp xe xích lô giở nón khỏi mặt nhìn lên nhỏ nhẹ “cám ơn”, Đạm buông xe đạp ngã xuống đường, cùng lúc cả hai, há hốc buột miệng “thiếu tá, ông phó”, Đạm nắm tay thiếu tá Huỳnh, hai người ngồi đại xuống bờ lề xi măng, nghèn nghẹn. 

    Đêm tàu chìm, thiếu tá Huỳnh được một chiếc tàu khác, chở không đông người lắm, lính nhiều hơn dân, cứu lên, nhưng không may, chiếc này máy bị hư sau đó, thả lềnh bềnh ngược chiều gió bão cuốn trôi tấp vào bờ Phước Tỉnh chiều 30 tháng 4, ngồi thở dốc trên đám cát phủ màu rong úa, nhìn ra xa chập chùng biển dữ, thiếu tá Huỳnh thì thầm “ông phó ơi ông phó”, nhờ nhà này miếng cơm nhà kia miếng cháo, mấy ngày sau, thiếu tá Huỳnh quá giang đám xe hàng từ miền trung vào về đến Sài Gòn, căn nhà vẫn còn, cả nhà ôm nhau, đóng cửa kín lại khóc ròng, khóc mà sợ người bên hàng xóm nghe. Trước ngày có lệnh gọi công chức quân nhân VNCH trình diện, tập trung đi tù, tình hình phường khóm vẫn còn nhập nhằng mới cũ, nên chưa đến nổi cùng đường, bà thiếu tá thay chồng, chạy về Long An, gặp người bạn cũ, cùng dạy ở trường tiểu học Mộc Hóa trước khi bà nghỉ dạy, có chồng cũng là sĩ quan làm việc dưới tiểu khu Sa Đéc, hỏi thăm liệu còn đường nào ra đi không, lên xuống vài lần, cả gia đình thiếu tá Huỳnh quyết định theo vợ chồng người bạn cô giáo đi chuyến tàu của người em bà con của bà này ở Trà Vinh. 

    Ngày đi, chạng vạng chiều, từng nhóm nhỏ được mấy người tổ chức đón từ một số nhà tạm trốn quanh chợ Trà Vinh, đưa xuống tàu trót lọt, trong đó có nhóm bà thiếu tá Huỳnh, hai cô con gái và bà bạn cô giáo, xui xẻo đi sau cùng, chiếc xe lam chở nhóm thiếu tá Huỳnh, người chồng cô giáo bạn và ba người thanh niên khác, bị đám công an đi đâu đó về ngang chận xét hỏi, rồi đem về nhà tù tỉnh nhốt vì tội vượt biên, dưới bải biển, đêm xuống tối mịt, chờ cũng đã lâu, sợ bị bể, nên tàu lớn đành phải ra khơi, có người khóc có người than, có người lâm râm cầu nguyện, trời vẫn đen một màu đen rùng rợn. Hơn một ngày đêm ròng rã trên biển nước mênh mông, sườn phía hông tàu sau bị nứt, dây kéo máy bơm cũng bị đứt, máy nóng quá không chạy được nữa, tàu quay vòng loanh quanh, nhấp nhô hụp lặn, nước bắt đầu vô ngập các hầm khoan dưới, người lôi kéo nhau lên sàn, la hét, tàu bể ra, gần một trăm, ai nấy gào khóc, bám víu cái gì cứ bám để mà sống nhưng không ai biết sẽ kéo dài bao lâu giữa biển cả mênh mông, sóng phủ sóng chập chùng, từng người một xa nhau dần và trời lặng thinh, đâu đó chút mây tan, rớt xuống vài ba vạt ánh trăng thiểu nảo, cũng may, một số người chừng mười mấy, còn bập bềnh trên nước được chiếc tàu chở hàng lớn Nhật, trên đường từ Tân Gia Ba về ngang, cứu lên đưa về tạm trú ở Okinawa. 

    Sau gần ba tháng tù, nhờ có mớ giấy tờ giả, hai người, chồng cô giáo và thiếu tá Huỳnh được thả, về Sài Gòn thì căn nhà của ông đã bị tịch thu làm trụ sở ủy ban nhân dân phường, vợ con chưa biết đi đứng ra sao, không thể về quê cũ vì ở đó ai cũng biết ông, đầu đường xó chợ vài ngày, ông đành tìm tới nhà trung sĩ Thưởng ở bên Rạch Cát, người tài xế theo ông từ ngày còn ở tiểu đoàn, trung sĩ Thưởng cũng cùng đi với ông bỏ Tánh Linh, nhưng lạc mất nhau không biết khi nào, vợ chồng trung sĩ Thưởng mừng rơi nước mắt, một “ông thầy hai ông thầy”, vợ chồng nhờ “ăn chia ăn chịu” gì đó với đám phường khóm trong việc buôn bán chợ trời, trung sĩ Thưởng chạy chọt cho thiếu tá Huỳnh tạm có tên trong sổ hộ khẩu, cơm nước tuy không nhiều nhưng họ lo mọi thứ, không lâu, ông quyết định đi đạp xich lô, dù cho vợ chồng trung sĩ Thưởng cản ngăn ngày này qua ngày nọ.

    Thiếu tá Huỳnh, ngưng ở đó, lấy khăn lau chút mồ hôi của nắng Sài Gòn vừa lên, nhìn mông lung, dường như muốn nói thêm nhưng lại thôi, ông nhìn Đạm chờ, cũng như ông, anh kể lại chuyện đêm chìm tàu và những ngày “ăn bờ ngủ bụi” sau ngày ở tù về, bổng dưng nhớ lại, Đạm chợt buột miệng hỏi “còn bà và hai cô”, thiếu tá Huỳnh bóp chặt hai bàn tay, nghiến môi “còn đâu nữa mà hỏi, chết giữa biển rồi”, hai người bật khóc, đám bộ đội mặt mày trắng bạch thiếu nắng, ngồi trên chiếc xe jeep cũ của cảnh sát VNCH chạy ngang qua, quay đầu lại nhìn, nói với nhau gì đó.

    Những ngày sau đó, cứ hai ba hôm, chiều chiều, Đạm đạp xe đạp qua thăm thiếu tá Huỳnh bên Rạch Cát, gặp lại Đạm trung sĩ Thưởng mừng mà muốn khóc, nhắc hoài chuyện cũ, qua anh, Đạm mới biết là bà thiếu tá và Nhã Quyên, Nhã Tuyền đã chết ngoài biển đêm vượt biên, tin do người bạn cô giáo, viết thư cho chồng là người sĩ quan bị bắt và nhốt cùng khám ở Trà Vinh biết, bà là một trong mười mấy người được tàu hàng vớt đưa về Nhật. Đêm cuối tháng ba, gần sáu bảy tháng sau, Đạm đưa thiếu tá Huỳnh cùng gia đình anh trung sĩ Thưởng vượt biên, ngồi bên ông lần sau cùng, giọt cà phê cuối cùng không ai cạn, bỏ lửng, tiễn nhau hy vọng có ngày gặp lại đâu đó nếu trời còn thương.

                                              *

      Đạm không ngăn được nước mắt khi gặp lại thiếu tá Huỳnh ở chùa Quang Minh, hôm theo anh bạn tới đó ăn cơm chay cho biết, sau lễ cầu siêu, không hỏi Đạm cũng đã biết lý do, không ai ngờ được, mừng không biết là bao nhiêu, chuyện trước chuyện sau rưng rưng, cũng như lần hai người ngồi bên lề đường Phan Thanh Giản năm xưa, hỏi nhau nói nhau không hết, ông hiện sống một mình và ở cũng gần đây. Đạm đưa ông về, nhà ông ở là một căn vi la nhỏ trong dãy nhà chính phủ cất dành cho người già, ông ở thui thủi một mình, sống nhờ vào tiền trợ cấp, trong nhà trống trơn, chỉ có cái giường ngủ, cái tủ gỗ cũ nứt nẻ vài chỗ, cái bàn viết nhỏ kê bên cửa sổ ngó ra đường, ba bốn cái ghế ngồi, không cái nào giống cái nào, cũng rách bươm không thua bộ sa lông bằng vải đen bạc màu, dán băng keo đầu này đầu kia, chằng chịt, ngồi lõm xuống tận đáy và cái tủ lạnh nhỏ, đứng khiêm nhượng trong nhà bếp, trên đầu tủ, là bàn thờ nhỏ, tấm hình bà và hai cô con gái đen trắng để sau lưng cái ly làm lư hương, bên cạnh là bình bông đen, ít khi thấy hoa tươi, vậy đó, ông lặng lẽ ra vào, theo tháng ngày quanh quẩn, nhưng chưa thấy ông buồn và than phiền gì cả, thiếu tá Huỳnh, xuất thân từ sĩ quan thời Pháp, tiếng Pháp khỏi nói nhưng không nói được tiếng Anh nhiều, nhưng vẫn hỏi thăm hỏi lom được ông già Bill nhà bên cạnh bằng “ngôn ngữ tay chân” sáng nắng trong chiều mưa xám. Bạn bè, cựu sĩ quan có, bác sĩ dược sĩ có, công chức cũ có cũng đến thăm đôi ba lần, nhưng ai nấy còn lo phần mình, không thường trở lại, năm khi mười họa mới tạt ngang. 

    Tháng ngày sau đó, cũng đơn độc như ông, hể tới cuối tuần, thứ bảy chủ nhật là Đạm tới, nhà ông, so tuổi tác thì thiếu tá Huỳnh lớn như cha nhưng quen rồi, Đạm cứ gọi là anh, khi thì mang theo mớ đồ ăn mua ở chợ mình, khi thì đem bánh ngọt của ai đó ở chỗ làm cho đến, hai người chia nhau ăn chút cho vui, thỉnh thoảng cũng ra chợ ăn phở này phở kia, với chút tiền còn dư lại trong tuần, cứ như vậy anh em an ủi nhau, chia sẻ buồn vui ngọt bùi của đời người nơi xứ lạ, ngày thường, khi cần đi ngân hàng, bệnh viện hay văn phòng chính phủ về chuyện gì đó, ông gọi một tiếng, Đạm tạm bỏ sở làm, vài tiếng đồng hồ đến đưa ông đi làm ngay. Ông hút thuốc nhiều, Đạm không dám cản, còn gì khác hơn đâu, một hôm ông bị nghẽn tim, ngã quỵ trong nhà, xe cứu thương hụ còi chở ông vào bệnh viện, suốt mười ngày trong đó, chiều nào Đạm cũng vô thăm ở tới khuya, bệnh khỏi về lại nhà, ông bỏ thuốc, chưa xong lại phải trở vào vì cứ khó thở hoài, giờ sang qua tới phổi, cuối cùng, tim phổi được giải phẩu hai ba lần, thuốc uống cả chục thứ đủ loại mỗi ngày, trời còn thương, những lần tái khám sau đó, bác sĩ cho biết bệnh không còn đáng ngại nữa, ông xem ra khỏe và tươi tắn hơn trước. Chừng nửa năm sau, không biết ở đâu và làm thế nào, ông quen với cô Hương, góa chồng, người gá nghĩa vợ chồng với ông, cô có hai ba người con, đã lớn, đã lập gia đình ở riêng, cô còn đi làm ở một công ty may mặc đồ mẫu, không giàu nhưng tạm dư giả, Đạm mừng cho ông, ít ra cũng còn chút gì vui mà sống, ông không ở với cô mà vẫn ở nhà mình, đi về hai ba ngày trong tuần. Chuyện ông với cô Hương, Đạm chưa bao giờ nhắc tới, coi như biết rồi, chỉ có một lần, trưa chủ nhật, trời mưa lớn, bây giờ là những ngày lập đông, gió lạnh thật lạnh, loay hoay nấu mì ăn, Đạm vô ý hỏi sao ông không về ở trên đó với cô Hương cho khỏe, ông cười lắc đầu “dù sao trên đó cũng là nhà của người ta, nhà mình dù nghèo nhưng là của mình”.

                                                   *

    Trời chớm thu, khắp nghĩa trang Altona, đường ngoài đường trong cây trở mình rụng lá, sáng chủ nhật, vắng người, đâu đó đôi ba con bướm lẻ bạn, ngập ngừng vờn quanh mấy chiếc lá rụng sớm, lả tả bay theo chiều gió hắt hiu, man mác lạnh, ngồi chờ người phụ trách việc chăm sóc mộ phần như đã có hẹn từ tuần trước, sau khi có sự đồng ý của ông giám đốc, Đạm đặt tấm hình chụp gia đình thiếu tá Huỳnh, tấm hình tìm ra được từ trong xấp hồ sơ bệnh tình của ông mà anh còn giữ, trên tấm mộ bia, giữa khoảnh cỏ, chết lặng. Phần giữa mộ được đào lên, trống một khoảng, cầm cái hủ đựng tro cốt thiếu tá Huỳnh lên đưa cho Đạm, người làm của nghĩa trang đứng thụt lùi lại phía sau chờ, Đạm xếp tấm hình bỏ vào, mân mê một hồi lâu rồi đặt xuống, người làm của nghĩa trang từ nãy giờ lẳng lặng chờ, giờ cũng lẳng lặng lấp đất lại, không nói tiếng nào, mặt buồn xo. Một chút nắng rực lên phía trên đồi, trời hâm hấp giữa trưa, người thăm mộ bắt đầu đông dần, có tiếng ai đó đọc kinh lâm râm và tiếng ai đó khóc nho nhỏ ở mấy hàng mộ gần bên, cắm bó hoa chi chit nhỏ vàng, không biết tên, mua từ sạp bán hoa ngoài cổng vào bình, nước mắt chảy dài xuống mặt, Đạm nghèn nghẹn khóc theo “thôi em về, hẹn anh lần tới, em nói cho anh nghe nhiều hơn chuyện em chưa kịp nói về cái tên Nhã Quyên”.



Thuyên Huy

Đầu mùa thu 2017

Mượn chút phần đời của một người có thật, tình tiết, bối cảnh và những gì còn lại của chuyện được viết bằng tưởng tượng


 (Ảnh: Từ Google)



------------


Nguồn: hoainiemtayninh.blogspot.com 


Monday, August 5, 2019

Thuyên Huy





Người giới thiệu Nguyễn Cang
      Hôm nay nhận được quyển sách “The Lonely Communist Man” do tác giả Thuyên Huy gởi tặng, tôi rất vui nên muốn viết đôi dòng để cám ơn và cũng để giới thiệu cùng bạn đọc về anh. 
TH viết văn, làm thơ hay, xuất sắc nhất là những truyện ngắn thường lấy bối cảnh thời chiến tranh trước 1975, trong đó anh lồng nhiều tình tiết éo le ngang trái đưa tới những đau thương mất mát trong cuộc đời. Ngoài việc làm thơ, viết văn, TH cũng thường viết cho các tờ báo và tạp chí bạn quen, tôi là bạn thơ cũng là người đồng hương và đồng môn ở Trung Học Công Lập Tây Ninh với anh.
     Thuyên Huy, tác giả truyện ngắn “Nơi dòng sông lẻ bạn” và “Những vần thơ quê hương”; tôi, Nguyễn Cang, xin được hân hạnh giới thiệu cùng  thân hữu, bạn đồng môn THTN, đồng môn SPSG. Anh là cựu học sinh Trung Học Tây Ninh, vừa là một giáo viên, dạy tiếng Việt cho “Trường ngôn ngữ Victoria” (Victorian School of Languages) ở Úc, đồng thời đang là cố vấn cho The Vietnamese Program của đài phát thanh FM974 Melbourne,  vừa là một người viết văn, làm thơ. Những bài thơ, truyện ngắn anh viết, đọc nghe thật cảm động, ngậm ngùi, luyến tiếc một thời tuổi trẻ đã qua. Những địa danh cũ ở quê nhà TN, được anh dùng làm nền cho những sáng tác thơ, truyện ngắn, truyện dài, khiến người đọc như thấy lại cảnh cũ người xưa đâu đó hiện về; nó gần gũi , thân thương biết chừng nào! Bạn nào muốn tìm về kỷ niệm hoặc trao đổi thơ văn, có thể liên lạc với Thuyên Huy  ở địa chỉ email trên trang Blog 304Đen. 
     Thuyên  Huy sinh quán Gò Dầu Hạ, lớn lên ở Bến Cầu, Long Thuận rồi Trà Võ, Thạnh Đức. Học trung học Công Lập Tây Ninh, trường Sư Phạm Sài Gòn rồi tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh. Năm 1974 ra trường làm việc ở quận Kontum tỉnh Kontum cho tới ngày 30/04/1975. 
Hiện định cư tại Úc châu. TH vừa đi làm công nhân vừa đi học thêm, có được bằng Master of Education (MeD) của University of Southern Queensland và Victoria University, ứng viên bằng Tiến sĨ Giáo Dục (DeD) của Victoria University nhưng rớt, không đủ điểm cho phần trình luận án.  
TH tập tành làm thơ viết văn từ thời còn học trung học công lập Tây Ninh nơi có một Trường Anh với Mưa Cẫm Giang, một Chu Tử với Sống, Yêu, một Nguyễn Văn Đông với Chiều Mưa Biên Giới và một Anh Việt Thu với Mưa Đêm Nay, Người Đi Ngoài Phố….
Sách đã xuất bản bằng tiếng Anh: 
1/ Where The Happiness Begins – Athena Press London 2003 
2/ The Lonely Communist Man – I Universe Publishing House New York 2009
Chưa xuất bản: 
Truyện dài tiếng Việt: Bất Chợt Thu Về Đầu Hạ và tập thơ: Phía Bên Trời Quên Mưa.
    Được biết quyển “The Lonely Communist Man” vừa được TH tái ký hợp đồng quyền bán sách với nhà xuất bản I Universe. Sách chưa có ấn bản tiếng Việt (hy vọng sẽ có một ngày rất gần đây) cho nên có thể gây khó khăn cho nhiều bạn đọc người Việt, tuy nhiên có vài đoạn trong sách bằng tiếng Việt mà TH đã dịch theo yêu cầu của nhà xuất bản. Tôi xin trích ra để bạn đọc có một chút khái niệm về nội dung quyển sách này.

Người Cộng Sản Cô Độc

Chương Ba
(Chương này Bon còn đi chăn trâu ở Đồng Cò và sau đó bỏ đi theo du kích)
Chiến tranh bắt đầu sau đó, quân du kích Việt cộng, có vài người trong ấp bỏ đi theo, lấp ló chờ đêm, từ miệt hướng Đức Hoà Đức Huệ, kéo về tấn công đồn lính nghĩa quân ấp Đồng Cò năm ba lần. Ban đêm chó sủa vang rân, đôi khi trụ sở ấp bị đốt, cháy rực trời. Khúc đường Gò Dầu, Trảng Bàng mìn nổ nhiều lần, hai ba người chết. Đám con nít chăn trâu, không còn ở trễ ngoài đồng, trời vừa xế bóng đã vội vã lùa về, hết có dịp ngồi tán dóc chờ hoàng hôn xuống.
    Mùa gặt mới bắt đầu, năm nay ruộng bỏ hoang mấy đám, nhất là phía bên kia rạch, dọc theo cánh đồng truông nứa lầy lội, chạy dài tới tận sông Vàm Cỏ Đông, du kích Việt Cộng ban đêm, đợi lính nghĩa quân vào đồn, mò ra hăm dọa dân trong ấp đóng thuế lúa. Lính VNCH cũng không dám ra xa, trừ khi có lính trên quận xuống. Trời dạo này có mưa, thường vào buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn. Bon lùa đám trâu về chuồng nhà ông chủ, hô to cho trong nhà nghe, ôm cái túi xách quần áo, dấu ở bụi rơm sau nhà ngày hôn trước, băng xéo cánh đồng gò về hướng truông nứa, nhìn lại ánh đèn dầu leo lét trong mái tranh nhà nó lần nữa, Bon vuốt mặt, bước nhanh trên bờ đê. Bóng cò ăn đêm bay lững lờ phía cuối truông, Bon bỏ Đồng Cò đi giữa mùa lúa, năm mười tuổi.*
*đoạn này là đoạn in ở phần bìa sau của cuốn truyện
Chương Chín
minh hoạ
(Chương này Bon trở thành cán bộ cộng sản, sau khi chiếm miền Nam, về lại Tây Ninh tìm cha mẹ nuôi, ông bà đốc Nhân)
Trên đường trở lên Tây Ninh, Bon bảo người tài xế dừng xe lại bên lề , ngay ngã vào ấp Đồng Cò. Bon ngồi lặng thinh trong xe nhìn vào hướng khu chợ ấp, tất cả cũng như xưa, đám đất gò cao phía xa cuối ấp cũng khô cằn khô cổi. Đám ruộng còi dọc theo quốc lộ lưa thưa vài ba vũng nước, mặc dù trời tháng tư đã có mưa lai rai. Đám du kích ấp mang súng đi ngang, tò mò nhìn không ai màng hỏi han một tiếng. Bon chợt dưng nhớ cái đêm mưa chập chùng giữa mùa gặt, nhớ cái đống rơm nơi hắn đã dấu gói quần áo cũ mà Bon đã mang theo hôm bỏ Đồng Cò đi. Nhớ lần đầu, sau khi chiếm được miền Nam, trở lại Đồng Cò tìm lại mẹ cha, Bon háo hức bao nhiêu thì hôm nay Bon chán nản bấy nhiêu. Đối với Bon, hôm bỏ Đồng Cò đi coi như là đã mất tất cả. Trời sáng hẳn và bắt đầu nóng. Bon phủi nhẹ chút bụi đường dính trên cái nón cối rồi làm dấu bảo anh tài xế cho xe chạy đi. Xe qua khỏi khu nhà ấp một quãng xa, Bon vẫn còn thấy con đường đất nhỏ dẫn xuống mé bờ sông bên này truông nứa, con đường mà Bon từ đó ra đi trong một đêm mưa xối xả.
Chương Mười Chín
(Chương này Bon bị án tù 20 năm)
Đảng luôn luôn khoan hồng cho những người lầm lỗi nhưng Bon cứ ngoan cố không thành thật báo khai, cho đến giờ này vẫn giấu  giếm tài sản. Sau khi đưa ông Hựu ra Bắc, tòa tuyên xử Bon bản án 20 năm, thanh trừng ra khỏi đảng. Linh khóc suốt mấy ngày, mất Bác Hồ rồi mất luôn công lý, cái công lý cộng sản mị dân mà vợ chồng Linh đã một thời mơ tưởng, trong khoảnh khung trời như mắt ngựa bị che khuất hai bên. Linh ngồi vật vã trước tiền đình tòa án thành phố, người cứ lại qua trên đường, không ai màng nhìn tới. Anh công an gát cửa mải miết cười tình với đám con gái bán hàng bên lề đường, quên cả chuyện mở cổng cho xe vào. Tiếng còi xe ré lên không khác gì tiếng còi tàu hôm Linh rời Hà Nội, cắt da cắt thịt.
TH cũng còn làm rất nhiều thơ, tôi cũng nhân đây mạo muội mời quý anh chị đọc một vài bài thơ của anh.
Có Còn Không Cơn Mưa Hạ
Để nhớ NTC trong sân trường QGSP Sài Gòn, ngày nhập học năm đầu của hơn bốn mươi lăm năm trước
minh hoạ
Tôi gởi theo em cơn mưa hạ
Hôm mình vội vã tạ từ nhau
Em đi bỏ phố buồn ở lại
Chiều buông thăm thẳm tím trời sầu
Tôi cố quên đi ngày tháng cũ
Nhưng sao cứ nhớ giọt mưa buồn
Đong đưa theo tiếng chuông chùa đổ
Thẹn thùng em nhặt nắng hoàng hôn
Con đường mình qua trời phượng đỏ
Lưa thưa thoáng mưa bụi ngang đầu
Em nghiêng vành nón che dáng nhỏ
Bóng ngã đưa về mình có nhau
Cơn mưa hạ muộn cho tôi gởi
Thấm vạt áo xưa chút lệ tình
Chỗ hẹn ngày nao không người đợi
Em chắc quên rồi màu áo  xanh
Mai này nếu tình cờ gặp lại
Đong giọt mưa sa thay rượu mừng
Trả nhau những mảng đời ngang trái
Hết rồi không còn nợ tình nhân
Thuyên Huy

Tết Này Người Về Cho Tôi Gởi

Để tặng Nguyễn Thị Hoài Ân nếu có về Trà Võ của những năm 1969
Người về Trà Võ chiều nay
Gởi giùm tôi chút tình thay nổi lòng
Nhớ mưa quê muộn cuối Đông
Trải sương mờ đục trắng đồng mù xa
Gốc Mai đầu chợ chắc già
Nhớ Ba Mươi tết buồn tha thiết buồn
Chở bông Súng muộn chống xuồng
Nghe chuông chùa vọng mà thương mái chèo
Pháo vui giục trống lân theo
Cây nêu chờ gió xiêu xiêu mái đình
Ngõ về nghiêng nhánh trúc xinh
Chậm sau đường vắng nghe tình vào Xuân
Ngại ngùng chợt biết bâng khuâng
Tên người được gọi chỉ ngần ấy thôi
Mùng Ba người bỏ cuộc vui
Mai tan tác rụng tình chơi vơi sầu
Ngậm ngùi nhớ thuở ban đầu
Tiếc thương ôm trọn niềm đau một đời
Xuân từ đó chết trong tôi
Thuyên Huy

Friday, August 2, 2019

GIĂNG BẪY TÌNH



Nguyễn Thạch Giang


Tôi quen chị Ly Ly hơn hai mươi năm về trước, lúc từ Việt Nam mới qua lơ ngơ đi làm công nhân trong hãng điện tử. Hai vợ chồng chị Ly Ly cũng từ Việt Nam mới qua vô làm chung hãng. Hãng nhỏ chuyên làm đồ gia công cho mấy hãng lớn, nhân viên thuộc hàng "assembler" như tôi thì người Việt rất đông họp thành một xóm nhà lá cũng vui.
Hai vợ chồng chị Ly Ly thuộc hạng "người giỏi", làm được một thời gian thì anh tìm được chỗ làm khác tiền lương nhiều hơn bèn nhảy job (chớ ai đời như tôi ù lì một cục ngồi đâu ngồi đó, có một chỗ làm hoài). Chị Ly Ly thì giỏi kiểu khác, lương ba cọc ba đồng nhưng chị để dành tiền hay lắm, có chín đồng rán kiếm thêm một đồng cho đủ mười. Không bao giờ từ chối mỗi khi sếp kêu làm overtime, còn tôi gần tới giờ về là nôn trông cho mau tới, hôm nào sếp kêu ở lại làm tăng ca là tôi buồn trong bụng lắm, mà chỉ làm hai tiếng thôi, không làm bốn tiếng như người khác.
Thuở đó hai vợ chồng chị chỉ có một chiếc xe, giờ anh nhảy hãng khác chị nhờ tôi đưa đón, hùn tiền xăng đàng hoàng. Mỗi ngày hai bận đi về, chị nói hết chuyện này tới chuyện khác, (chị có bao nhiêu tiền cũng nói cho tôi biết). Chị nói anh làm bao nhiêu tiền đưa chị giữ, chỉ xài tiền làm overtime (trời đất! vợ người ta!). Chị nói chỉ tiêu của chị là mỗi tháng phải để dành năm trăm, nhất định phải có năm trăm. Làm được mấy tháng chị có dư mấy ngàn chơi hụi. Hốt hụi chót được năm bảy ngàn đi mua vàng, nếu không thì ai cần cho họ mượn (mình được họ rối rít cám ơn mà còn có tiền lời).
Một thời gian sau chị Ly Ly mua xe không còn đi quá giang, tôi lại đổi việc làm đổi chỗ ở nên không còn gặp chị nữa. Thỉnh thoảng có gặp hai vợ chồng chị đi mua sắm trong chợ thực phẩm Á Đông cùng hai đứa con nhỏ, nói chuyện xã giao vài câu rồi mạnh ai lo việc người ấy, ai cũng bận.  
Một thời gian nghe tin hai vợ chồng ly dị, tôi có hơi ngạc nhiên mặc dầu cũng biết đó chỉ là chuyện thường tình trên xứ này.

***

Tôi tình cờ gặp lại chị Ly Ly ở parking khu thương xá người Việt, chị đi với một người đàn bà trẻ. Không đợi tôi hỏi chị giới thiệu luôn. "Vợ ổng mới cưới ở Việt Nam mới qua". Tôi tròn mắt cười cười không dám nói giỡn chơi hoài chị. Người đàn bà trẻ lên tiếng, "dạ phải, em mới qua chưa biết lái xe nhờ chị chở dùm, em xin được việc làm phụ bếp nhà hàng Sông Hậu ở đây nè anh".
Tôi ngó chị Ly Ly hỏi thiệt hả. Chị cười dòn. Chị của mầy đâu có xạo bao giờ.
Hai vợ chồng bà này cũng vui, hồi trước ly dị hai vợ chồng cũng ở chung nhà. Phòng ai nấy ngủ mạnh ai nấy có bồ. Tiền nhà tiền ăn chia nhau sòng phẳng. Được một thời gian anh Tốt (chồng cũ của chị) đi cưới vợ khác ra ở riêng. Được mấy năm lại ly dị, giờ về Việt Nam cưới cô vợ trẻ măng, lớn hơn con gái đầu lòng của anh có mấy tuổi.
Cô vợ trẻ của chồng chị vội bước đi cho kịp giờ làm.

- Lâu ngày gặp lại thấy cũng vậy, cứ tà tà ngồi quán cà phê sướng quá nhe. Chị Ly Ly nhìn tôi vừa nói vừa cười.

- Hai vợ chồng bà cũng vui, ly dị xong ở chung nhà, chồng đi cưới vợ khác, vợ cũ chở vợ mới của chồng đi làm.
         
Chị Ly Ly cười xoà. Ai thấy cũng nói vậy, nhưng mình sống chung hoà bình cũng có cái lợi, lúc đó con còn nhỏ, ổng phụ mình một tay đưa đón chăm sóc tụi nó, ổng phụ tiền bill bọng cũng đở cho mình.
   
Chợt có người đậu xe bước xuống đi về phía chị Ly Ly, chị nói tôi vô quán cà phê ngồi đợi, chút xong việc chị vô quán ngồi nói chuyện chơi.
Hai người đứng nói chuyện rù rì, người đàn ông móc trong túi lấy cái bao thơ đưa chị Ly Ly, chị bỏ vào bóp rồi vô quán cà phê tìm tôi.
- Bà mới vừa vô mánh nhe.
- Mánh cái con khỉ, cho ổng vay, tiền lời đóng được mấy tháng rồi nín luôn, tiền vốn trả trật vuột tới bữa nay là năm tháng mới trả dứt.
- Lấy được vốn là mừng rồi, bữa nay bao tui uống cà phê nhe.
- Chuyện nhỏ.
- Bà cho ổng mượn bao nhiêu.
- Mười ngàn, mỗi tháng đóng tiền lời ba trăm.
- Rẻ quá vậy, cho tui mượn năm ngàn đi.
- Mày mượn làm gì? sao mấy năm trời gặp lại cũng vẫn vậy, người ta mỗi ngày một đi lên mày thì cứ đứng một chỗ.
- Ừa, không thụt lùi là may phước.
Bà Ly Ly ngó ra ngoài sân, chắc bà ngại hay là bà tưởng tôi nói chơi.
- Hai đứa con bà sao rồi?
- Đứa con gái có chồng, theo chồng về Los ở rồi, thằng con trai đi lính.
- Bà ở một mình hay là với vợ chồng anh Tốt?
- Một mình, từ lúc ổng đi cưới vợ khác đâu còn ở chung.
- Ly dị bà ổng có thêm hai đời vợ, bà ở một mình hoài không buồn sao.
- Lo kiếm tiền đâu có thì giờ mà buồn.
- Biết mà, hồi nào tới giờ bà chỉ mê tiền, có nhiêu đó chưa đủ sao.
- Đủ rồi em cưng, hồi trước chị cứ cầu xin ơn trên cho chị lúc năm mươi tuổi có được căn nhà và mấy trăm ngàn tiền mặt trong nhà băng. Giờ bốn mươi chín tuổi có hai căn nhà, một để ở một cho mướn, tiền có chút đỉnh bỏ nhà băng lấy tiền lời đủ ăn. Đối với chị nhiêu đó đủ rồi.
- Cái điệu bà nói hơi bị lạ, có ông nào rồi phải không?
- Chưa, nhưng đang yêu.
- Bà mà cũng biết yêu.
Chị Ly Ly cười mĩm ra chiều thích thú.
- Nói vậy chớ mới gặp người ta thôi, nhưng cảm thấy thích ông này.
- Ông đó ở đâu bà chỉ tui coi, ổng ra sao ngon lành cở nào mà bà mới gặp người ta đã thích.
- Bữa chị đi dự "hội đồng hương" tổ chức có văn nghệ và ăn uống trong nhà hàng Dynasty, ổng tình cờ ngồi chung bàn, ổng nhìn chị hoài làm chị tưởng mình đẹp. Rồi ổng lên hát, chị nhìn cái miệng ổng thấy sao mà duyên cực kỳ.
- Có vậy rồi bà thích người ta, coi chừng vợ ổng rượt bà chạy sút dép.
- Không, chị hỏi thăm ổng hỏng có vợ.
- Tuổi đó mà "hỏng có vợ", coi chừng ổng giống tui.
Chị Ly Ly cười hắc hắc. Bỗng bả nắm tay tôi giựt lia lịa chỉ ra ngoài parking, kìa kìa ổng đó, đi đâu lang thang vậy chàng.
Tôi bật cười hô hố, tưởng ai, anh Hoà. Tui quen ổng lâu rồi, thỉnh thoảng có đi nhậu với ổng. Hiện tại thì ổng có một mình, còn trước đây có vợ con gì chưa thì không biết. Bà chịu tiền nhậu, bữa nào tui gài độ đem ổng gã cho bà.
- Tiền nhậu là chuyện nhỏ, hễ chị mày mà muốn thì giá nào cũng chơi.
Chị cười hê hê, móc trong bóp lấy ra bao thơ tiền đưa tôi. Nè, năm ngàn người ta vừa trả cho mầy mượn, người ta chị lấy trăm rưởi tiền lời một tháng,  mày chị lấy một trăm thôi, khi nào chị cần lấy tiền lại, cho mày biết trước một tháng, okay, thôi chị về, bữa nào nhậu! Nhe! Vậy đi.

***
 
Tôi gọi điện thoại cho anh Hòa, không biết mở đầu ra làm sao, (tôi nói chuyện có hơi dở) thôi nói huỵch tẹt luôn cho rồi. Anh cười ồ, bà đó thích tao? Có thiệt hong vậy. Dễ thôi. Nhưng làm người tình để đi chơi thì được, chớ còn biểu tao cưới thì xin lỗi. Anh chưa hưởn.
- Bả hồi nào tới giờ chỉ biết đi làm kiếm tiền nuôi con, nay con lớn già sanh tật, muốn tìm một người đàn ông để tâm tình trong những chiều mưa lạnh.
- Tự nhiên mày đổi tông hát nhạc sến, tao chỉ biết nhậu đâu biết tâm tình, làm tình thì họa may.
- Để tui hẹn bả, cuối tuần này mình đi nhậu nhe.
- Okay.
 
Tôi hẹn bà Ly Ly cuối tuần đi nhậu với anh Hoà, ông này chỉ thích nhậu chớ không thích ngắm trăng hay đi dạo trong công viên nói chuyện tâm tình. Bà Ly Ly thì ai  sao tui  vậy ai  làm bậy tui làm theo. Tôi thì chỉ uống chút chút cho vui, chưa bao giờ say xỉn nên lãnh phần lái xe. Ba người kéo nhau vô nhà hàng Việt chuyên bán đồ nhậu. Anh Hoà thì uống còn tôi với bà Ly Ly thì ăn mồi, thỉnh thoảng cũng cụng ly chút chút cho vui cửa vui nhà. Ngồi cho đến  lúc quán đóng cửa mà anh  Hoà vẫn chưa thấy "đã" nên rủ nhau ra downtown vô bar Mỹ chơi. Tôi chợt hứng rủ bà Ly Ly làm vài ly. Đến nửa đêm thì anh Hoà thấm rượu thấy khó chịu rủ nhau ra trước bar hóng gió. Mới vừa ra khỏi cửa anh bước lẹ ra đường "ô kê thau" tại chỗ, có một chiếc xe taxi chạy trờ  tới, anh mở cửa leo lên nói xin lỗi. "Ê Tôm anh về trước, mày take care chị Ly Ly dùm anh nhe".
Tình huống không có trong kịch bản!
Tôi lỡ dại làm mấy ly nên cũng thấy lâng lâng, tính leo vô xe ngồi cho tỉnh rượu chút về, chợt thấy bên kia đường có cái motel rủ chị Ly Ly vô đó ngủ một giấc rồi về. Bà Ly Ly thấy tôi có vẻ say nên cũng chịu, vả lại bà cũng chẳng có gì phải gấp.
 
Cái motel này thuộc loại bình dân, đèn tối mờ mờ. Tôi lên giường nằm, chị Ly Ly leo lên nằm kế bên nói ảnh uống say nói chuyện vui  vui, ông này say mà đằm chớ không có quậy.
- Ảnh chỉ quậy trên giường thôi.
Chị Ly Ly cười khúc khích. Vậy hả, mỗi lần nhậu là ảnh ... vậy hả.
- Vậy chớ hồi trước anh Tốt say rượu không có lên giường quậy bà sao?
- Mỗi lần ổng say nằm ngủ như chết.
 - Bà dở quá, ổng hỏng quậy thì mình quậy ổng.
Chị Ly Ly cười khúc khích. Ờ, hồi đó còn trẻ mà không biết hưởng. Giờ tao thích ông Hoà, mầy có ngón nghề gì chỉ chị mầy làm cho ổng mê tao.
- Bà có nhiều tiền đó, đem tiền ra mua.
- Tiền có mua được tình?
- Tình yêu thì không biết nhưng tình dục thì chắc được.
Bà Ly Ly cười khúc khích đưa tay nhéo nhẹ tôi, hỏi một câu có vẻ ... hơi thiếu kinh nghiệm đời.
- Lúc lên giường đàn ông thích gì ở người đàn bà?
- Thì bà turn ổng on đừng turn off.
 Bà Ly Ly nhìn lên trần nhà. Mày nói chuyện huề vốn.
- Tui hỏi thiệt, trong chuyện chăn gối với anh Tốt trước đây bà có thỏa mãn.
- Thì cũng bình thường như vợ chồng người ta thôi.
- Có khi nào ảnh kiểu cọ như trên phim ảnh không?
- Phim gì? Phim sex hả? Không, thấy ghê!
- Bà với ổng gặp nhau cứ bổn cũ soạn lại, có nhiêu đó làm hoài xong việc buông nhau  lăn ra ngủ.
- Ừa.
- Không có màn dạo đầu ôm ấp hôn hít gì hết?
- Ừa
- Hèn gì... như vậy mau chán lắm... tui có thằng bạn, mỗi khi nằm cạnh nhau, nó có ngón nghề này hay lắm, nó nhẹ đưa đầu lưỡi liếm lổ tai, rồi nó vừa thở ra hít vào nhè nhẹ lổ tai mình thấy phê lắm.
- Vậy hả? Đâu mầy làm thử cho chị đi.
- Nhưng tui không biết cách, chỉ bắt chước nó làm đại nhe.
- Ừa, làm đi.
- Bà thấy sao?
- thấy đã quá!
- Có khi nào bà với ổng 69 không?
- 69 là sao?
- Má ơi má! Bà đi chết cho rồi, thiệt tình bà không biết 69 là gì? Đừng nói với tui là bà chưa từng hôn môi nhe.
Bà Ly Ly chu chu cái miệng, tôi không chắc là bà có hôn môi hay không, tôi hỏi vậy chớ chị hôn ảnh như thế nào. Bà kéo tôi lại hôn lên má như kiểu người ta hôn con nít. Tôi bật cười khùng khục, bả thì cười mĩm gật gật đầu ra chiều khoái chí, không lẽ bà đang đóng vai khờ? Hay là bà muốn biết bản lãnh của tôi?
 - Hôn môi cảm giác như thế nào? Hỏng ấy mày dạy chị hôn môi đi.
- Chị có nghe người ta nói "nút lưỡi"  không? nói sao thì làm y chang vậy.
- Nói nghe thì biết vậy, nhưng phải làm mới có cảm giác, mầy hôn chị đi.
Tự nhiên bà nội này muốn hôn mình.
- Bà cũng biết tui mà, tui thích đàn ông đâu thích đàn bà.
- Thì mày dạy chị cho chị biết cách hôn, chị trả công năm trăm đó chịu hông.  
Tôi lưỡng lự chưa kịp trả lời chị tăng giá lên gấp đôi: một ngàn đó chịu chưa cưng. Bà này tánh nóng hơn đàn ông, bà muốn là trời muốn. Tôi nhắm mắt nín thở ôm chị hôn (cảm tưởng như mình đang đóng phim).
- Vậy đó, hễ người tình làm cho mình sao, thì mình làm lại y như vậy. Bà cảm thấy hôn môi có thích không?
- Thích. Hôn thêm một lần nữa đi em cưng.
- Thôi, nhiêu đó đủ rồi. Để tui chỉ bà chiêu khác. Hồi lúc trước có khi nào hai vợ chồng bà ôm nhau ngủ không?
- Lúc còn thức thì ôm, lúc ngủ đâu có ôm.
Thiệt tình vợ chậm mà ông chồng còn chậm hơn. Bà không nghe người ta nói "gối đầu" đó sao. Người chồng dang cánh tay ra, người vợ tựa đầu lên đó mà ngủ. Hoặc là lúc ngủ một người ôm một người, khi chồng ôm vợ thì bàn tay nhẹ để lên vú.
- Bóp vú  hả? Anh Tốt mỗi lần nhậu xỉn, ổng về nhà bóp vú  chị, ổng bóp mạnh tay, bóp bóp bóp đau muốn chết.
Tôi bật cười ha hả, nhịn không được.
- Không phải bóp, người đàn ông chỉ đặt bàn tay lên đó thôi, nhưng cũng tạo cảm giác cho người đàn bà. Ngược lại, khi nào người đàn ông nằm xoay lưng  ra ngoài, người đàn bà từ phía sau ôm người đàn ông, thỉnh thoảng nhẹ đưa bàn tay xoa vùng bụng rồi từ từ đặt bàn tay lên chỗ đó.
Bà Ly  Ly cười khúc khích, sao mày rành quá vậy.
- Mười lăm tuổi con mất trinh rồi má.
- Thiệt hả? Bà vừa cười vừa nói vừa ngắt vừa nhéo thằng em trai đang làm tài khôn chỉ bà nghệ thuật giường chiếu.
Thật ra tôi xạo. Tôi có thằng bạn nói nó mất trinh từ  lúc mười lăm. Tôi phục nó quá! Dưới mắt tôi một đứa con trai như vậy thật đáng ngưỡng mộ. Tôi bèn tưởng tượng là mình cũng đã mất nết từ dạo mười lăm.
Bà Ly Ly bỗng cởi áo khoe tôi bộ ngực. "Mày thấy vú chị có đẹp không ? Hàng thật không phải hàng giả đâu nhe".
- Đẹp! Công nhận bà có bộ ngực hết xẩy.
- Rờ thử coi!
Tôi còn đang lưỡng lự thì chị nắm bàn tay tôi đặt lên vú chị. Rồi chị bảo tôi nằm nghiêng để chị học cách ôm. Tôi nói lúc ôm nhau bà sờ vô mông người tình xoa nhè nhẹ, cứ động tác đó lập đi lập lại sẽ tạo cảm giác đê mê cho người tình, mà chính mình cũng thấy phê. Chị Ly Ly ôm tôi siết mạnh, chị nói người em hấp dẫn quá, hồi nào tới giờ chị ngủ với chồng mà chưa từng có cảm giác như lúc này. Chị hôn lên sau gáy của tôi, rồi chị nhẹ đặt bàn tay  xoa xoa vùng bụng của tôi, chừng  một hồi rồi như không nhịn được, chị đút bàn tay xuống vùng phía dưới. Nhưng cái quần hơi bó lại thêm sợi dây nịch, chị kề tai tôi nói nho nhỏ.
- Em cởi quần ra đi!
Người chị nóng ran hơi thở dồn dập.
- Chị cũng biết là em chỉ thích đàn ông thôi mà. Để bửa nào anh Hoà dạy chị.
- Chị đang hứng, tại mầy làm chị hứng, mầy vui hết mình với chị đêm nay đi, chị thưởng. Mầy thiếu chị năm ngàn chị cho luôn đó, nếu mà ngoan mai mốt chị cho thêm.
Tôi thấy năm ngàn cũng hơi nhiều, nhưng khó làm cái vụ này quá! Không phải tôi sợ bị mang tiếng "trai bao", nhưng tôi chỉ thích đàn ông. Bà Ly Ly đang hứng tình, ở đây một hồi không yên với bả, tôi tìm cách rút lui.
- Để em ra tiệm mua chút rượu uống lấy hứng, (tôi kề tai bả nói nho nhỏ) với lại kiếm đồ nghề.
Chị đi tắm cho mát chờ em chút trở lại.
Bà cười khoái chí, đâu có bầu đâu mà lo  kiếm  condom. Tôi nhẹ mở cửa bước ra vọt lẹ. Tuổi của má thì cần dầu bôi trơn chớ khỏi mặc áo mưa.

Tôi chạy ngang tiệm 7-eleven định ghé vô nhưng thấy ớn quá! Thật tình tôi không muốn làm tình với người đàn bà một chút xíu nào, chẳng có cảm giác gì cả. Tôi gọi điện thoại cho anh Hoà, thôi để cho ảnh làm diễn viên đóng "thế vai". Cha này ngủ mê gọi mấy lần chẳng bắt phone. Bà Ly Ly chờ lâu nóng ruột lại gọi phone cho tôi, tôi ngó lơ không trả lời chạy miết tới nhà anh Hoà lôi ổng dậy. Anh Hoà ở một mình đi share phòng nhà người ta có lối đi riêng rất tiện. Tôi bấm chuông mấy lần ổng cũng chưa thức.
Bà Ly Ly gọi tôi hoài không được bèn gởi message.

"Mầy chưa chết thì gọi phone cho tao biết để tao liệu đường mà đi taxi về. Mày lo trả tao năm ngàn, từ nay ân đoạn nghĩa tuyệt, đừng nhìn mặt nhau nữa".

 Người đàn bà lên cơn giận thấy cũng dễ sợ. Bà này tung vũ khí chết người: đòi nợ. Tôi quýnh quáng dộng cửa ầm ầm. Cha Hoà hé cửa nhìn ra.
- Làm gì sáng sớm mày tới đây dộng cửa như giặc tới.
Tôi mở cửa bước vô.
- Ông đi rửa mặt rồi đi tắm cho tỉnh người tới chở bà Ly Ly về dùm tui.
- Bả ở đâu?
- Hồi tối tui với bả xỉn vô motel ngủ chờ tỉnh rượu rồi về. Bả biểu tui chỉ cách bả làm cho đàn ông mê. Tui chỉ bả một hồi bả nổi hứng đè tui... đòi lột quần áo tui ra.
Anh Hoà cười ngất.
- Ông biết tui mà, chỉ thích trai thôi.
- Rồi bây giờ mày bắt tao thế mạng.
- Ông làm ơn tới chở bả về để không thôi bả giận tui. Nhớ cho bả hưởng chút rồi về. Chiều tui dẫn ông đi nhậu.
-Okay, chuyện nhỏ, tưởng chuyện gì khó chớ chuyện giường chiếu thì tao sẵn lòng.

Trong khi chờ anh Hoà đi tắm, tổi lấy cái phone text cho chị Ly Ly.

"Chị Ly Ly ơi! Xui quá em chạy cho mau sợ chị trông bị cảnh sát chận nói em vượt đèn đỏ...

Tự nhiên đặt điều nói xạo, (hết cách).

"Em nghĩ bụng thôi chết mẹ rồi, ticket cũng cở  năm trăm là ít. Em bèn đóng vai hiền, giả bộ nói thằng nhỏ ở nhà khát sửa khóc sáng đêm lại nóng sốt, tui phải chạy ra tiệm 7-eleven mua thuốc cho nó, buổi sáng đường vắng tui chạy có hơi lẹ... mong ông thông cảm bỏ qua. Ông cảnh sát này dễ thương chưa từng thấy, tha cho em đi còn nói lần sau mày chạy thì nhớ nhìn kính chiếu hậu.
Em còn run nên gọi anh Hoà đến đón chị về. Chị có gì cần tìm hiểu cứ nói với ảnh, đừng ngại gì hết, ba cái vụ này anh Hoà có rất nhiều kinh nghiệm..."

  Gởi text cho chị Ly Ly xong tôi thấy nhẹ người, và để cho chắc tôi chạy theo anh Hoà đến tận motel. Anh mở cửa bước vô, tôi chờ hơn mười phút không thấy hai người bước ra mới lái xe ra về. Chắc là anh Hoà đang dạy chị một bài học về nghệ thuật yêu đương trên giường.