Sunday, June 16, 2019
NGÀY GIỖ CHA
Ý Ngôn
Cậu Tình mở cửa rào bước vào trong, con vàng chạy ra mừng, nó biết người nhà không sủa, cô Năm khen nó khôn. Cô từ nhà sau bước ra điệu bộ lăng xăng mừng thằng em:
"Cậu mợ nó mới về tới hả? Sao không điện cho chị biết, ủa có thằng Hai đi nữa nè! Chà bữa nay cao nhồng, nghe nói mầy sắp lấy vợ phải không?".
Thằng cháu cười hề hề vỗ vai cô nó:
"Dạ, ba má con tính tháng Chạp này, cô Tư cô Năm nhớ đi họ nghe! Cô diện cho đẹp đẹp có quay phim chụp hình nữa đó".
Cô Tư từ nhà sau chạy ra mừng vợ chồng thằng em và thằng cháu.
"Chị Tư đang làm gì ở dưới nhà bếp vậy?" Cậu em út hỏi bà chị thay lời chào.
"Nãy giờ chị với dì Năm nó lui cui sửa soạn lá chuối, đậu xanh để lát chiều gói bánh ít mai đám giỗ ba, chị hầm xương lấy nước ngọt mai nấu súp măng cua".
Cậu Tình nói với bà chị:
"Kỳ này làm cho xôm tụ nhe, chị đãi khách mấy bàn, em tính đặt thêm một con heo quay".
"Vậy đi đặt liền đi, chị mời bà con với lại lối xóm người lớn con nít cũng phải năm bàn, mà cậu với mợ nó ăn uống gì chưa".
"Ăn dọc đường rồi, để em đi một vòng lát về". Cậu em trả lời bà chị, rồi anh quay sang nói với vợ:
"Má nó xuống bếp coi có gì phụ mấy cô nó một tay, tui đi chút về"
Cô Tư nói với đứa em dâu:
"Thôi khỏi, mợ nó có mệt lên giường nằm nghỉ".
Cậu Tình là con trai út thầy ký Thiệt. Năm 1975 thầy Thiệt làm thơ ký trong toà hành chánh tỉnh, "giải phóng" về thầy đành chịu trận ở nhà nhìn xóm làng thay đổi từng ngày. Hai thằng con trai lớn của thầy đi lính địa phương quân ở Đồng Tháp giờ cũng về nhà nằm chèo queo. Hai đứa con gái của thầy là Cô Tư và cô Năm, là giáo viên trường tiểu học nên được "lưu dụng" cho đi dạy tiếp tục, nhờ vậy gia đình mới có gạo mà ăn trong thời buổi khó khăn. Cô Năm không có chồng, từ lâu sống với gia đình chị mình là cô Tư, trong căn nhà của cha mẹ để lại ở vùng ngoại ô xã Vĩnh Phước này. Hai chị em cô nay cũng đã nghỉ hưu.
Cậu Tình đến quán chuyên bán gà vịt quay của chú Ba Hỏn đặt quay một con heo sửa, xong cậu ghé qua thăm một người bạn học hồi nhỏ. Hai người dẫn nhau ra quán cà phê ngồi nhắc chuyện xưa, lúc về cậu không quên ghé mua một ít trái cây để lên bàn thờ cúng ông bà.
Về đến nhà thì gặp hai người anh của cậu từ nhà của họ ở gần đó ghé qua, mấy anh em kéo ghế bày tiệc nhậu trước sân nhà. Cô Năm từ nhà sau bước ra tay bưng dĩa thịt gà xé phai đặt xuống bàn, cô kéo ghế ngồi xuống tự động lấy ly rót bia cho mình không đợi mời, hôm nay cô vui quá muốn lai rai ba sợi với anh em nói chuyện đời. Cậu em nói với bà chị:
"Nghe chị Tư nói mấy chị tính sửa nhà, ngon nghe, lên lầu luôn đi. Em thấy xóm mình giờ toàn nhà lầu, mỗi lần về là mỗi lần thấy lạ"
"Chị Tư muốn sửa cái bếp cho rộng, chỉ giờ thích nấu nướng ngày tối ở dưới bếp, còn chị thì muốn sửa lại cái nhà tắm, giờ nhà nào cũng xây nhà tắm kiểu mới, bước vô thấy mê".
"Hồi nãy em đi ngang nhà bác Tám Trọng, thấy giờ là nhà lầu mới cất mà hình như người nào lạ ở chớ không phải chị em Ngọc Nga"
Ngọc và Nga là hai chị em con bác Trọng, nổi tiếng xinh đẹp nhất xóm vậy mà thời đó khổ quá đi theo người ta bán bia ôm.
"Sau khi chị Nga đi Mỹ thì chị Ngọc bán nhà theo mấy đứa con dọn về Sài Gòn ở lâu rồi"
"Chị Nga đi Mỹ?"
"Hồi xưa lúc chị Nga đi bán bia ôm có quen một ông khách Việt kiều, nhè đâu mang bầu đẻ được thằng con trai. Vậy mà ông đó nhìn con, lâu lâu gởi tiền cấp dưỡng, chừng nó được mười tuổi thì ổng về làm giấy tờ dẫn nó qua Mỹ. Vậy mà nó không quên mẹ, nó thương má nó lắm, giờ nó lớn làm giấy tờ lãnh má nó qua".
"Đúng là người ta có số"
"Hôm trước chị Nga có về chơi, đi mới có mấy năm vậy mà về thấy khác hẳn, ai cũng khen chỉ đẹp. Hỏi chị qua bển làm gì, chị nói buổi sáng thì rửa đít con nít buổi tối rửa đít ông già".
"Rửa đít ông già?"
Cô Năm cười xoà. "Đi săn sóc người già". "Chị Nga thì lúc nào cũng nói vui tếu tếu. Chị ở với vợ chồng thằng con trai, chị không dám lái xe nên ở nhà giữ trẻ. Buổi sáng chị giữ ba đứa con nít, coi chừng tụi nó cho tới chiều cha mẹ tụi nó tới đón về. Buổi tối chị làm thêm tới nhà một ông già, cho ông ăn rồi đi tắm cho ổng. Chị nói ông già này nhõng nhẻo lắm, ai ổng cũng không chịu, nhất định chờ chị tới tắm cho ổng. Chị nói hồi trẻ mình chuyên tắm cho trai, giờ lớn tuổi chuyên tắm ông già".
Thằng Hai con cậu Tình đi dạo xóm về tới, gặp hai bác nó xáp lại bàn ngồi nhậu.
"Sẵn dịp có hai bác ở đây con mời hai bác đi đám cưới của con, tháng Chạp này"
"Nhà bên vợ mày ở đâu? Nó có đi làm không?"
"Cha mẹ vợ con ở Thủ Đức, vợ con thì đi làm kế toán cho một công ty sản xuất bao bì thực phẩm"
Cậu Tình nói với hai anh:
"Đám cưới tụi nó lo hết, mình chỉ mặc đồ đẹp cho tụi nó quay phim chụp hình.
Mấy anh em thắp nhang đứng trước bàn thờ khấn vái. Cậu Tình nói nho nhỏ: "Hôm nay là ngày đám giỗ ba, mấy anh em con có làm mâm cơm, mời ba má về ăn với tụi con, con có mua thịt heo quay cho ba, nhớ hồi xưa ba thích ăn thịt heo quay lắm".
Cô Năm chợt ứa nước mắt khi nghe thằng em mình nói. Cô không ngờ nó cũng biết chuyện ba lúc còn sống thích ăn thịt heo quay. Lúc đó nó còn nhỏ xíu vậy mà cũng biết chuyện.
Mấy năm sau cuộc "đổi đời", ba cô vì lo buồn mà sanh bệnh đau bao tử. Thời đó đâu có thuốc men, uống ba cái thuốc Nam cầm chừng. Tối tối ba đau quá, ngủ không được ông cứ đi tới đi lui trước hàng ba sáng đêm. Cô Năm không bao giờ quên vẻ mặt của ba mình lúc đó, nhăn nhó đau đớn vì bịnh mà còn mang thêm một nỗi buồn vì thời cuộc. Nhưng ông cắn răng mà chịu, không khi nào than thở trước mặt con cái.
Cô Năm nhìn thằng em trai út, ngày lớn nó giống hệt ông già. Cô muốn nói "em cũng biết là ba mình hồi đó thèm một miếng thịt heo quay lắm mà nhà mình không có tiền mua", nhưng cô xúc động quá nói không được, nước mắt tuôn ào ào.
Sunday, June 2, 2019
LỘNG GIẢ THÀNH CHƠN
Nguyễn Thạch Giang
Sau hơn ba mươi năm bôn ba nơi xứ người, tôi trở về quê thăm lại cái xóm cũ nơi mình đã một thời khôn lớn. Gặp lại người quen ai cũng hỏi sao tôi đi lâu quá không thấy về. Có người thì nói tôi bây giờ thấy lạ quá nhìn không ra, nhớ hồi xưa đẹp trai lắm mà... sao giờ già quá vậy. Có người thì nói tôi ở Mỹ lâu quá mà vẫn còn ốm nhách đen thui. Tôi cười trừ. Nghĩ trong bụng đã đành dân Mỹ có vấn nạn ngày một béo phì, nhưng đâu phải ai ở Mỹ lâu ngày rồi cũng mập. Đã đành người ở xứ nhiệt đới sang Mỹ lâu ngày thì da trắng ra, nhưng đâu phải ai cũng vậy, có nhiều người ở Mỹ hàng trăm năm mà da vẫn còn... đen thui.
Tôi đến thăm Nhung, người bạn gái thân mến của tôi ngày nào mà có lúc bạn bè đồn đoán là tôi sắp cưới nàng. Nhung nhỏ hơn tôi mấy tuổi, ngày ấy nàng là gái mới lớn xinh đẹp con nhà giàu. Ba nàng làm trưởng ty Tài chánh trong toà hành chánh tỉnh. Nhà có xe riêng và tài xế, mỗi khi chị em nàng đi ra đường ai nhìn cũng trầm trồ, con trai thì bảnh bao mà con gái thì xinh đẹp.
Đến thăm Nhung, nàng vui lộ ra mặt.
-Tưởng anh chê em nghèo không thèm đến.
Nhung vẫn vậy, vẫn như ngày nào ăn nói xởi lởi, miệng bằng tay tay bằng miệng. "Ông xã em chết hai năm rồi, đụng xe chết không kịp trối. Thằng con trai có vợ, đứa con gái thôi chồng, hiện tụi nó ở chung với em, chưa có tiền ra riêng. Cha con vợ chồng tối giăng mùng nằm sắp lớp dưới gạch. Ở chung chật chội nhưng tiết kiệm được tiền, em sẵn dịp coi chừng cháu ngoại cháu nội cũng tiện".
Nhìn căn nhà nhỏ tí đồ đạc chất lung tung thấy cũng tội cho cô nàng một thời con nhà giàu. Ngày trước má nàng có lần than với tôi. "Tiền bạc có bao nhiêu bác trai đều mua công khố phiếu, lúc lộn xộn chưa kịp lấy ra thì mấy ổng tới. Mất trắng. Vàng có bao nhiêu lo cho mấy đứa đi vượt biên, đi năm lần bảy lượt không đứa nào đi thoát, giờ trắng tay đành cam chịu chết".
Rất nhiều năm đã qua, tôi vẫn không quên được vẻ mặt buồn bả của bác gái mẹ Nhung lúc đó. "Thôi đành chịu chết!". Không còn lời than van nào thê thảm hơn.
- Nghe đồn anh vẫn chưa vợ?
Nhung vừa nói vừa cười hóm hỉnh. Không hiểu nụ cười của cô nàng có ngụ ý gì.
- Hồi trước ai cũng đồn anh với em. Nếu mà "giải phóng" chưa vô thì mình đã thành vợ chồng rồi phải không anh. Trong nhà em ai cũng mến anh. Lúc "đổi đời" anh thân sơ thất sở cù bơ cù bất nhưng ba má em đâu có chê, anh mà tới ngõ lời thì ba má em cũng chịu. Vậy mà anh không tới, rồi anh đi vượt biên qua tới Mỹ mấy năm trời không một lời hỏi thăm.
Lời cô nàng như có vẻ hờn trách. Tôi hỏi thăm tình cảnh mấy anh em của nàng.
- Lúc tài sản tiêu tan mà trong nhà không đứa nào đi được ba em buồn lắm, ổng sanh bịnh rồi qua đời. Má em bươn chải kiếm tiền nuôi gia đình, phần buồn phần cực khổ nên cũng chết sớm. Căn nhà ba má em để lại bán chia mỗi đứa một ít làm vốn. Anh Đông lên Sài Gòn sống lâu rồi, nhà ở miệt Quang Trung Gò Vấp, ở trên đó coi vậy cũng dễ sống, chớ còn ở đây không biết làm gì ăn. Con Thi ở bên chồng trong Rạch Giá, nhà có ghe đánh cá. Thằng Phú mở quán cơm bình dân bên phường hai sống đắp đỗi qua ngày.
Nghe nàng nói tôi cũng động lòng, muốn giúp đỡ nhưng tôi nghèo quá. Tôi là một người không nên thân.
- Anh về đây chơi rồi có định tìm vợ không?
Tôi bật cười. "Còn trẻ không lấy, tuổi này lấy vợ làm gì? Mà cũng ngộ, đi đâu ai cũng đòi làm mai, có người giới thiệu cho mấy cô trẻ măng chưa tới bốn chục".
- Anh chọn được cô nào chưa?
- Thôi! Ở vậy cho nó lành.
Mấy ngày sau Nhung gọi điện thoại cho tôi, nàng có một chuyện rất quan trọng muốn nói với tôi trước khi tôi về Mỹ. Nhung có đứa con gái thôi chồng có hai con, thằng con trai mười bốn, đứa con gái mười hai tuổi. Nhung nói thẳng không cần vòng vo. "Hay là anh cưới con gái em đi, nó nết na thuỳ mỵ, lanh lợi giỏi giang lo cho chồng cho con, nó cũng đẹp gái. Anh lấy nó để có người chăm sóc cho anh lúc tuổi già".
Tôi thật bất ngờ với lời đề nghị của Nhung. Tôi cũng hiểu không phải nàng lợi dụng. Tôi không nghĩ nàng mượn đường. Hôm trước nghe nàng kể làm tôi xúc động mấy ngày. "Lúc nghe hàng xóm nay người này đi mai người kia đi được, ba em nôn nóng lắm mà không biết làm sao. Má em tối nào cũng đọc kinh cầu nguyện hàng giờ, má cầu xin ơn trên cho có đứa nào đi được. Ngày qua ngày mình thì chẳng thấy một cơ hội nào, mà người ta thì đi rần rần... người này đi theo diện con lai, người kia đi diện H.O. Người nọ đi diện bảo lãnh. Người ta đi rần rần mà mình thì đành cam chịu chết ôm nỗi buồn xin nhận nơi này làm quê hương".
Tôi thật bối rối không biết tính sao. Thôi thì, người ta thật lòng với mình thì mình cũng hãy thật lòng với người ta.
- Em à, nếu anh lấy vợ được anh đã lấy từ lâu rồi.
Tiếng Nhung cười khúc khích bên kia đầu giây. "Em nói cái này anh đừng giận nhe!".
Tôi thường "kỵ" mấy người ăn nói rào trước đón sau. Nếu sợ người ta giận thì đừng nói.
- Mấy đứa bạn tụi nó đồn anh pê đê.
- Trời đất! Biểu đừng nói mà cũng nói. Em biết anh như vậy mà cũng nói thương anh, muốn gã cho anh.
- Em thấy mấy "người gay" cũng lấy vợ đẻ con được vậy anh. Em thương anh thiệt tình chớ! Người anh toát ra một vẻ gì rất thu hút!
- Thiệt hả? Thu hút ở cái vẻ "dẹo dẹo" phải không?
Cô nàng cười ngất. "Em thích cái lối nói chuyện tưng tửng của anh. Nghe tin anh vẫn còn độc thân, em cứ ngày tưởng đêm mơ một ngày nào đó anh sẽ về đây..."
- Em ơi em! Em làm ơn cho anh xin hai chữ bình an.
***
Tôi có người bà con trong Rạch Giá, nghe tôi về nhắn tôi vô đó chơi sẵn dịp anh ta dẫn tôi đi Hà Tiên Phú Quốc. Tôi tình cờ gặp lại thằng Tứ hôm đi ăn "bún Kiên Giang" trong nhà lồng chợ Rạch Giá. Nó cũng ở San Jose, tôi quen nó hơn hai mươi năm về trước khi hai đứa đi làm trong hãng điện tử. Nó giống tôi ở chỗ ưa cờ bạc với lại cá độ football. Nó đi ăn với một người đàn bà trẻ, tôi hỏi nó "vợ mày hả". Nó kề tai tôi nói nhỏ "không phải, bồ". Thằng này vui, lấc xấc như con nít. "Mày không sợ vợ mày ghen à?". "Tui đâu có vợ đâu cha!".
Vậy mà tôi tưởng nó có vợ con đùm đề.
- Mày mấy tuổi?
- Tui sanh năm 68 Mậu Thân. Ông biết mà.
- Sao mày không lấy vợ? Đi chơi tòn teng như vầy hoài sao?
Nó bước tới kề tai tôi nói nhỏ. "Tui gặp gì đâu không! Người mình thích thì nó không chịu, người thích mình thì mình không muốn. Tui mới quen con nhỏ này, cặp bồ đi chơi thôi chớ không tính chuyện tiến tới. Nó cũng ham vui, không muốn ràng buộc".
Ngày hôm sau thằng Tứ điện thoại rủ tôi đi qua Campuchia chơi casino.
- Mày ở Mỹ chơi casino không đã sao về đây còn đi? Mà chơi ở Campuchia có an ninh không? Tao không dám đâu.
- Con nhỏ bồ của tui nó thích đi, tui dẫn nó đi chơi chừng vài ba tiếng rồi về.
- Mày đi qua đó bằng cách nào?
- Tui mướn xe lái đi.
- Mày dám lái xe?
- Lúc đầu không dám, sau lái đại, mà đường ở đây vắng vẻ dễ đi lắm.
- Từ đây qua đó đi bao lâu?
- Hơn hai tiếng, qua khỏi Hà Tiên đậu xe nơi biên giới có người dẫn mình qua.
- Thôi! Tao không dám đâu!
- Vậy ra quán cà phê ngồi chơi.
- Okay.
Tôi ra quán cà phê gặp thằng Tứ. Nó nói nhà ba má nó trước kia ở đây (Rạch Giá), căn nhà vẫn còn giờ để trống không ai ở. "Bà chị lớn tui còn ở đây, nhưng bả có nhà riêng, mỗi lần tui về đây chơi ở nhà của bả, chỗ đó khu thị tứ, gần chợ đi ăn uống gì cũng tiện".
- Mày về đây chơi thường lắm hả?
- Từ lúc má tui bịnh tui nghỉ làm ở nhà săn sóc bả. Má tui chết hai năm rồi, lúc gần chết bả chỉ chỗ bả dấu tiền cho tui biết. Má tui để dành tiền hay lắm, trong nhà đâu ai biết bả có mấy chục ngàn tiền mặt. Mấy bửa đám ma lu bu không ai để ý, tui nín luôn. Mà tui nghĩ tiền đó má tui cho tui, mà anh chị tui người nào cũng khá đâu ai cần.
- Rồi mày lấy tiền đó về đây chơi cho đã.
- Ừa, chừng nào hết về bển đi cày tiếp. Thầy bói nói số tui tuy không giàu nhưng có tiền xài hoài, hết này có khác.
- Thầy bói nào ở đâu mày chỉ tao tới đó xin một quẻ.
- Căn nhà của ba má tui để lại giao chị tui đứng tên, má tui trăn trối phải chia phần cho tui. Má tui thương tui nhứt nhà, bả nói tui khờ sợ tui khổ. Chị tui chồng tiền cho tui 500 triệu, dứt khoát tui không được tranh chấp về căn nhà đó nữa.
- Bởi vậy mày đâu cần đi làm.
- Căn nhà ông anh tui đang ở, má tui có phần hùn "tiền down", bả nói với anh tui khi nào bả chết tiền đó cho tui. Anh tui dứt khoát đưa tui 30 ngàn, tui không có quyền gì trong căn nhà đó nữa. Nhưng ổng nói tui hơi khờ lại mê cờ bạc, mày về Việt Nam gái nó dụ ăn hết. Ổng giao bà chị bên Việt Nam cất dùm, bỏ nhà băng một tỷ, tui chỉ được lấy tiền lời không được lấy tiền vốn.
- Công nhận số mày sướng, cả nhà xúm lại lo cho mầy.
Bỗng tôi chợt có ý nghĩ... chắc là do trời xui đất khiến, tôi nói với nó:
- Người bạn gái hồi xưa của tao có đứa con gái chừng 36 tuổi, thôi chồng có hai đứa con. Về sắc đẹp thì khỏi nói, trên trung bình xa một khúc, tánh tình hiền hậu một lòng lo cho chồng cho con. Nấu ăn ngon hơn đầu bếp nhà hàng. Tao thấy chỗ này cũng được, bữa nào mày ra nhà tao chơi, tao dẫn mày tới coi mắt, nếu thấy được tiến tới luôn.
Thằng này bỗng chu chu cái mỏ thấy ghét.
- Ba mươi sáu có hai con! Biểu con nhỏ đó kiếm người già cở như ông thì họa may. Ở đây người ta giới thiệu cho tui thiếu gì, gái hai mươi còn nguyên xi chưa bóc tem.
- Mày 50 bộ còn trẻ hả? Lấy gái hai mươi cho nó bỏ mày cho lẹ, nếu không thì cũng đi ra ngoài ăn vụng. Cưới vợ thì người ta kiếm chỗ đàng hoàng tính chuyện ăn đời ở kiếp.
- Mà con nhỏ đó làm gì? Có tài sản tiền bạc gì không? Tui không thích lấy vợ nghèo, tui đã dở kiếm tiền, lấy con vợ nghèo về nhà hai đứa cạp đất ăn.
Thằng này về Việt Nam chơi hoài hèn gì nó cũng biết câu nói để đời của nữ hoàng đồ lót.
- Mày đâu có nghèo mà kiếm vợ giàu, gặp mặt người ta rồi tính sau. Okay?
Tôi cắt ngắn buổi đi chơi Phú Quốc, lẹ lẹ về thu xếp cho một cuộc hôn nhân mà trước đây mình chưa bao giờ nghĩ tới. Thằng Tứ đúng hẹn thuê xe ra nhà tôi chơi sẵn dịp coi mắt vợ. Tôi dẫn mọi ngựời ra nhà hàng ăn cho tiện. Về nhà tôi hỏi nó:
- Mày thấy sao? Ngày xưa người ta là con nhà quan đó nhe.
- Thấy cũng được, ăn nói vui vẻ, tướng ngon.
Khi nào tôi nhìn đàn bà, tôi chú ý gương mặt trước nhất. Mà cái sóng mũi hàng đầu, đàn bà mà có cái mũi xẹp, nhan sắc giảm một nửa. Thứ nhì hàm răng, không hiểu sao tôi có cảm tình với đứa con gái có hàm răng trắng đều như hạt bắp. Còn cái thằng này nhìn gái, "tướng ngon".
- Nhưng tui chưa tính lấy vợ, đi chơi cho đã khi nào hết đường rồi mới tính. Có mấy mối biểu tui làm giấy tờ họ trả tui 50 ngàn mà tui chưa chịu, có thể tui sẽ làm khi nào tui hết tiền.
Vậy mà anh chị nó nói nó khờ! Được rồi, được rồi, mày khôn thì tao cũng có cách.
Tôi suy nghĩ mấy hôm liền. Mình thuộc loại nhà nghèo ở Mỹ. Tiền để dành dưỡng già trong 401k có chút xíu, giờ lấy ra chung cho nó 50 ngàn, mai mốt về già mình có nước cạp đất ăn. Nhưng quan trọng hơn hết, tôi không dám làm giả, làm cái gì gian dối tôi hơi bị run. Tôi gọi điện thoại cho thằng Tứ, uốn lưỡi năm bảy lần, dùng đủ mọi cách dụ dỗ nó cho nó chịu cưới con nhỏ đó. Nhưng chắc tại tôi không có tài "làm thuyết khách", nó vẫn khăng khăng nhất quyết 50 ngàn. Vậy mà anh chị nó nói nó khờ. "Người ta đi có một mình, đằng này con nhỏ đó đi với hai đứa con. Lời thấy mẹ. Tui hy sinh đời trai có 50 ngàn đâu có nhiều". Thằng này mê tiền hơn mê gái. Nghe nó nói hy sinh đời trai... nghe mắc ói.
Mấy ngày sau tôi gọi điện thoại cho nó "mặc cả" cho cuộc hôn nhân... theo hợp đồng này. Tôi nói thiếu điều gảy lưỡi nó mới chịu điều khoản lấy trước hai chục ngàn, ba chục ngàn khi nào mọi việc xong xuôi trả góp. Điều thứ nhì, rất quan trọng, cái hợp đồng này chỉ có tôi và nó biết. Tuyệt đối không nói cho ai nghe chuyện tiền bạc. Nó đồng ý nói okay vậy đi.
Tôi lật đật đến nhà Nhung báo tin mừng, người ta đồng ý... cưới. Nhung không có nhà chỉ có Ngọc, là người sắp sửa làm cô dâu.
- Chào cậu Ba, cậu Ba Phải có khỏe không?
Tôi tên Phải thứ ba. Suốt mấy năm đi học tôi chưa từng thấy đứa bạn nào tên Phải, còn người tên Phải thứ ba, chắc chỉ mình tôi. Cậu Ba Phải.
- Má con không có nhà hả? Thôi cậu nói chuyện với con cũng được.
Đây là một cuộc hôn nhân theo hợp đồng, nhưng ác một chỗ là cô dâu và nhà gái không biết. Mai mốt chàng rễ mà có lòng nào thì đừng buồn. Tôi lựa lời nói vòng vo.
- Lúc con thôi chồng con có buồn không?
- Dạ không, hai đứa con chia tay trong êm đẹp, giờ coi như bạn, ảnh thỉnh thoảng đến thăm mấy đứa nhỏ, tháng nào cũng phụ tiền cho con nuôi tụi nó.
- Cậu thấy anh Tứ này cũng được, tuy ham vui nhưng cũng là người đàng hoàng, nhưng cuộc đời mình đâu biết trước, có nhiều điều không ngờ được. Cậu hỏi vậy để sau này mà rủi có ly dị thì con đừng bị sốc.
- Ảnh bỏ con? Ông này tự tin dữ! Không chừng con là người bỏ ảnh trước.
Con nhỏ này ngon, có chí khí! Đâu phải nghèo rồi mình không có quyền ăn nói sang chảnh.
***
Mọi việc diễn tiến thuận lợi êm xui hơn tôi tưởng. Đám cưới chừng một năm thì cô dâu có hẹn phỏng vấn. Thằng Tứ bay về Việt Nam sẵn dịp đi chơi, vợ đậu phỏng vấn thì dẫn vợ con qua Mỹ luôn một lượt.
Tới ngày hẹn tôi hồi hộp còn hơn người được đi phỏng vấn. Vái trời cho đừng có gì trục trặc. Chờ lâu quá không thấy tụi nó gọi phone, tôi nghĩ chắc không xong. Sáng sớm còn nằm trên giường có tiếng điện thoại reo vang "Con báo tin cậu mừng, đậu phỏng vấn rồi cậu ơi!".
Tin vui khiến tôi mất ngủ, hết ngủ luôn! Không cách gì ngủ lại cho được. Rồi đây tôi sẽ còn mất ngủ dài dài, biết bao nhiêu chuyện phải lo. Nhung nhắn gởi, nó như con anh, mọi sự mong anh giúp đỡ buổi đầu cháu bơ vơ nơi quê người.
Thiệt đúng y chang, thằng Tứ vịn cớ bận đi làm, mọi việc giấy tờ nhờ cậu Ba Phải giúp. Bởi vì tôi đã nghỉ hưu có nhiều thì giờ rỗi rãnh.
Tôi vẽ cho tụi nó đến nhà ông Ngọc mướn phòng, ông có xây thêm hai phòng phía sau nhà có lối đi riêng rất tiện. Chồng ở một phòng, vợ và hai con thì ở phòng kế bên. Hơi bị lạ nhưng không ai thắc mắc chuyện người ta. Chỉ có tôi và thằng chồng biết.
Một hôm giữa khuya có tiếng điện thoại reo vang, Nhung bên Việt Nam gọi. (Mấy người này vô tư không biết giờ này ... khuya).
- Có gì không em mà sao gọi giờ này?
- Vậy hả? Xin lỗi, em tưởng ở bển sáng rồi. Con Ngọc có bầu, nó hỏi em tính sao?
Trời đất! Thật là rắc rối cái sự đời, vợ chồng trên giấy tờ, vợ chồng ngủ riêng phòng ai nấy ngủ, nay vợ mang bầu. Thiệt là tình! Con nhỏ này là con tôi chắc tôi tức chết được. Sao mày không đợi ly dị rồi hãy có bầu. Trên danh nghĩa thằng Tứ là chồng, đẻ con người ta bắt nó cấp dưỡng nó đâu có chịu.
Tôi tức mình ngủ không được, thức luôn tới sáng chờ con Ngọc thức dậy chửi nó một trận.
Tôi gọi phone lúc con Ngọc đang sửa soạn đi làm. Nó lật đật vừa lái xe vừa nói chuyện hối tôi nói ngắn gọn. Tôi vô đề thẳng (giọng giả bộ có hơi giận)
- Con có bầu.
- Vậy mà cậu làm như chuyện gì quan trọng lắm. Con có bầu chồng con chưa biết cậu biết.
- Hai đứa ngủ riêng sao có bầu? Con thằng Tứ hay con ai?
- Cậu ơi là cậu! cậu có câu hỏi nào lịch sự hơn chút xíu được không.
Tôi có hơi nóng, nói chuyện có hơi không được bình tĩnh, tật lâu đời khó chữa.
- Má con nửa khuya gọi điện thoại cho cậu, nói con có bầu giờ tính sao, giữ hay bỏ, nghe vậy cậu tưởng con có bầu với người nào khác.
- Bà già thiệt là mau mồm mau miệng, mới đó gọi cho cậu biết. Bởi vì anh Tứ nói với con cậu với ảnh dàn xếp cho cuộc hôn nhân này, giả chớ không phải thiệt, ảnh đâu có tính ăn đời ở kiếp với con, con đâu phải là vợ ảnh, giờ lỡ mang bầu con chưa cho ảnh biết, định hỏi má con cho ý kiến.
- Thằng mắc dịch, nó hứa với cậu là giữ kín chuyện này vậy mà cũng đi nói cho con biết.
- Để con nói hết cho cậu nghe. Anh Tứ có cái tật, tối nào có chút bia rượu là ảnh mò vô phòng con bốc hốt. Mấy đứa nhỏ còn thức nó dòm. Con đi qua phòng ảnh cho ảnh trả bài, mà cậu ơi! Cái ông này 50 tuổi chớ trai 20 sợ còn thua ổng.
- Được được rồi con, cậu hiểu, không cần phải nói chi tiết.
- Ảnh đòi hoài con không cho, ảnh khai thiệt, nói cậu còn thiếu 30 ngàn, nếu không cho ảnh... vậy phải trả tiền cho ảnh. Con bật ngữa. Thì ra là vậy. Nếu ảnh lấy tiền của cậu, con phải tìm cách lấy lại, với lại cũng là để giảm bớt cái tần suất "bốc hốt" của ảnh, con nói mỗi lần em qua phòng anh tính năm trăm. Ảnh nói đi chơi gái trên San Fran, gái Tàu, gái Phi, gái Đại Hàn đẹp không có chỗ chê, mỗi lần tốn có hai trăm. Em gái hai con đòi năm trăm. Kỳ kèo bớt một thêm hai, cuối cùng con chốt giá ba trăm, mỗi lần qua phòng ảnh cho ảnh làm phận sự một người chồng, ba trăm.
Tôi tính nhẩm, thiếu nó ba chục ngàn, mỗi lần trừ ba trăm. Trả xong món nợ chắc con nhỏ này đẻ được ba đứa.
- Con ơi! Như vậy là ý trời. Con cho chồng con biết, nhứt định là phải giữ nhe không. Cậu có lời chúc phúc cho con đó.
Tháng sau thằng Tứ gọi phone cho tôi, mời cậu đi ăn buffet với tụi con, mừng con vừa được lên chức. Chà thằng này bữa nay gọi tôi bằng cậu. Tưởng nó lên chức "làm cha" nhè đâu nó được lên chức làm leader trong hãng.
- Trong hãng mày làm khâu nào, mày làm xếp được mấy người.
- Tui làm khâu shipping, gói hàng đóng gói gởi đi cho khách hàng. Vừa mới đổi qua ca chiều, làm từ hai giờ chiều tới mười giờ rưởi đêm. Bận rộn buổi trưa làm cho kịp hàng đi gởi, từ sáu giờ chiều thì khỏe, xếp lớn xếp nhỏ đi về, mình làm tà tà.
- Mày làm xếp mấy người, lên chức có lên lương không?
- Chỗ tui có ba người, tui với hai bà già người Phi. Khi nào hãng có đợt review mới lên lương, giờ chưa.
- Tao tưởng mày hôm nay ăn mừng sắp lên chức "làm cha", thôi ráng đi ông con, mai mốt cho mày xếp quần xếp áo mệt nghỉ.
Cái mặt thằng này bữa nay kênh kênh thấy ghét, tôi khều nó lại hỏi nhỏ.
- Mày làm hợp đồng với tao, vợ chồng giả, sao bây giờ mang bầu.
- Thì... lộng giả thành chơn.
Nó cười hê hê bỏ đi lấy đồ ăn. Bữa nay bày đặt xổ nhỏ. Vậy mà anh chị nó nói nó khờ.
Tuesday, May 21, 2019
CẢM XÚC TRONG THƠ
Nguyễn Hưng Quốc
Một hiện tượng rất phổ biến trong thơ: hoa giả. Có hằng hà những bài thơ cứ ngồn ngộn chữ, cứ lấp lánh màu sắc và trầm trầm bổng bổng hơi nhạc nhưng lại rỗng tuếch, không nói lên được điều gì cả. Nó ném xuống ào ạt lá vàng nhưng không làm cho người ta thấy được mùa thu. Nó khua động ầm ĩ nhưng không làm thành âm vang của tiếng hát. Nó dựng lên ùn ùn những khói nhưng không tượng hình nổi một làn mây. Nó có dáng dấp của hoa nhưng lại thiếu hẳn một làn hương. Nó có tất cả, chỉ trừ một điều: cảm xúc.
Nhiều người cứ ngạc nhiên và băn khoăn không hiểu tại sao người khác cứ dửng dưng lúc đọc thơ mình. Có gì đâu! Chỉ lay động được trái tim những gì xuất phát từ chính trái tim. Chỉ có máu mới truyền được máu. Ngòi bút của anh chỉ chấm toàn nước lã mà anh đòi thiên hạ đọc xong phải rưng rưng nước mắt ư? Giỡn. Trong lãnh vực chính trị, loài người cứ vấp phải hết cái ngu này đến cái ngu khác, nhưng trong văn chương, họ tinh lắm anh à. Trong xã hội có ê hề những thiên tài... bịp, nhưng trong văn chương, chỉ còn lại những kẻ thực sự thành tâm với đời, với người.
Cái nền của thơ là cảm xúc. Luôn luôn là cảm xúc. Hình tượng, ngôn ngữ, tư tưởng sẽ không có nghĩa gì cả nếu chúng không tan hoà trong cảm xúc.
Hiệu quả của một bài thơ được đo lường ở khả năng truyền gợi cảm xúc. Làm thơ là một cách tỏ tình. Nói lớn hay nhỏ, dài hay ngắn, bỗng hay trầm nào có quan trọng gì. Quan trọng là ở chỗ người mình yêu có chớp mắt xúc động hay không. Làm thơ là thổi một luồng gió. Gió đo mình ở ngoài gió: ở mức độ lá reo.
Yếu tố quyết định giá trị một bài thơ cũng là cảm xúc. Bài thơ hay nào cũng đi đến chỗ tận cùng của một nỗi buồn một niềm vui một trạng thái bâng khuâng mơ hồ. Bài thơ hay nào cũng xoá nhoà hình ảnh nhà thơ, để trở thành một rung cảm của mọi người. Một buổi chiều nào, nhớ người yêu, bạn hãy đọc lại một bài thơ tình, bất kể của ai, miễn là hay, bạn sẽ thấy ngay đó là tâm sự của mình chứ không phải của bất cứ ai khác.
Tầm vóc của một nhà thơ, trước hết, chủ yếu tuỳ thuộc vào kích thước tâm hồn họ. Từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Phan Bội Châu, Tản Đà... tất cả đều là những tâm hồn lớn có khả năng thu nhận và rung cảm trước những làn sóng vỗ từ xa, từ xa, ngoài bản thân họ. Họ là những mặt hồ nước biếc, ở đó, long lanh soi chiếu cả bầu trời bao la với núi non và mây khói bềnh bồng trên cao: "Long lanh đáy nước in trời. Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng" (Nguyễn Du). Họ vui niềm vui của mọi người, đau nỗi đau của mọi người. Họ là thế hệ của họ, thời đại của họ. Họ là những "cái đĩa âm thanh" ghi nhận tất cả mọi nhịp thở xôn xao âm thầm của trời đất (Cung Trầm Tưởng).
Nhà thơ lớn là những hạt muối. Hạt muối nhỏ nhưng chất chứa dồn nén trong mình tất cả những vị mặn chát của đại dương.
Nhà thơ lớn là những chiếc lá ngô đồng. Chiếc lá nhỏ hanh hao, bay bay trong gió thoi thóp biết mấy nhưng lại mang trong mình tất cả tín hiệu của một mùa trời đất đang đi.
Không phải tôi không biết có những nhà thơ đòi khai tử cảm xúc và nguyền rủa tình yêu. Thanh Tâm Tuyền chẳng hạn, ông tuyên bố: "Trong thơ tôi không có tình yêu nữa..." "... Mỗi tiếng mỗi lời viết ra tôi đều thấy nó chứa đựng những hằn thù, khinh bỉ, dày vò, đau đớn, tuyệt vọng... nghĩa là tất cả những thứ mà tình yêu loại trừ". Nghe mà ghê. Nhưng đừng tin nhà thơ ấy nói. Là nhà thơ, ông ta chỉ sử dụng một biện pháp thông thường trong thơ: ngoa ngữ. Nói quá đi một chút. Hơi hơi cực đoan một chút. Để làm bật nổi cái ý của mình là phân biệt hai mùa lá già và lá non trong tình yêu, lả phân biệt những tiếng đàn quen và những tiếng đàn lạ trong cảm xúc. Vả lại, liệu những "hằn thù, khinh bỉ, dày vò... " có phải là "những thứ mà tình yêu loại trừ" chăng? Không. Đó chỉ là mặt trái của tình yêu. Nguyễn Đình Chiểu từng viết "bởi chưng hay ghét cũng là hay yêu" đó mà. Đọc lại thơ Thanh Tâm Tuyền mà xem. Cảm xúc, tình yêu vẫn dạt dào lắm chứ. Này đây là nỗi xúc động trước "hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu". Này đây là sự xót xa trước "những người khóc lẻ loi không nguôi một phút". Này đây là sự đau đớn trước cảnh "tổ quốc ngàn đời nín thở vì trời thì xanh mà khổ đau nói sao cho hết". Còn, còn nữa. Ngay cả những sự thương tâm xảy ra ở Hung Gia Lợi, xa xôi biết ngần nào, vẫn dội vào lòng nhà thơ những cơn nhói buốt "Hãy cho anh khóc bằng mắt em". Thế đó.
"Thơ ngụ tình", ngày xưa người ta đã biết thế.
Có điều, không phải cảm xúc nào cũng được ngân lên thành thơ. Trước hết, cảm xúc phải thành thật. Thơ không kỵ gì cả. Có thể nói năng nhỏ nhẹ ngọt ngào trong thơ. Có thể chửi bới chát chúa phẩn nộ trong thơ. Miễn là thành thật. Có thể reo vui hân hoan như tiếng hát của trẻ thơ. Cũng có thể ngậm ngùi than thở quằn quại như tiếng khóc nghẹn vào trong của một người đã lớn. Có thể. Nhưng phải thành thật. Có thể sử dụng tất cả các phương thức biểu hiện ngôn ngữ, từ ẩn dụ đến hoán dụ, từ tả thực chân phương đến cường điệu bốc lên. Không sao cả. Miễn là thành thật.
Thời 30-45, có lắm người giẫy giụa gào thét trong thơ nhưng chỉ có một tiếng gào thét còn lại dư âm: Hàn Mặc Tử. Những người khác, còn chăng, chỉ là những tiếng thở dài. Hàn Mặc Tử tài hoa hơn? Chưa chắc. Chỉ tại ông đau đớn thật.
Thưa, tôi không dám say mê
Một mai tôi chết bên khe ngọc tuyền
Bây giờ tôi dại tôi điên
Chắp tay tôi lạy cả miền không gian.
Đó không phải là những câu thơ hay. Hơi sáo, trong hình tượng. Hơi cường điệu, trong ý. Nhưng chúng vẫn khiến người đọc từ mấy chục năm nay xao xuyến mãi. Chủ yếu vì cảm xúc ấy là cảm xúc thật. "Mỗi lời thơ đều dính não cân ta" (Hàn Mặc Tử).
Câu thơ thường được truyền tụng của Nguyễn Khuyến:
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua.
đúng như Hoài Thanh có lần nhận xét trong Thi nhân Việt Nam cũng không phải là câu thơ hay. Nguyễn Khuyến bịa. Nhưng tình lại là tình thực, nhất là khi nó được dẫn trong cả mạch thơ rất mực chân thành:
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác
Tôi bị đau trước bác mấy ngày
Làm sao bác vội về ngay
Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải
Vội vàng chi đã mãi lên tiên
Rượu ngon không có bạn hiền
Không mua không phải không tiền không mua.
Cảm xúc không những cần thành thật mà còn cần tinh tế. Tinh tế để khám phá ra những nét riêng, khác, mới trong bộn bề những cảm xúc thoạt nhìn có hình dạng cứ hao hao giống nhau: hỉ nộ ái ố... Nhà thơ khóc nỗi đau của mình và qua đó, khóc dùm luôn nỗi đau của nhân loại, nhưng tiếng khóc của hắn phải có cái gì riêng để có thể dội mãi vào lòng người và không bị khỏa lấp trong muôn ngàn những tiếng khóc ông ống lồng lộng khác. Nhà thơ phải thấy được những gì người khác không thấy, nghe được những gì người khác không nghe. Mắt nhìn hờ hững chỉ thấy hoa. Hoa gì thì cũng là hoa. Nhà thơ là kẻ nhận biết "một hoa là một sắc hương" (Nguyễn Công Trứ). Tai nghe lơ đễnh chỉ dừng lại ở những tiếng động chói, gắt. Chỉ có nhà thơ là nghe được tiếng lá rơi: "Lá rơi thềm đá lạnh. Ngân nhẹ tiếng vàng khô" (Quách Tấn). Nghe ra tiếng ngân vàng khô ấy đã giỏi. Song có người còn tinh hơn: "Ngoài thềm rơi chiếc lá đa. Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng". Lại có người nghe được tiếng hoa "hát": "Vừa thoáng nghe em hát. Lời ca em thiên thâu" (Quách Thoại). Rồi lại có người nghe cả những tiếng nói thầm của vũ trụ:
Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới nước đáy hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để nghe trời giảng nghĩa yêu.
(Hàn Mặc Tử)
Không những nghe, thấy, nhà thơ còn gửi gấm lòng mình vào với mọi cảnh vật của thiên nhiên, nội-tâm-hoá ngoại cảnh khiến ánh nắng chiều vàng vọt kia thành ra tâm sự nhớ nhung của mình "Ôi nắng vàng sao mà nhớ những" (Huy Cận); thành ra tâm sự bâng khuâng của mình: "Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì" (Xuân Diệu); thành ra niềm vui của mình: "Nắng đọng lời chim ca" (Quách Tấn); thành ra rưng rưng nỗi cô đơn quạnh quẻ của mình: "Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô" (Nguyễn Đức Sơn). Rồi còn mưa nữa. Mưa cũng cưu mang biết mấy tâm sự của người. Có thứ mưa đau đớn buông xuống trần gian như những chấm dấu than (!) thảng thốt: "Trời da thi thể mưa ngùi chấm than. Hiên ga nhỏ giọt cường toan. Xuống tim quằn quại hàng hàng ưu tư" (Tô Thuỳ Yên). Có thứ mưa tê buốt một nỗi chán chường: "Gió mưa ẩm đục xô đầy trong tim" (Cung Trầm Tưởng). Có thứ mưa bồi hồi: "Giọt mưa thu, dạ khách đầy vơi" (Tản Đà). Có thứ mưa mang mang gợi nhớ quãng đời cô đơn buồn tênh của mình: "Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn. Nghe đi rời rạc trong hồn. Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi" (Huy Cận).
Không có mưa, không có nắng? Thì nhà thơ sẽ tạo ra một thứ thời tiết riêng:
Trời không nắng cũng không mưa
Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung.
(Hồ Dzếnh)
Có ai, trong đời, lại không một lần nhớ nhung? Nhưng chỉ dưới ngòi bút những nhà thơ tài hoa, người ta mới thấy nỗi nhớ nhung hiện ra với biết bao sắc thái, cung bậc và âm điệu khác nhau góp phần làm cho tâm hồn nhân loại giàu có thêm lên gấp bội.
Ở Nguyễn Công Trứ, nỗi nhớ thấp thoáng một chút tinh nghịch:
Trăng soi trước mặt ngờ chân bước
Gió thoảng bên tai ngỡ miệng chào.
Ở Tú Xương thì có sự khắc khoải:
Nước biếc non xanh coi vắng vẻ
Kẻ đi người lại dáng bơ vơ.
Ở Tản Đà thì có sự bực dọc, tự mình hời mình:
Quái lạ! Làm sao cứ nhớ nhau.
Ở Xuân Diệu thì có sự quay quắt xốn xang:
Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em. Anh nhớ lắm, em ơi.
Ở Quang Dũng thì bâng khuâng một cách nhẹ nhàng:
Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai.
Nguyễn Bính đằm thắm hơn song nỗi nhớ cồn cào dai dẳng biết bao nhiêu:
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào không nhớ em.
Không có nỗi nhớ nào tê tái đến não nuột như nỗi nhớ của Phạm Thái lúc xa Quỳnh Như:
Buồn đốt lò vàng hương nhạt khói
Sầu nâng chén ngọc rượu không hơi.
Người ta hay nhắc đến nỗi nhớ đến ngẩn ngơ của Tự Đức (hay Nguyễn Gia Thiều?) lúc Thị Bằng chết:
Đập cổ kính ra tìm lấy bóng
Xếp tàn y lại để dành hơi.
Câu thơ hơi hơi có chút "khẩu khí" song vẫn đẹp và dễ làm xúc động lòng người. Thủ khoa Nghĩa có câu thơ khóc vợ tha thiết hơn và cũng chân thành hơn:
Có linh chín suối đừng xao lãng
Thỉnh thoảng về thăm lúc nửa đêm.
Nhà thơ là người, đi tìm trong những cảm xúc chung vốn có ở mọi người, một nét riêng của mình. Nguyễn Đức Sơn nói, làm thơ là tìm kiếm "những gì phức biệt có riêng tôi". Nhà thơ phải dựng lên, cùng với thơ, một cá tính. Ngoài đời có thể có những vườn hoa mênh mông chỉ một loài hoa. Trong thơ thì không. Ở đó, "một hoa" phải là "một sắc hương".
Tuy nhiên, trong thơ lại có một qui luật khác: Cảm xúc trong thơ vừa rất đặc thù giữa muôn vàn những bài thơ khác nhưng không được xa lạ với cảm xúc chung của nhân loại. Nhà thơ đi sâu hun hút tận cùng bản ngã của mình không phải chỉ để gặp chính mình mà còn để gặp cái chung nhất trong nỗi niềm của con người.
Hãy đọc lại những câu thơ viết về nỗi nhớ vừa trích ở trên. Chúng khác nhau biết là ngần nào. Như hoa hồng và hoa mai. Như hơi khói và làn mây. Nhưng chúng lại gần gủi với tâm trạng của chúng ta biết là ngần nào. Mỗi người, trong hoàn cảnh nào đó, với mức độ nhớ nhung nào đó, có thể tìm thấy trong đó một tiếng nói sâu lắng của chính mình.
Làm thơ là đi vào tận cùng cõi riêng. Nhưng đọc thơ là để tìm đến một niềm chung. Để được đồng cảm với nhau.
Quách Thoại quả có lý khi nói "Ôi con người thế kỷ ở trong tôi". Xuân Diệu, thời tiền chiến, cũng có một quan niệm không khác mấy: "Nghìn trái tim trong một trái tim". Và hình như, trước đó, Victor Hugo cũng từng nói: "Lầm lẫn thay, nếu anh tưởng tôi không phải là anh".
Cho nên, có khía cạnh thứ hai của sự tinh tế: nhà thơ phải phát hiện được tâm sự chung của thế hệ, của thời đại mình. Thơ của những nhà thơ lớn không chỉ phản ảnh một nỗi niềm riêng mà còn, qua đó, long lanh sáng chân-dung-cảm-xúc của cả một lớp người. Không phải sao? Chỉ một hai câu thơ của thiền sư Không Lộ ngày nào:
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
(Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời).
đủ nói lên cả hùng khí một thời đại vừa giành được độc lập, đang phơi phới niềm tin.
Ngược lại hai câu thơ của Đặng Dung lại nói lên tâm sự của cả một giai đoạn lịch sử tuy lửa vẫn rực đỏ giữa lòng người nhưng lịch sử chừng như chưa sáng tỏ một đường đi.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma
(Thù trả chưa xong đầu đã bạc
Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài).
Cái mới trong cảm xúc của chúng ta ở thế kỷ này là gì? Là sự bâng khuâng. Là cái sầu vô căn cứ. Người xưa có lẽ điềm đạm mực thước và duy lý lắm. Với họ, buồn là buồn; vui làm vui. Vui hay buồn đều có lý do cả. Không vì thế sự thì cũng vì sự long đong của bản thân. Tản Đà là người đầu tiên, trong thế kỷ này, sáng tác ra một "người tình nhân không quen biết", một nỗi nhớ không cụ thể một chỗ bám vào; một nỗi buồn không rõ ngọn ngành nơi khêu. Tản Đà là người đầu tiên cứ đứng ngẩn ngơ giữa đường mà nhớ bâng quơ, mà buồn bâng quơ:
Con đường vô hạn, khách đông tây
Ta nhớ ai mà mãi đứng đây.
Sau này, trong cùng chiều hướng Tản Đà vạch, Xuân Diệu còn đi xa hơn:
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.
Cái buồn "không hiểu vì sao tôi buồn" ấy là đặc trưng nổi bật nhất của dòng thơ tiền chiến thời 30-45. Cũng là đặc trưng cơ bản nhất trong tâm sự những người thời ấy. Lúc đầu nỗi buồn còn man mác nhẹ nhàng với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận. Về sau, càng ngày nỗi buồn càng sâu, càng đậm, trở thành chán chường với Vũ Hoàng Chương, cay đắng với Nguyễn Vỹ, khinh bạc với Thâm Tâm.
Có điều này khá lạ lùng ít ai để ý đến: chưa ai chối cãi Vũ Hoàng Chương nhiều tài hoa hơn Nguyễn Vỹ và Thâm Tâm. Tuy nhiên dòng cảm xúc buồn bã pha lẫn chán chường của Vũ Hoàng Chương rõ ràng là không có người thừa tự. Khiến ông sau này cũng trở thành lẻ loi. Trong khi đó, cái buồn tức tối chua chát quằn quại trong "Gửi Trương Tửu" của Nguyễn Vỹ và cái buồn được thăng hoa lên thành một sự khinh bạc, ngạo nghễ, bất cần trong "Tống Biệt Hành " của Thâm Tâm lại trở thành mạch cảm xúc chính của mấy thế hệ về sau: Thơ 54-75 ở miền Nam phần lớn chới với giữa hai dạng buồn, hoặc cùng quẫn khinh bạc. Điều oái ăm là cả Nguyễn Vỹ lẫn Thâm Tâm, mỗi người đều chỉ có một bài thơ hay.
Cảm xúc cần thành thật và tinh tế. Thêm một điều kiện thứ ba nữa: phải biết cách thể hiện cảm xúc ấy ra thơ. Có nhiều nguyên tắc. Ở đây, tôi chỉ dừng lại phân tích hai nguyên tắc tôi cho là quan trọng có nhiều ảnh hưởng đến giá trị của thơ nhất.
Một là, thơ là một sự giải bày chứ không phải là một sự tuyên bố. Không phải tự dưng gào lên "Tôi buồn. Tôi buồn" là có thể thành thơ. Mà phải mô tả nỗi buồn ấy, làm nỗi buồn ấy hiện hình mồn một trong thơ. Đừng nói tôi khóc. Hãy làm cho người đọc thấy những giọt nước mắt lăn dài, ướt đẫm trong từng câu thơ. Đừng nói hoa hồng đẹp. Hãy làm cho người đọc thấy đang nở ngát giữa những dòng thơ anh một đóa hồng khoe sắc và tỏa hương.
Bùi Giáng nức nở khen bài thơ này của Ngân Giang:
Đêm mưa
Gió mưa ướt áo đủ rồi
Sao còn ngấm lạnh lòng tôi thế này
Ốm đau đã mấy tuần nay
Nụ cười đã với tháng ngày trôi xa
Giờ không gạn chút vui thừa
Tựa sông, quạnh vắng nhìn mưa rơi buồn
Nhờ ai chấp hộ mảnh hồn
Đã vì đau giận rũ tan khắp trời
Mưa rơi từng giọt mưa rơi
Lòng ai có lạnh như tôi thế này.
Thật tình, tôi đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần bài thơ này. Vẫn không thấy có gì xuất sắc. Ngân Giang tự hỏi: "Lòng ai có lạnh như tôi thế này" song qua bài thơ, tôi không cảm được cái lạnh lẽo ấy. Ngân Giang cho mưa rơi đang "ngấm lạnh" vào lòng bà song tôi ngờ cái lạnh ấy chưa đủ ngấm vào trong thơ. Huy Cận thì khác. Cũng một tựa đề "Đêm mưa"; cũng một cảm giác: cái lạnh, nhưng Huy Cận lại làm cho người đọc thấy và cảm nhận được cái lạnh ấy:
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi
Rơi rơi... dìu dịu rơi rơi...
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ...
Rất ít thanh trắc. Rất nhiều thanh bằng. Hơi thơ thật nhẹ: mưa rơi âm thầm. Hơi thơ ngân dài thật dài: mưa rơi lê thê suốt đêm.
Người ta có thể gặp một ví dụ tương tự khi so sánh bài "Buổi sớm" của Trụ Vũ:
Buổi sớm dang tay ôm vũ trụ
Tức thời tôi hoá cánh hoa mai
Màn che cửa sổ không còn nữa
Tôi nhập hồn hoa ý mãn khai.
và bài "Thược Dược" của Quách Thoại:
Đứng im bên hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời em ca thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.
Trụ Vũ nói "Tôi nhập hồn hoa", "Tôi hoá cánh hoa mai" nhưng trong bài thơ, ông là ông và hoa vẫn cứ là hoa. Những câu nói ấy chỉ là những ý nghĩ chứ không được chứng hiện một cách cụ thể. Chúng trở thành khoa trương. Ở bài "Thược Dược" thì ngược lại. Có hai nhân vật: người và hoa, nhưng suốt 5 câu đầu, chủ từ chỉ người ("ta" hay "tôi") bị giấu đi. Ngỡ chỉ có hoa. Và hoa cũng không thuần tuý là hoa. Hoa là "em", nghĩa là một con người. Nhà thơ nhập hồn vào giữa lòng hoa để nghe hoa "hát": tiếng hát của thiên nhiên, của trời đất và của muôn đời.
Một bài thơ khác của Trụ Vũ cũng khá tiêu biểu cho một kiểu thất bại trong thơ: bài "Ý nghĩa cao xanh":
Nơi cõi cuối cùng của đời sống
dẫu là hư ảo - thế nhưng anh
vẫn yêu em với tình trường cửu
và đó là ý nghĩa cao xanh.
Có đủ hết các yếu tố bên ngoài của một bài thơ: âm, vần, niêm, nhịp... song đó vẫn chưa phải là một bài thơ. Nó là một thứ văn xuôi trá hình. Khuyết điểm này cũng dễ thấy ở vô số các nhà thơ khác. Họ làm thơ bằng một ý nghĩ chứ không bằng một cảm xúc. Họ dừng lại ở nửa vời trong quá trình làm thơ: không đợi ý nghĩ dâng trào lên thành những rung cảm xôn xao trong lòng mình. Có thể ví bài thơ như một thứ trái cây. Có hình dạng. Có "thịt". Có hương vị. Hình dạng trái cây là hình tượng trong bài thơ. "Thịt" trái cây là tư tưởng. Hương vị là cảm xúc. Có người vội vả chỉ hái trái còn xanh, chỉ có "thịt" - một ít tư tưởng sống chát - chứ chưa có hương vị ngọt ngào của cảm xúc. Buồn thay hiện tượng "quả xanh" ấy luôn luôn có quá nhiều trong thơ. Của ta. Của người. Ngày xưa. Bây giờ.
Nguyên tắc thứ hai trong vấn đề biểu hiện cảm xúc: phải nén cảm xúc lại, thật chặt trong thơ, để nổ bùng ra thành những dư âm day dứt không nguôi trong lòng người đọc. Cảm xúc không nên là một con nước tràn bờ, lấp lênh, tung toé mà nên là một thứ "chất nổ".
Người xưa có khá nhiều kinh nghiệm trong vấn đề này, chỉ nói đến một kinh nghiệm phổ biến mà ngày nay chúng ta hay quên nhất: cách kết thúc một bài thơ. Chính những câu kết quyết định bài thơ tắt ngay hay cứ ngân nga mãi. Có lẽ nên so sánh hai bài thơ cùng tựa "Qua đèo Ngang" của Lê Thánh Tông và của Bà huyện Thanh Quan để dễ thấy.
Lê Thánh Tông:
Bãi thẳm ngàn xa cảnh vắng teo
Đèo Ngang lợi bể nước trong veo
Thà là cúi xuống cây đòi sụt
Xô xát trông lên sóng muốn trèo
Lảnh chảnh đầu mầm chim vững tổ
Lanh chanh cuối vụng cá ngong triều
Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả
Nước non trông qua vẫn bấy nhiêu.
Bà huyện Thanh Quan:
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Lê Thánh Tông quan sát tài tình hơn Bà huyện Thanh Quan. Bốn câu giữa trong bài thơ của Lê Thánh Tông là những câu thơ hay, có hình tượng đẹp, dù ngôn ngữ khá cổ. Tuy nhiên hai câu kết lại quá tệ. "Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu" hoàn toàn không hợp với cái nhìn trìu mến trước thiên nhiên ở mấy câu trên. Nó như một cái thở ra chán nản. Nó làm hỏng cảm xúc được gợi lên trong cả bài. Bà huyện Thanh Quan thì ngược lại. Bốn câu đầu chỉ là cảnh. Lại là cảnh khá mờ nhạt. Câu 6-7 mới le lói lên một chút cảm xúc ngậm ngùi, nhưng còn rất chung và hơi sáo. Cảm xúc nén lại ở hai câu cuối:
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Tự dưng chúng ta thương cho cái cô đơn của nhà thơ: tất cả thiên nhiên đều gắn bó hoà hợp với nhau, "chen" vào nhau, tạo thành một khung cảnh ấm cúng để đẩy nhà thơ vào cực cùng của sự lẻ loi. "Tình riêng" của Bà huyện Thanh Quan là tình gì? Chúng ta không biết. Chỉ có hơi thơ nhè nhẹ như tiếng thở dài của câu cuối cứ âm vang mãi trong hồn ta thành một niềm bâng khuâng không dứt.
Nói chung thơ Bà huyện Thanh Quan thường hay ở câu cuối. Bà không phải là người có tài quan sát. Khung cảnh thiên nhiên trong thơ bà thường mờ nhạt. Nhưng bà biết cách gói cảm xúc mình lại, chỉ mở ra một lần, vào lúc kết và mở ra vừa phải, để người đọc cứ tiếp tục băn khoăn và bâng khuâng. Thời tiền chiến. Xuân Diệu rất ý thức trong việc sử dụng lại kinh nghiệm này. Nhiều bài thơ của ông lúc ấy kết thúc bằng những hình ảnh rất gợi âm vang:
... Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì.
(Đây mùa thu tới)
... Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...
(Chiều)
... Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ
Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya.
(Buồn trăng)
Huy Cận lúc ấy cũng vậy. Câu kết vừa hé ra một nỗi niềm liền bị chấm dứt ngay. Nhà thơ hơi hơi bất nhẫn, bắt người đọc cứ thao thức hoài với nỗi niềm lửng lơ kia.
... Gió về lồng lộng không che
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư...
(Buổi đêm mưa )
... Chân đang bước bỗng e dè, đứng lại
Ở giữa đường làng, mùi rơm, hoa dại...
(Đi giữa đường thơm)
... Lòng quê dờn đợi vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Trường Giang)
... Chiếu chăn không ấm người nằm một
Thương bạn chiều hôm sầu gối tay.
( Vạn Lý Tình)
Thơ cũng như tình yêu. Sự sống thực sự của nó được tính trên chiều dài thời gian đọng lại trong hồn người. Nhiều người cạn nghĩ cứ thích đo giá trị thơ ở số câu, ở tầm vóc của vấn đề. Đâu phải. Có khi chỉ là một cái móng tay cũng làm thành sự trường cửu:
Sao em móng phượng để dài
Khiến ta đi khuất còn sai mộng về.
(Thi Vũ)
Nguyễn Hưng Quốc
*******
TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM
Khảo luận của Nguyễn Hưng Quốc
Quê Mẹ ấn hành. Paris 1988
Tuesday, May 14, 2019
CẤU TRÚC CỦA MỘT BÀI THƠ
Nguyễn Hưng Quốc
Thơ, trước hết là ý, Lê Hữu Trác viết: "Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa, thơ mới hay". Ý dựng lên cột xương sống cho thơ, khiến bài thơ dù dài bao nhiêu vẫn là một chính thể nhất quán. Ý thể hiện cái nhìn độc đáo riêng tây của nhà thơ trước những hiện tượng, những vấn đề của cuộc đời.
Nhiều người có khuynh hướng chia thơ ra làm hai loại: thơ trí tuệ và thơ tình cảm. Thơ trí tuệ coi trọng ý, đã đành. Ngay cả thơ tình cảm cũng không thể bỏ rơi ý. Không có ý, tình cảm sẽ tản mạn, bay loang như khói, chưa tụ thành hình mây. Ý là yếu tố quyết định và tạo hình của bài thơ. Bố cục gồm 4 phần trong các thể Đường luật: đề, thực, luận, kết là dựa theo ý. Sau này, thơ có khuynh hướng tự do hơn nhưng không có nghĩa là tính chất quyết định của ý bị giảm nhẹ.
Có điều, trong thơ, ý không thể là trần trụi ý, là nguyên chất ý. Ý đứng một mình không thể tạo thành thơ. Nó là văn: văn nghị luận. Nghĩa là cái gì xa lắc với thơ, không những về thể tài mà còn về loại hình. Thơ đòi hỏi ý phải gắn liền với cảm xúc. Ý phải nhập thân vào cảm xúc. Nhà thơ có một ý tưởng. Chưa đủ. Hẳn phải đợi ý tưởng ấy bồng lên trong lòng những luồng sóng vỗ. Cái nếp nhăn trên trán phải trở thành nếp nhăn trong tâm hồn. Cảm xúc phải dào lên song song với ý. Vũ Đình Liên suy nghĩ về thời gian. Thấy trước mặt mình có cái gì của quá khứ đang ngày một tàn tạ, phôi pha đi. Ý tưởng ấy gợi lên cảm giác ngậm ngùi. Thấy nao nao thương một hình ảnh thân quen sắp tắt như Lý Thương Ẩn xa xưa thương cho cái nắng hoàng hôn vô hạn đẹp sắp tàn: bài thơ Ông Đồ ra đời không như một ý niệm trừu tượng về một sự mất đi mà còn là niềm lưu luyến đối với quá khứ, nỗi băn khoăn hiu hắt về "Những người muôn năm cũ".
Ý và cảm xúc. Vẫn chưa đủ. Ý và cảm xúc như là gió. Gió vốn vô thanh. Gió phải tìm đến lá cây để động tiếng rì rào. Ý và cảm xúc như là biển. Biển vốn vô ngôn. Biển phải tìm đến đá dựng để cất tiếng thì thầm. Để thành thơ, cần thêm một điều kiện nữa: hình tượng. Hình tượng là vóc dáng, là hình thù của ý và cảm xúc. Hình tượng cụ thể hoá, da thịt hoá ý và cảm xúc, biến ý và cảm xúc từ một hiện hữu trừu tượng, mơ hồ thành một hiện hữu sinh động, có màu sắc, có âm thanh. Ý niệm về thời gian, nỗi ngậm ngùi về quá khứ của Vũ Đình Liên chưa đủ để tạo ra thơ trước khi ông tìm ra được một hình tượng thật đắc: hình tượng ông đồ. Ông đồ cưu mang trọn vẹn trong thân thể hình ảnh quá khứ, từ cái thuở vàng son, ai ai cũng quí chuộng những câu đối Tết đến cái thời kỳ suy tàn, người người hết xôn xao trước một nét bút như "phượng múa rồng bay". Ngày xưa, chung quanh ông là những người ái mộ. Ngày nay, chung quanh ông chỉ là lá vàng và mưa bụi bay. Cái gì mất đi trước hết? Những người thưởng thức. Cái gì phôi pha đi trước hết? Một thói quen thẩm mỹ của con người. Bài thơ của Vũ Đình Liên như cất cánh bay lên chiếm một khoảng không gian mênh mông. Ông đồ chỉ là một điểm nhỏ. Nghề viết câu đối Tết chỉ là một điểm nhỏ. Rộng hơn và xa hơn, là một phần của nền văn hoá quá khứ đang bắt đầu chìm đi và mất hút trong "lớp sóng phế hưng".
Ý, qua hình tượng, trở thành rõ ràng hơn. Cảm xúc, qua hình tượng, trở thành sâu sắc hơn.
Ngược lại, nhờ ý và cảm xúc, hình tượng mới bay bỗng vào trong cõi thơ. Tạo nên khoảng cách xa lăng lắc giữa Thơ và Vè. Thử đọc mấy câu thơ sau đây của Tú Xương:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ giồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai...
Chỉ là ba câu tả cảnh không có gì đặc sắc. Ai làm cũng được. Không khác mấy với những câu thơ Đỗ Quý Toàn nêu ra đùa trên Văn Học số 2.86: "Vui chân đến quán Chiêu Hiền. Phở ngon lại có chuối chiên đậm đà... " Thế nhưng đến câu cuối:
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
thì mọi sự đổi khác hẳn. Cánh đồng dường như biến mất. Nhà cửa và ngô khoai cũng dường như biến mất. Còn lại buồn tênh những tiếng ếch kêu. Rồi ngay cả tiếng ếch kêu cũng biến mất. Còn lại, chỉ còn lại ngân nga man mác trong tâm hồn nhà thơ những tiếng gọi đò năm xưa. Không gian im của bức tranh tĩnh vật bỗng lồng lộng vang lên khắc khoải những tiếng gọi đò. Chao ôi, tiếng gọi đò. Tiếng gọi đò vang vang trong tâm tưởng. Tiếng gọi đò vang vang trong đêm khuya. Tiếng gọi đò vang vang lạnh buốt một vùng Nam Định đang trở mình thay đổi. Thời gian sững lại, xoá nhoà quá khứ, xoá nhoà hiện tại. Nhà thơ, với câu thơ cuối trong bài, vừa làm một phép mầu: con sông lấp kia lại trở thành một con sông lao xao nước chảy như trước. Cái ảo ảnh trở thành có thật. Có thật như nỗi nhớ không nguôi giữa lòng người.
Ý, cảm xúc và hình tượng, phải quyện chặt vào nhau, nhập thân vào nhau, cộng hưởng với nhau để tạo thành cái mả người xưa hay gọi: tứ thơ. Có thể định nghĩa tứ thơ là một ỷ tưởng gắn liền với cảm xúc hiện thân qua một hình tượng cụ thể.
Xuân Diệu cho việc làm thơ, trước hết là kiếm tứ. Và trong việc làm thơ, theo ông cái khó nhất là việc tìm cho ra một tứ thơ hay.
Có tứ, nhà thơ còn một nhiệm vụ nữa để làm: thể hiện tứ thơ ấy ra ngôn ngữ. Bởi văn học là nghệ thuật ngôn ngữ. Cần phải tìm ra những chữ phản ảnh trung thực và sâu sắc nhất cái ý mình muốn nói; đầy đủ và có khả năng truyền cảm nhất những cảm xúc mình muốn gửi gấm; độc đáo và gây ấn tượng nhất những hình ảnh mình muốn dựng. Rõ ràng ngôn ngữ thơ phải tuỳ thuộc vào tứ thơ. Một ngôn ngữ thơ thành công là một ngôn ngữ diễn đạt tứ thơ một cách trọn vẹn nhất, hoàn chỉnh nhất. Mọi nỗ lực trau chuốt ngôn ngữ ở ngoài mục đích thể hiện tứ thơ đều là những son phấn giả tạo.
Nếu việc đãi lọc ngôn ngữ luôn luôn là một dày vò đau đớn nhất đối với người cầm bút thì điều đó, càng đúng hơn nữa, đối với người làm thơ. Nhà thơ là kẻ trăn trở vật vã với từng con chữ một. Giả Đảo là một ví dụ cực đoan. "Thôi xao" như ông thì hơi quá. Nghiền ngẫm suốt ba năm ròng để làm được 2 câu thơ, đọc xong, tràn nước mắt như ông thì cũng hơi quá. Tuy nhiên không có nhà thơ lớn nào lại không quằn quại đau khi sinh đẻ chữ nghĩa. Trong ngôn ngữ thơ có hai nguyên tắc lớn ít được ai nói đến: một, trong thơ, mỗi chữ là một sinh mệnh riêng, có chỗ đứng riêng, không thể xoá bỏ hay thay đổi. Nó là một con cờ trong một ván bài, là một người lính đứng nghiêm trong đội ngũ, là một tay kiếm trong thế trận các truyện kiếm hiệp hay tả. Sự tồn tại và vị trí của mỗi chữ gắn bó máu thịt với bài thơ. Không có sự thay đổi nào không gây nên hụt hẫng. Không có ví dụ nào rõ hơn là chữ "vèo" trong câu thơ "vèo trông lá rụng đầy sân" của Tản Đà mà mọi người hay nhắc. Hai, trong thơ, tuyệt đối không có từ đồng nghĩa. Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa thơ và văn xuôi. Trong văn xuôi có thể dễ dàng thay đổi từ mà không hại mấy đến chất văn. Trong thơ thì khác. Trong thơ, mỗi từ ngữ, ngoài nghĩa, còn có sắc thái biểu cảm, còn có âm, vần, điệu ngân, điệu vang, còn cái khí quyển tâm lý bao bọc chung quanh nó. Nguyễn Bính có câu thơ:
Em nghe hàng xóm phong thanh
Hình như họ biết chúng mình... với nhau.
Đó chỉ là câu thơ bình thường, rất mực bình thường, nếu tác giả không dùng từ "... với nhau" thay cho một kiểu nói quen thuộc hơn "yêu nhau". Nguyễn Bính lột trần được cái tâm lý bẽn lẽn, e ấp, thẹn thùng của người con gái ở thôn quê ngày trước. Bởi bẽn lẽn, e ấp, thẹn thùng nên người con gái ấy mới băn khoăn về việc "hàng xóm phong thanh", về việc "hình như họ biết". Chỉ bằng việc dùng chữ "với nhau" Nguyễn Bính làm cho 12 chữ còn lại của cặp lục bát trên có lý do tồn tại, làm cho 2 từ "phong thanh" và "hình như" trở thành đắc thế.
Trong ngôn ngữ, ngoài ngữ nghĩa, ngữ sắc, còn có ngữ điệu bao gồm trước hết âm và vần (gồm cả thanh điệu - bằng trắc) là hai yếu tố đầu tạo nên nhạc tính trong thơ. Xuân Diệu nhờ sử dụng âm "r" một phụ âm rung để tả cái lay động của lá trong gió: "Những luồng run rẩy rung rinh lá". Nguyễn Du "tả" tiếng khua lóc cóc khó nhọc của vó ngựa trên con đường dốc đá qua âm điệu của những tính từ gợi hình "Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh". Tản Đà "tả" sự sắp tàn của một năm bằng cái âm thanh yếu ớt, nhẹ nhàng như lời thều thào của một người hấp hối qua từ "hồ". "Hồng bay mấy lá năm hồ hết". Thử thay từ "hồ" ấy bằng một từ khác có nghĩa tương đương, chẳng hạn, "năm gần hết", người ta sẽ thấy ngay vai trò của ngữ âm trong thơ.
Có khi âm và vần bộc lộ nhiều hơn chính cái ngữ nghĩa của nó, chẳng hạn:
Những lúc say sưa cũng muốn chừa
Muốn chừa nhưng tỉnh lại hay ưa
Hay ưa nên nỗi không chừa được
Chừa được thì ta cũng chẳng chừa.
(Nguyễn Khuyến)
Muốn chừa rượu nhưng không chừa được bởi lúc này mình cũng đang say. Những vần "ưa" lập đi lập lại gợi lên cái cảm giác nhừa nhựa của một kẻ đang chếnh choáng hơi men.
Trong bài "Đêm mùa hạ", Nguyễn Khuyến chọn gieo vần trắc ở cuối câu:
Tháng tư đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha
Đàn muỗi bay lả tả.
Nỗi ấy biết cùng ai
Cảnh này buồn cả dạ
Biếng nhấp năm canh chầy
Gà đã sớm giục giã.
Để làm gì? Để cực tả cái oi ả của đêm hè và nhất là, để nói lên cái tâm trạng bức bối ngột ngạt khó chịu của mình trước thời cuộc, điều ông không hề bộc lộ thẳng ra ở bất cứ một chữ, một câu nào trong suốt bài thơ.
Bên cạnh "âm" và "vần", nhịp ngắt là yếu tố quan trọng trong việc tổ chức ngôn ngữ thơ. Nhiều người đã chứng minh tính chất độc đáo của nhịp điệu trong thơ Việt Nam khi so sánh với thơ Trung Quốc. Dẫu sao, trên thực tế, nhịp điệu không ngừng biến hoá, tuỳ thuộc tài hoa mỗi người. Cũng là lục bát nhưng trong Truyện Kiều có biết bao là cách ngắt nhịp khác nhau. Sử dụng linh hoạt và sáng tạo cách ngắt nhịp khiến câu thơ tránh được sự đơn điệu, đồng thời giúp nhà thơ mô tả được cái lặng lẽ cần có trong thơ, cái lặng lẽ mà đôi khi, nghĩa của chữ khó lột trần:
Cuối đường gai gốc mọc đầy
Đi về này những lối này năm xưa.
Ở câu 8, nhịp ngắt 3/3/2 cộng với sự lập lại hai lần từ "này" có phải giúp chúng ta hình dung ra trọn vẹn dáng vẻ trầm ngâm đau đớn của Kim Trọng khi trở về Vườn Thuý đã mù biệt, vô tăm bóng dáng của Kiều?
Sự kết hợp giữa âm, vần, nhịp ngắt và hình ảnh sẽ tạo ra cái mà chúng ta gọi là hơi thơ. Có hơi thơ chậm. Có hơi thơ nhanh. Thế Lữ tả tiếng sáo bằng hơi thơ thật chậm:
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi! Xa vắng mênh mông là buồn.
Ngược lại hơi thơ lại chuyển sang nhanh khi tả cánh hạc bay vút lên trời cao:
Trời cao xanh ngắt. Ô kìa...
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai.
Vũ Hoàng Chương tả hai điệu vũ khác nhau:
Một:
Ánh đèn tha thướt
Lưng mềm, não nuột dáng tơ
Hàng chân lả lướt
Đê mê hồn gửi cánh tay hờ
Âm ba gờn gợn nhỏ
Ánh sáng phai phai dần...
Hai:
Lui đôi vai, tiến đôi chân
Riết đôi tay, ngả đôi thân
Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa trời xanh hay sắc đỏ.
Trong khi đó, sự kết hợp giữa âm, vần, nhịp ngắt và cảm xúc lại tạo ra cái mà chúng ta gọi là giọng thơ. Giọng thơ trực tiếp thể hiện tâm trạng của nhà thơ. Có giọng thơ hùng tráng dữ dội trong "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi. Có giọng thơ đau đớn nghẹn ngào trong "Hải ngoại huyết thư" của Phan Bội Châu. Có giọng thơ đè nén chua cay trong "Nhất định thắng" của Phùng Quán. Có giọng thơ khinh bạc trong "Gửi Trương Tửu" của Nguyễn Vỹ... Có giọng thơ ngất ngưỡng của Nguyễn Bắc Sơn, ngang tàng của Cao Tần, ngông nghênh của Ngu Yên...
Trong bài "Nhớ rừng", Thế Lữ dùng 2 giọng thơ khác nhau để tả hai tâm trạng khác nhau.
Khi con hổ nhớ quá khứ oanh liệt của mình, giọng thơ mạnh và hùng:
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên dõng dạc, đường hoàng...
Khi con hổ nhớ những cảnh thơ mộng của núi rừng, giọng thơ nhẹ và thoáng chút bâng khuâng:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan...
Tất cả những yếu tố trên: âm, vần, nhịp, hơi thơ, giọng thơ tạo thành nhạc điệu của thơ. Có thể khẳng định nhạc điệu là yếu tính của thơ, là ranh giới quan trọng nhất phân biệt thơ và văn xuôi. Người ta có thể phá đổ tất cả mọi lề lối khuôn phép cũ, từ số chữ đến số câu, từ niêm, vần đến luật bằng bằng trắc trắc. Nhưng phải giữ lại nhạc điệu. Người ta có thể xáo tung hết mọi tổ chức từ lâu ngỡ là cố định của thơ, chặt câu thơ ra từng khúc, từng khúc:
Mặt trời mọc
Mặt trời mọc
hay kéo dài câu thơ ra miên man:
Lỡ một mai tôi chết trần truồng không cơm áo
hay nối các câu thơ lại với nhau theo kiểu bắt cầu:
Chỉ một ngày thôi. Em sẽ
trở về. Nắng cũng mong. Cây
cũng nhớ. Ngõ cũng chờ. Và bướm
cũng thêm màu trên cánh đang bay.
nhưng phải giữ lại nhạc điệu.
Trong một chương sau, tôi sẽ phân tích riêng về vấn đề nhạc điệu, ở đây chỉ xin nêu một số đặc trưng nổi bật nhất: thơ cổ điển và thơ mới chủ yếu sử dụng nhạc điệu bên ngoài hình thành từ độ ngân vang của âm, sự luyến láy của vần, sự ngắt hơi của nhịp, ngược lại thơ tự do chủ yếu sử dụng nhạc điệu bên trong, hình thành từ sự gắn bó của ý, sự trùng điệp của hình tượng và nhất là sự dạt dào trong cảm xúc. Thơ cổ điển và thơ mới thuộc dòng thơ chủ yếu để ngâm. Thơ tự do chủ yếu thuộc dòng thơ để đọc. Thơ để ngâm gần gủi với ca nhạc. Thời Đường bên Trung Quốc, các kỹ nữ thường hay "hát" thơ. Thơ để đọc gần với văn xuôi. Trừ trường hợp được phổ nhạc, thơ tự do không thể "hát" mà cũng khó ngâm. Thơ để ngâm là loại thơ để thưởng thức bằng tai, chinh phục người đọc trước hết bằng cảm giác về âm thanh. Thơ để đọc là loại thơ để thưởng thức bằng mắt, chinh phục người đọc trước hết bằng sự độc đáo trong cấu tứ, trong tư tưởng. Chưa biết thơ tự do có giá trị thẩm mỹ hơn thơ cổ điển và thơ mới hay không nhưng đứng về phương diện tâm lý xã hội, thơ tự do, ngay từ lúc ra đời, đã chịu ngay một sự thiệt thòi lớn: người ta ít nhớ.
Ở trên, tôi đã liều nêu lên sơ bộ một số yếu tố trong một bài thơ. Tôi thử liều thêm một lần nữa, vẽ lên thành một mô hình như sau:
+ hình ảnh > hơi thơ
Âm + vần + nhịp { { nhạc điệu
+ cảm xúc > giọng thơ ====== > THƠ
Ý tưởng + cảm xúc + hình tượng > tứ thơ
Như vậy, trong thơ có hai yếu tố quan trọng nhất: tứ thơ và nhạc điệu. Có phải vì thế mà có người gọi thơ là đi giữa ý và nhạc chăng?
Nguyễn Hưng Quốc
------------
TÌM HIỂU NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM
Khảo luận của Nguyễn Hưng Quốc
Quê Mẹ ấn hành. Paris 1988
Thursday, April 18, 2019
NHÀ THƠ VÀ CẢM XÚC THƠ
Nguyễn Hưng Quốc
Nhà thơ là người sáng tạo ư? Không, tôi ngờ lắm. Từ xưa đến nay, nhà thơ có mang lại điều gì mới mẻ đâu. Hắn là người, bằng sự nhạy bén riêng của mình, phát hiện sâu sắc hơn ai hết những chất thơ đã vốn có, đã bàng bạc, ẩn tàng, giấu khuất đâu đó trong vũ trụ, ở thiên nhiên, ở cuộc đời, ở lòng người. Gió vẫn có đấy chứ, quen thuộc lắm mà, từ bao nhiêu đời rồi nhưng phải đợi đến lúc nhà thơ ra đời, nghiêng mình làm lá, gió mới cất thành tiếng reo. Trăng vẫn có đấy chứ, từ xưa, trên cao, nhưng phải đợi đến lúc nhà thơ xuất hiện, lặng mình làm một mặt nước hồ im, trăng mới lại hiện về, long lanh hơn, huyền ảo hơn, ngay trên mặt đất, rất vừa tầm nhìn.
Nhà thơ có sáng tạo được gì đâu? Hắn chỉ là lá reo để đón gió, là hồ im để đón trăng, là cỏ ngữa mặt để chờ sương. Hắn nắm bắt và giữ lại cho đời những chất thơ kín đáo nhất, mong manh nhất, thoáng qua nhất.
Ừ, mà nói cho ngay, nhà thơ cũng có sáng tạo đấy chứ. Nhưng ít thôi. Chỉ một điều: tạo ra linh hồn cho vạn vật, cái mà Thượng đế đã quên lúc tạo ra vũ trụ. Nhờ nhà thơ, gió trở thành hữu hình, trăng trở thành gần gủi, sương trở thành ấm áp.
Có phải khói sóng xưa kia chỉ là người tình của sông của biển? Khi nhà thơ ra đời, khói sóng tự nhiên hoá thân thành một nỗi niềm: "Yên ba giang thượng sử nhân sầu", "Lòng quê dờn dợn vời con nước".
Có phải hiện tượng nắng ngả màu, mây trôi chậm và gió bỗng dưng hiu hiu xưa kia chỉ là hiện tượng của tự nhiên? Khi nhà thơ ra đời, lạ lùng chưa, tất cả trở thành tín hiệu của tình yêu, tất cả đều nói lên cái nao nao, cái bâng khuâng của kẻ lần đầu "đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư".
Có phải vầng trăng xanh xao trên kia ngày trước chỉ hờ hững đi ngang qua mặt đất mỗi tháng mấy lần? Khi nhà thơ ra đời, trăng hết lạnh lẽo. Trăng thành tình nhân. Trăng thành nỗi nhớ. Từ nỗi nhớ của những người yêu nhau nhưng phải xa nhau "vầng trăng ai xẻ làm đôi", đến nỗi nhớ day dứt cồn cào của những kẻ lưu cư nơi đất khách không nguôi một niềm ước mơ vô hạn được trở về:
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương
(Lý Bạch)
Mặc dù ngay từ đầu truyện, Nguyễn Du đã giới thiệu Kiều là một người hay thơ, nhưng tôi tin Kiều chỉ thực sự làm thơ hay sau buổi đi tảo mộ về. Nghĩ lại coi, có lạ không, khung cảnh lúc Kiều đi với lúc trở về khác nhau biết mấy. Cũng là thiên nhiên ấy, nhưng lúc đi, thiên nhiên chỉ là thiên nhiên, lúc về thiên nhiên đã vương rất nhiều tâm tư của người. Dòng nước tự nhiên "trong veo", nhịp cầu không chỉ "nho nhỏ" nữa mà còn có "tơ liễu", có "bóng chiều thướt tha". Thiên nhiên không còn vô tình nữa. Thiên nhiên bị lây cái bâng khuâng của Kiều sau lần gặp gở Kim Trọng. Thiên nhiên cũng trở thành bâng khuâng. Kiều trở thành nhà thơ. Chỉ trở thành nhà thơ khi người ta đã phá vỡ cảm giác đồng nhất giữa mình với ngoại cảnh để khám phá ra, trong sự phân thận kia, xuất hiện một sự đồng cảm sâu sắc. Làm thơ là dựng lên mối tương quan thân tình giữa con người và không gian chung quanh. Để con người bớt đi cái cảm giác lẻ loi giữa cái bao la vô tận của trời đất như Trần Tử Ngang ngày trước, "Niệm thiên địa chi du du. Độc sảng thiên nhi thế hạ". Để không còn xa xôi, vô tình nữa, trước con người, một cành hoa, một áng mây, một vì sao. Để con người và vạn vật có khả năng đồng cảm với nhau hơn, chia xẻ với nhau những niềm cô đơn của mình:
Không gian dày đặc toàn trăng cả
Tôi cũng trăng và nàng cũng trăng
(Hàn Mặc Tử)
Hay:
Trời hiền khép một vòng thân
Trông cao xa ấy mà gần tâm tư
(Cung Trầm Tưởng)
Nhà thơ không chỉ làm cho con người bớt khắc khoải trong cô đơn. Nhà thơ còn làm cho tâm hồn nhân loại giàu có, rộng rãi mênh mông gấp bội. Trước khi nhà thơ ra đời, trái đất này có lẽ đã quá cũ. Cứ thế, cứ thế lập lại hoài những vòng quay. Cứ thế, cứ thế phô bày vẫn bấy nhiêu cảnh trí. Như từ ngàn xưa. Với sự xuất hiện của nhà thơ, núi non sông biển lại hiện ra những bức tranh mới, luôn luôn biến hoá và đẹp đẽ vô ngần (Hải sơn vị ngã xuất tân đồ - Nguyễn Trãi). Nguyễn Trãi cũng đã không từng tự hào về sự giàu có của thi nhân đó sao?
Nhãn để thất thời thi liệu phú
Ngâm ông thuỳ dữ thế nhân đa?
(Một thoáng chất thơ đầy cả mắt
Người đời dễ sánh khách thơ a?)
Làm thơ là ban phát sự giàu có ấy cho mọi người.
Trước khi nhà thơ ra đời, có lẽ loài người đã biết yêu nhau. Adam và Eva đã biết yêu nhau. Và chỉ biết yêu nhau. Với sự xuất hiện của nhà thơ, trong tâm hồn mỗi người, không còn lẻ loi một người tình đang ngự, mà còn, hằng hà chung quanh, bao nhiêu chất thơ từ trời đất tụ về, điểm tô. Trên chân dung người tình, không chỉ có đôi mắt, dù đôi mắt vô hạn đẹp. Mà còn có dòng sông "Mắt em là một dòng sông. Thuyền anh bơi lội trong vòng mắt em" (Lưu Trọng Lư). Rồi còn có gió có mây nữa. "Có phải em mang trên áo bay. Hai phần gió thổi, một phần mây. Hay là em gói mây trong áo. Rồi thở cho làn áo trắng bay?" (Nguyên Sa). Đứng trước người yêu, mình không chỉ là mình, mình còn có thể là hoa cỏ may. "Hồn anh như hoa cỏ may. Một chiều cả gió, bám đầy áo em". (Nguyễn Bính).
Chao ôi, trước khi nhà thơ ra đời, có lẽ tâm hồn con người hạn hẹp lắm. Có khi chỉ là một chiếc gương soi. Soi bản thân mình. Có khi chỉ là một bàn thờ. Thờ thần linh. Thờ người tình. Với nhà thơ, diện tích tâm hồn con người mở ra, thênh thang vô cùng vô tận. Những cành cây héo úa đâu đó dưới mắt thờ ơ của những kẻ chỉ biết cúi đi lầm lủi, nhờ nhà thơ, bỗng lại xanh tươi và nở hoa trong hồn người. Những làn hương dịu nhẹ dễ bị gió xua tan, nhờ nhà thơ, cứ đọng lại, mãi mãi vấn vương trong từng nhịp thở của con người. Những triều sóng vỗ của biển dễ bị chìm hút trong lãng quên, nhờ nhà thơ, cứ đọng lại hoài hoài một dư âm.
Và, còn nữa. Nhờ nhà thơ, con người nhìn thấy rõ hơn diện mạo tâm hồn mình. Xưa kia tâm hồn thăm thẳm mà u uẩn quá. Nó là cõi đêm. Nó là giông tố sấm chớp dữ dội nhưng cũng mù mịt vô cùng. Nhà thơ là kẻ lặn sâu hơn ai hết vào cái vùng bất an và vô định ấy. Nhà thơ có thể tả trăng, tả gió, tả mây, tả hoa... nhưng nghĩ cho cùng, qua đó nhà thơ nói lên tâm tư của con người. Trăng, gió, mây, hoa... chỉ là cái cớ. Mục đích của nhà thơ không phải là mô tả mà là biểu hiện. Chỉ có trong thơ dở, cảnh mới là cảnh. Trong tất cả những bài thơ hay, cảnh là người, là tâm tư. Như Xuân Diệu từng viết: "Hồn ơi, phong cảnh cũng là người".
Thơ không phải xuất phát từ nhu cầu ghi lại mà từ nhu cầu nói lên. Thơ không nẩy lên theo một vầng trăng mọc mà theo một cảm xúc mới nhú. Ừ, mà hình như, thường người ta bắt đầu làm thơ hay mê thơ lúc bắt đầu thấy xôn xao trong lòng một tình yêu chớm nở. "Yêu nàng, bao nhiêu người làm thơ", Nguyễn Nhược Pháp nói thế. Phần lớn con người đi vào cõi thơ vì một ánh mắt một nụ cười hơn là vì một "Tịch dương vô hạn hảo". Có phải không, khi các cô cậu học trò, đến tuổi nào đó, vào lớp, biết vuốt lại mái tóc mình, biết hãm lại tiếng cười cho vừa đủ độ giòn cũng là lúc xuất hiện trong các cặp sách của họ, quyển vở nắn nót... chép thơ ? Nhu cầu làm thơ khởi lên từ chỗ chấm hết, trong tâm hồn, cái yên ả của tuổi thơ. Làm thơ trở thành một cách tỏ tình. Đọc thơ trở thành một cách tìm kiếm cảm thông.
Trong hàng vạn, hàng chục vạn người biết yêu và vì biết yêu mà biết làm thơ ấy, cuối cùng, có lẽ chỉ một hai người là trở thành nhà thơ thật sự: đó là kẻ có đôi mắt tinh, đôi tai thính nhất có thể phát hiện ra từng tế bào đang đổi mới trong hồn mình.
Nhiều người, ở đời, chỉ có một mùa hoa. Cái rạo rực chỉ đến một lần rồi xa hẳn. Tôi luôn luôn đón nhận tin một nhà thơ nào đó chết đi với tất cả sự ngỡ ngàng, hoang mang. Bởi nhà thơ như một kẻ không có tuổi. Cứ trẻ hoài. Cứ giữ lại hoài trong lòng những phiến lá mới để sẵn sàng reo lên xôn xao ngay trước những cơn gió khẽ khàng.
Mọi người tìm kiếm trong thơ những tiếng nói chưa thành của mình.
Mà đời đâu phải chỉ có những rạo rực của tình yêu. Mọi nàng Kiều rồi sẽ bị xô bật ra khỏi lầu khuê có "trướng rũ màn che". Đời không thể cứ vĩnh viễn là một bình nguyên lập lại mãi những cảnh sắc cũ. Hồn cũng không thể cứ vĩnh viễn là một không gian trống cho gió hút. Mọi người, kẻ sớm người muộn, đều bị đẩy ra biển. Biển trầm luân. Để giơ thân đón sóng. Sóng đau thương. Nhà thơ, khác với mọi người, là kẻ làm cho sóng dội lên thành dư vang ngân mãi. Làm thơ là một cách tạo âm cho biển, Đoạn Trường Tân Thanh là tiếng biển gào. Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc... cũng là những tiếng biển gào. Ngay cả những câu thơ hết sức bâng quơ "Em không nghe mùa thu" cũng là một thứ tiếng biển. Biển đang lặng sóng. Thầm thì.
Tất cả những bài thơ hay đều vang vọng âm thanh của biển. Phải không? Thơ đâu phải chỉ là tiếng đập riêng của trái tim. Thơ còn là, phải là tiếng dội của lòng người trước dư ba của sóng.
Bởi vì là tiếng dội của sóng nên thơ không là tâm sự thuần tuý khép kín của một cá nhân. Thơ mở ra, gợi ra man mác những nỗi niềm tâm sự chung. Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm. Thơ là tiếng nói một người nhân danh tất cả mọi người trong hoàn cảnh ấy, số phận ấy. Nhà thơ chỉ độc quyền được cho mình một cánh cửa. Sau cánh cửa kia là của mọi người. Trên núi Kính Đình ngày xưa chỉ một mình Lý Bạch ngồi buồn hiu hắt ngắm mây bay, chim bay nhưng còn nỗi cô đơn của ông, nỗi cô đơn ấy là nỗi cô đơn của nhân loại. Cả ngàn năm nay, mỗi khi con người lẻ loi trước thiên nhiên thì lại chợt nhớ, đọc lại "Chúng điểu cao phi tận. Cô vân độc khứ nhàn. Tương khan lưỡng bất yếm. Duy hữu Kính Đình san".
(Dịch nghĩa: "Bầy chim vút bay lên cao. Mây lẻ từng đám nhàn nhã bay về. Nhìn nhau không chán mắt. Chỉ có núi Kính Đình".)
Ngỡ như nỗi cô đơn và niềm bâng khuâng ấy là của riêng mình.
Thơ xoá đi cái không gian trống giữa người với người. Để "giậu mồng tơi xanh rờn" không là nỗi phân ly. Để "tam tứ núi, thập bát đèo" không là điều cách biệt. Thơ cũng xoá đi cái không gian chết giữa đời này với đời khác. Để những giọt lệ của Kiều ngày xưa còn cay cay trong mắt người bây giờ. Để cái ngạo nghễ "lưng khôn uốn, lộc nên từ" của Nguyễn Trãi 600 năm trước còn lay động tâm thức người bây giờ. Để nhân loại hôm nay còn thấy bàng hoàng trước tiếng thét dài làm lạnh cả hư không của thiền sư Không Lộ một ngàn năm xa xưa.
Ý thức thời gian là một ý thức bị kịch. Ý thức không gian cũng là một ý thức bị kịch. Nhà thơ có thể làm thơ trong tâm trạng hoang mang run sợ trước cái mênh mông không cùng không tận của trời đất nhưng cuối cùng, mục đích của thơ là để vô hiệu hoá những khoảng cách kia.
Giữa biển sóng trùng trùng, con người, với thơ, quờ quạng tìm đến nhau. Chia cho nhau một chút lửa. Chia cho nhau một làn hương hoa. Thơ là của mặt đất. Lưu Thần Nguyễn Triệu chỉ làm thơ khi chưa vào được Thiên Thai, không nguôi trong tâm sự bao nhiêu điều mơ ước. Lưu Thần Nguyễn Triệu cũng chỉ làm thơ khi đã vĩnh biệt Thiên Thai, day dứt trong lòng bao nhiêu nỗi nhớ những. Trong Thiên Thai, Lưu Nguyễn có làm thơ đâu? Thơ chỉ là hoa của mặt đất đầy bất an. Đừng tự phong thánh cho mình lúc cầm bút làm thơ, bạn ạ.
Tản Đà ao ước lên chơi với chị Hằng là để cho "có bầu có bạn" và ông làm thơ cũng là để "ta cảm thay ai viết mấy lời". Vũ Hoàng Chương "đêm đêm... dõi mấy từng cao, tìm một quê hương mới lạ nào" nhưng ông lại luôn cồn cào thèm khát được say với một người mình đã từng gặp gỡ "như truyện Liêu Trai" ngay trên mặt đất này. Phạm Công Thiện tự cho "thơ ta là thơ trời" nhưng lòng ông lại cứ nhức nhối dằn vặt với một chuyện rất ư là người "tại sao cô lại khóc?". Thơ ông "bay lên trên mưa móc", ... "liệng trên mái tóc" đâu không thấy, chỉ thấy lòng ông rất thấp, rất thấp, hứng đầy những giọt nước mắt của một người con gái nào.
Có thế, người ta mới có lý do để làm thơ và đọc thơ chứ.
Lý thuyết thật nhiều, nhưng sự thực lại rất đơn giản. Nhà thơ ơi, hãy làm thơ để loài người tìm thấy một nỗi niềm chung hầu gần lại với nhau hơn; để cho mỗi người tự thấy tâm hồn mình rộng lớn và đẹp đẽ hơn vô ngần những chén cơm, những manh áo, những thân thể ngọc ngà; để cho những ai trong các căn phòng khoá chặt kia biết nao lòng trước những luồng sóng vỗ làm quặn đau những nàng Kiều bất hạnh.
Và những ai, chiều nay, bước ra khỏi nhà, nhìn lên bầu trời thăm thẳm xanh biếc trên cao mà tự dưng cảm thấy trong lòng mình có chút xôn xao, bâng khuâng mơ hồ, thì xin hãy nhớ đến nhả thơ.
Những ai, đêm nay, sau cơn vật vờ giữa cuộc trầm luân, trở về nhà, lòng thảnh nhẹ, thoáng nhận ra đâu đó có làn hương bưởi, chợt nhớ đêm đã khuya lắm và thấy lòng ấm lại một mùi hoa, thì xin hãy nhớ đến nhà thơ.
Và hãy cám ơn thơ.
Nguyễn Hưng Quốc
***
Tìm hiểu NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM
Khảo luận của Nguyễn Hưng Quốc
Quê Mẹ ấn hành. Paris 1988
Wednesday, March 20, 2019
TẠI VÌ... TRỜI SANH
Nguyễn Thạch Giang
Bảo đến nhà thờ Maria Goretti dự tang lễ của một người bác họ, lúc ra xe định ra về thì có phone của một người bạn rủ đi ăn cơm tấm ở quán Thiên Nam gần đó, nhưng khoảng một tiếng đồng hồ nữa người bạn mới đến. Bảo không muốn về nhà rồi quay trở lại mất công, chợt thấy quán cà phê Vỉa Hè phía bên kia đường chàng tấp vào đó ngồi chờ.
Bảo ít khi uống cà phê, chỉ thỉnh thoảng, đây là lần đầu chàng bước vào quán cà phê này. Bảo lựa một bàn đặt ngoài vỉa hè tránh khói thuốc lá mịt mù bên trong. Bàn gần bên có một cô gái trẻ đang cầm cái phone không biết xem gì mà miệng cứ cười mĩm. Chốc sau có đứa con trai đến ngồi xuống cạnh cô nàng nói hello Hàn Ny. Rồi anh chàng than thở "Chút nữa phải đi đóng tiền lời 200 mà còn thiếu mấy chục".
Người con gái có lẽ tên Hàn Ny tiếp tục nhìn vào màn hình cái phone, không chú ý lời đứa con trai vừa nói. Một đứa con gái làm trong quán bước đến hỏi "ê Bùng Binh uống cái gì". "Giống như mọi ngày". Cô gái vội bước đi lát sau trở lại với ly cà phê sửa đá và ly trà. Thằng Bùng Binh nói với cô nàng:
"Mình có hẹn phải đi đóng tiền lời bây giờ mà còn thiếu mấy chục, Ty Na cho mượn đỡ vài bửa mình trả lại"
"Cho mày tởn, dám lên sòng bài mượn tiền đinh". Cô nàng trợn mắt bậm môi rồi lấy tay sờ vào mái tóc nó.
"Nhuộm tóc màu này hỏng đẹp, giống tóc con gái"
"Giống màu tóc của Hàn Ny"
Cô gái cầm cái phone giờ lên tiếng "đừng kêu mình Hàn Ny, Ny thôi không có Hàn"
"Kêu Hàn Ny cho có vẻ "Mùa thu lá bay", Ny cho mình mượn ba chục được không? Năn nỉ đó! Bửa nay mà không nộp tiền lời cho nó là nó tới nhà"
"Bùng Binh mượn nợ bao nhiêu mà đóng tiền lời hai trăm?"
"Mượn một ngàn, mỗi tuần đóng tiền lời một trăm. Tuần rồi thiếu nó năn nỉ tuần này trả luôn một lượt, bữa nay không có là mệt với nó"
Bảo nảy giờ ngồi gần bên nghe mấy người nói chuyện, ngạc nhiên lên tiếng hỏi:
"Mượn một ngàn mỗi tuần đóng tiền lời một trăm?"
"Mượn tiền đinh mà!"
"Tiền đinh là tiền gì?"
"Tiền mượn ở sòng bài, mình thua quá cần tiền gở, mượn tiền đinh"
"Sòng bài cho vay?"
"Không! Có mấy người họ chuyên cho vay tiền đinh ở sòng bài"
Bảo gật gật đầu. Loan shark.
Cô gái tóc nhuộm hoe vàng móc trong bóp mớ tiền lẻ ra đếm "còn có mười mấy đồng, mượn thêm Ty Na cho đủ"
Cô gái làm trong quán móc trong túi ra mớ tiền lẻ đưa cho thằng Bùng Binh:
"Nè gia tài sự nghiệp có bao nhiêu đó!"
Thằng Bùng Binh cầm xấp tiền đếm đếm:
"Má ơi! Sao toàn là giấy một đồng, mà còn thiếu hai đồng"
Nó đưa mớ tiền lẻ cho cô nàng Ty Na:
"Bà vô bà Thu Sương đổi tiền chẳn dùm tui, nói cho thằng Bùng Binh thiếu hai đồng ngày mai nó trả"
"Thôi! Bửa nay quán ế ổng bỏ đi chơi, nảy giờ bả đang quạu. Có 28 đồng tiền lẻ đổi lấy 30 đồng tiền chẳn cho bả chửi tao hả"
Bảo thấy mấy người này vui vui, móc túi lấy tiền nói "đưa đây tôi đổi dùm cho".
Có tiếng điện thoại của người bạn gọi, Bảo bước ra xe, thằng Bùng Binh chạy theo:
"Cám ơn anh! Ngày mai anh đến em trả lại hai đồng"
"Okay! Không có chi".
Mấy ngày sau Bảo trở lại quán cà phê, không phải để lấy lại hai đồng mà thằng Bùng Binh thiếu, tự nhiên Bảo thấy thích thích mấy người này. Bảo thấy nhớ nhớ cô nàng mang tên Hàn Ny mùa thu lá bay. Nhưng hôm nay không thấy nàng, cả cô người làm tên Ty Na cũng không thấy. Bảo móc điện thoại ra xem email, chút nữa phải trở vô sở làm việc. Vừa định bước đi thì thằng Bùng Binh từ ngoài bước vô, gặp Bảo nó lẹ lẹ móc túi:
"Trả lại anh hai đồng hôm trước mượn, xin lỗi anh tên gì?"
"Tôi tên Bảo, Hoàng Gia Bảo"
"Tên nghe như tên tài tử Hồng Kông"
"You tên gì? Bùng Binh?"
Thằng Bùng Binh bật cười. "Em tên Tùng"
Một thanh niên trẻ ngồi gần đó lên tiếng. "Anh ơi! Bùng binh nghĩa là "bóng", Tùng bóng, Tùng bùng binh". Rồi nó quay lại thằng Tùng:
"Ê Tùng, bộ mày thích làm đàn bà lắm hả?"
"Đâu có cha! Tui không bao giờ muốn làm đàn bà, trời sanh tui ra là đàn ông, tôi thích là đàn ông"
"Mày là đàn ông sao đi thương đàn ông"
"Tại vì... tại vì... trời sanh tui ra... như vậy đó".
Mấy tuần sau Bảo trở lại quán cà phê, chỉ mới gặp cô nàng nhuộm tóc hoe vàng có một lần mà sao cứ nhớ người ta!. Vừa bước vào quán đã thấy mấy người đó đang ăn gà chiên. Thằng Bùng Binh nhanh nhẩu:"Ăn gà chiên anh Bảo Bảo".
Cô nàng "mùa thu lá bay" cười mĩm hỏi "anh tên Bảo Bảo?". Bảo bật cười "Gia Bảo không phải Bảo Bảo". "Mời anh ăn chút gà chiên cho vui" "cám ơn, xin cứ tự nhiên"
Thằng Bùng Binh nói khơi khơi một mình "lẹ thiệt, bữa nay tới ngày đóng tiền lời!"
Bảo thấy vậy lên tiếng: "sao Bùng Binh không trả dứt nợ đi, để vậy đóng tiền lời hoài sao chịu nỗi". Cả bọn bật cười (thằng này chỉ có tiền đóng tiền lời, không có tiền trả tiền vốn).
Bùng Binh nhìn Bảo rồi nó nói:
"Hay là anh Bảo sang món nợ đó đi, chừng một hai tuần em sẽ trả, đóng tiền lời đầy đủ, cho mấy thằng đó ăn uổng".
Bảo cười cười: "người ta lấy một tuần một trăm, Bảo chỉ lấy năm chục"
Ăn xong thì cũng vừa lúc Ty Na hết ca làm, người tình của Ty Na là Nhứt Cư đến đón. Thằng Bùng Binh rủ lên sòng bài chơi, nó hẹn trả tiền cho người ta chỗ đó. Bảo đi theo, tự nhiên thấy tội nghiệp cho thằng Bùng Binh, nghĩ bụng lên đó coi tình hình ra sao, có gì trả nợ dùm cho nó.
Đến sòng bài chủ nợ của Bùng Binh chưa thấy tới, cả bọn hùn tiền đưa thằng Nhứt đặt bài cào. Thắng luôn ba ván, vui quá xúm nhau dẫn đi ăn. Bảo như bị cuốn hút vào cái xóm nhà lá này, chàng móc túi lấy một ngàn đưa thằng Bùng Binh trả cho người ta, từ nay chủ nợ là anh Bảo Bảo. Không phải vì tiền lời. Bảo chỉ muốn mượn cơ hội tới lui với mấy người này.
Bảo say nắng Hàn Ny, gặp nàng thì dật dờ mà về nhà thì nhớ nàng ôi sao là nhớ. Bảo đã ba mươi tuổi, chưa từng có bạn gái. Trước đây Bảo cũng có tình cảm với một vài cô, nhưng cái tình cảm ấy chỉ thoáng qua như cơn gió thoảng, không đi tới đâu. Tự hồi nào tới giờ Bảo chỉ biết đi học rồi đi làm. Học giỏi, hai mươi lăm tuổi có bằng cao học, ba mươi tuổi đã là phó giám đốc một chi nhánh ngân hàng. Có một căn nhà và trong ngân hàng có mấy trăm ngàn nhờ trúng "Stock". Có thể nói Bảo là người thành công, là một người đàn ông khiến cho biết bao cô gái mơ ước được đi cùng. Nhưng sao Bảo vẫn chưa chinh phục được Hàn Ny. Nhiều lần Bảo tự nghĩ. Có lần Bảo hỏi thằng Bùng Binh làm sao chiếm được trái tim cô nàng, nó chỉ cười. Lần khác Bảo nói Bùng Binh giúp Bảo "cua" cô nàng. Bùng Binh ngập ngừng rồi nó nói Hàn Ny không biết yêu.
"Ny không biết yêu?", thật vậy sao? Trên đời này có người không biết yêu? Bảo không tin, Bảo thấy Ny cũng bình thường như bao cô gái khác, Ny cũng trang điểm (sơ sơ), Ny ăn mặc đẹp, Ny cười đùa vui cùng bạn bè. Ny không biết yêu sao Ny nhuộm tóc làm dáng với ai đây.
Một hôm Bảo chở Ny về nhà cha mẹ chàng để xin một cây kiểng mà Ny thích. Cha mẹ Bảo thấy con trai bữa nay dẫn bạn gái về nhà thì vui ra mặt. Ông bà muốn Bảo lập gia đình, tuổi này có vợ con là được rồi. Cô nàng Hàn Ny có hơi bối rối khi cha mẹ Bảo hỏi han.
"Dạ cháu đang học đại học, học mấy năm rồi mà cũng chưa xong"
Ny kiếm cớ xin ra về, nàng bối rối thật sự.
Từ hôm đó Hàn Ny cố ý tránh mặt Bảo. Bảo rất buồn không hiểu tại sao. Hàn Ny tâm sự với Ty Na, "bởi vì Ny không muốn làm Bảo khổ, thà chấm dứt bây giờ". Ny nói nếu chỉ là bạn bè đi chơi cùng nhau thì Ny rất tự nhiên, "nhưng không hiểu sao, khi nào đứa con trai bắt đầu tỏ tình với mình, mình cảm thấy sợ, sợ gặp người đó, mình tránh mặt, mình không muốn gặp người đó nữa". Ty Na im lặng, cảm thấy khó xử, thấy tội tội cho Bảo Bảo. Một thanh niên bảnh bao đẹp trai, con nhà danh giá đàng hoàng, người thì sạch sẽ từ trong đến ngoài (không mang tiếng tứ đổ tường), Hàn Ny mà lấy anh ta thì không còn lựa chọn nào tốt hơn. Ty Na nắm lấy tay bạn:
"Mình hỏi thiệt, Ny có thể lấy chồng sinh con như bao nhiêu người phụ nữ khác không?"
"Mình nghĩ được, mình làm được"
"Ny thấy Bảo thế nào? Bảo có điều gì Ny không thích?"
"Bảo rất tốt, có thể nói Bảo không có điều gì phải chê trách"
"Sao Ny từ chối tình yêu của Bảo?"
"Nhiều lúc Ny cũng muốn lấy chồng sinh con đẻ cái để làm vui lòng cha mẹ, nhưng mang mặt nạ mà sống sao khó quá! Ny làm không được"
"Ny có bao giờ thương con trai?"
"Lúc mới lớn Ny có thử với một vài đứa con trai, cũng ôm ấp hôn hít nói lời yêu thương. Nhưng Ny nhận ra đó chỉ là giả, không phải thật"
"Ny có muốn làm đàn ông?"
"Không, không bao giờ!"
"Nếu Ny không muốn làm đàn ông, Ny chỉ muốn làm đàn bà, sao Ny, sao Ny... lại đi thương đàn bà"
"Ny không biết, chắc đó là một cái "nghiệp" mà Ny phải mang"
Làm ở quán cà phê cũng giống như ngồi ở ngã tư quốc tế, mọi chuyện trên thiên đình hay dưới âm phủ đều ghé qua đây. Lâu lâu có người vô xin đểu, lâu lâu có người vô bán vàng (không biết đồ sạch hay đồ dơ), lâu lâu có người vô ghé tai nói nhỏ chuyện động trời. Bà chủ quán đã quen mấy việc này quá, không có gì phải lạ. Như là sáng nay có người bạn thân đến khoe với bà là mới vừa đi "giải nghiệp". Làm người ai mà không mang "nghiệp", không lớn thì nhỏ, phải đi giải nghiệp thì gia đạo mới an vui, công việc làm ăn mới được thuận buồm xuôi gió. Còn như phải mang nghiệp, thì cuộc đời không ngóc đầu lên nổi. Bà bạn làm quảng cáo không công, thầy ở Việt Nam mới qua, ở bên đó thầy đã "giải nghiệp" cho biết bao nhiêu người, thầy không lấy tiền, thầy chỉ làm giúp lấy tiền mua nhang đèn hoa quả lễ vật dâng lên "Thánh" trên thiên đình. Bà Thu Sương lả dân làm ăn, bà thường nói có kiêng có lành. Bà nghe qua là lấy địa chỉ xin số phone rủ mấy cô làm trong quán đi "giải nghiệp".
Ty Na về nhà kể cho thằng Nhứt nghe, thằng Nhứt nói "nghiệp đã mang thì phải trả sao đi giải cho được". Thằng Bùng Binh thì là vua mê đồng bóng, nghe qua là nó muốn đi tới chỗ coi tận mắt thầy giải nghiệp ra làm sao. Nó rủ rê Hàn Ny, nó dụ dỗ Bảo Bảo đi "giải nghiệp". Bởi vì dưng không ngày hôm đó Bảo Bảo ghé vô quán cà phê chỗ mà Bảo Bảo chưa từng đến bao giờ. Bởi vì trời xui đất khiến cho Bảo Bảo gặp Hàn Ny. Bởi vì Bảo Bảo đã yêu một người con gái chỉ thích con gái. Tình yêu không đoạn kết. Đó lả một cái nghiệp. Phải không Bảo Bảo?
Một buổi sáng đẹp trời Nhứt chở cả bọn năm người bạn thân mến đi đến nhà thầy để xin "giải nghiệp". Ty Na và Nhứt chỉ đi theo để ủng hộ tinh thần chớ hai người không có vấn đề. Thằng Bùng Binh thì nghĩ ai mà không mang nghiệp, chắc mình cũng có cái nghiệp nào đó mà mình không biết, nhưng nó nghe nói tiền đèn nhang tối thiểu cũng phải một ngàn, sao mà nhiều quá vậy thầy! Hàn Ny thì nửa nghi nửa ngờ nửa phân vân, mà thật ra nàng cũng không biết mình mang cái nghiệp gì mà phải đi giải.
Nhà thầy ở một cái xóm có thể nói là bình dân, sân cỏ nhếch nhác xe cộ đậu tứ tung. "Đền thờ thánh" của thầy là một căn nhà nhỏ dựng phía sân vườn sau có lối đi riêng. Thầy mặc áo màu vàng đội nón đỏ không biết thầy tu theo đạo gì. Đến nơi thầy đang bận tiếp khách, cả bọn ngồi chờ. Thằng Bùng Binh đưa mắt quan sát, thằng này vốn dễ tin, tưởng là nó hăng hái xin vô gặp thầy trước, nhưng nó nói một ngàn mắc quá hôm nay nó không đủ tiền, để bửa khác trở lại. Hàn Ny thì quyết định "thôi! Ny không giải nghiệp đâu, trời sanh sao để vậy".
Bảo bước vào kéo ghế ngồi trước mặt thầy, bắt chước người ta chắp tay xá xá.
"Cái nghiệp mà thí chủ mang như thế nào? nói để thầy liệu bề mà xin ơn thánh giải nghiệp cho thí chủ"
"Thưa thầy, con yêu một người nhưng không tiến tới được, tình yêu không đoạn kết"
"Yêu đương ngang trái! Ngó vậy chớ nó cũng làm khổ nhiều người trong cuộc dính líu. Đó là một cái nghiệp, để thầy xin ơn thánh làm phép giải, để thí chủ và người thân không bị khổ vì tình. Thầy chỉ lấy tiền nhang đèn hoa quả một ngàn"
Bảo Bảo nhìn ra ngoài, mái tóc hoe vàng của Hàn Ny bay trong gió, nụ cười dáng đi của cô nàng đã hớp hồn Bảo Bảo từ lần gặp đầu tiên. Tình yêu đó sao mà tha thiết! Giờ phải xin ơn thánh để từ bỏ để mãi mãi rời xa Hàn Ny! Bảo bật khóc.
"Xin lỗi thầy! Con không làm được"
Bảo đứng lên bước ra ngoài. Ông thầy cúng nói vọng theo "cái nghiệp này lớn quá!"
Trên đường về không ai nói một lời gì. Không khí thật ngột ngạt khó thở. Ngang qua downtown Bảo Bảo nói:
"Anh Nhứt Cư! Mình kiếm quán nào ghé ăn trưa"
"Mình tên Nhứt, không phải Nhứt Cư"
Cả bọn bật cười, xé tan bầu không khí căng thẳng. Thằng Bùng Binh lên tiếng: "tiền nhang đèn gì mà một ngàn! Mắc quá, vậy mà nghe nói có người cúng tới năm, mười ngàn lận đó!"
"Không phải Bảo tiếc một ngàn, đối với Bảo một ngàn không nghĩa lý gì cả. Nhưng lúc nhìn người mà mình yêu, yêu tha thiết, tình yêu đó không ai ép buộc, sao giờ phải xin ơn thánh để quên. Nếu yêu một người nào là một cái nghiệp, Bảo chấp nhận mang cái nghiệp đó".
Friday, March 15, 2019
NGƯỜI TÌNH TRONG BÓNG ĐÊM
Ý Ngôn
Tết vừa rồi hai vợ chồng tôi có về Việt Nam "ăn Tết", sẵn dịp thăm bà con cùng là cúng kiến thăm mồ mã ông bà. Tôi có ghé qua cái xóm cũ của mình coi nó giờ ra sao, giờ nó lạ nhìn không ra, người ở đó một phần thì chết do tuổi già, phần thì bỏ xứ đi tứ tán khắp bốn phương trời, chỉ còn lại một hai gia đình là còn bám trụ lại cái xóm ngoại ô đèn vàng nầy. Con Tám, nhỏ bạn học cùng lớp thời trước, gặp tôi hỏi "Nguyệt còn nhớ mình không? Tám bánh ú nè!". Tôi với nó vẫn mày tao như ngày xưa, má nó bán bánh ú bánh tét ngoài chợ nên bạn bè lối xóm kêu nó là Tám bánh ú, để phân biệt với con Tám Điệu là con nhỏ con nhà giàu mà hay làm điệu, quần này áo nọ, đi học mà dám đánh phấn thoa son. "Nguyệt còn nhớ thằng Nhiều không? Thằng Nhiều là em anh Đông chị Đầm con chú Hai ở xóm mình đó, hôm trước nó có về chơi, nó bữa nay mập tù lù tóc bạc muối tiêu trông già lắm".
Thằng Nhiều! Làm sao tôi quên được nó. Người tình trong bóng đêm năm xưa của tôi, tối tối hai đứa lén ra hẹn hò nơi góc tối sau nhà. Tôi không phải người yêu của nó, ngày đó hai đứa còn nhỏ quá, nó cũng chẳng bao giờ nói lời yêu thương tình tứ gì với tôi cả, chỉ là gặp nhau nói ba điều bốn chuyện vớ vẩn mà thôi.
Nhà thằng Nhiều cách nhà tôi hai căn, lúc ba má nó dọn về xóm này ở là lúc tôi học lớp Nhì, nó cũng học lớp Nhì và bằng tuổi tôi nên hai đứa có thói quen kêu nhau mày tao. Nghe nói ba nó làm trong toà hành chánh Long Xuyên, giờ nghỉ hưu nên về đây cất nhà trên đất của ông nội nó. Xóm tôi ở thuộc vùng ngoại ô, nhà nào cũng có sân trước vườn sau, nhà này cách nhà kia một khoảng sân nhỏ chớ không san sát như ngoài phố chợ.
Má nó hay đánh bài tứ sắc, thường kêu tay gầy sòng tại nhà. Bà ngoại tôi cũng thích đánh bài tứ sắc, mỗi khi bà sang nhà nó chơi, bà thường dẫn tôi đi theo. Tôi lẩn quẩn dưới bếp phụ chị Đầm làm bánh, nấu chè, hoặc nếu không thì ngồi cạnh bà ngoại coi bà đánh bài, thỉnh thoảng têm trầu cho bà ngoại. Có lẽ vì vậy mà tôi biết đánh bài tứ sắc, má tôi lâu lâu đổ thừa tại vì ngoại mà tôi nhỏ xíu đã xoè bài tứ sắc thiệt là điệu nghệ. Má tôi không thích cờ bạc, bà ngoại đi chơi đánh bài không sợ ông ngoại la, nhưng lại sợ má tôi.
Thằng Nhiều lúc còn trẻ thường được má nó sai đi kêu tay đánh bài. Nhưng nó sợ má tôi vì bị bà la một trận, má tôi không thích bà ngoại cứ đến nhà má nó đậu chến hoài, nhưng má không dám la bà ngoại, má la thằng Nhiều. Nó sợ má tôi lắm, mỗi lần đến kiếm bà ngoại, nó không dám vô nhà đứng lấp ló ngoài sân, chừng thấy bà ngoại tôi thì kêu nhỏ nhỏ, nó không dám nói lớn tiếng chỉ ra dấu cho bà ngoại biết. Ông ngoại tôi đứng phía trong rình coi cái điệu bộ thiệt là tức cười của thằng Nhiều.
Thời gian dần trôi qua, bà ngoại già yếu không còn đi đánh bài tứ sắc ở nhà má thằng Nhiều. Thằng Nhiều giờ cũng đã lớn, ra vẻ con trai rồi, không còn đi kêu tay bài cho má nó nữa. Một hôm tôi ăn mặc đẹp qua nhà nó rủ chị Đầm đi coi hát bóng. Thằng Nhiều nhìn tôi trân trân, bữa nay nó lớn nó nhìn tôi cái kiểu đó làm tôi mắc cở muốn chết.
Buổi tối thằng Nhiều qua nhà tôi đứng lấp ló ngoài sân, thấy tôi nó ngoắc tay ra hiệu. Tôi bước ra ngoài hỏi nó sao không vô nhà, má hỏng có la đâu mà sợ. Nó hỏi tôi coi phim gì có hay không.
"Tình thù rực rỡ"
"Phim gì nghe cái tựa thấy hết hồn. Tình thù... sao rực rỡ!"
"Ai biết"
"Mai mốt có phim hay rủ đi coi với nhe"
Phía trước nhà tôi là một con rạch nhỏ, dọc theo bờ rạch là một lối đi, ngày đó chưa trán xi măng, đường đất mưa xuống có khi bùn sình lầy lội. Có tiếng người đi bộ ngang qua nói chuyện râm ran, thằng Nhiều kéo tôi lại gần hai đứa nép vào chỗ tối, sợ người ta thấy. Nó áp mặt nó sát mặt tôi nói chuyện nhỏ nhỏ.
"Bộ hút thuốc hả?"
"Đâu có, hồi nảy thằng Minh cho thử chút thuốc lá Mỹ cho biết"
Thằng Nhiều kê sát mặt tôi hỏi bộ hôi mùi thuốc lá hả. Tôi làm thinh không nói. Nó thở nhè nhẹ mặt nó áp sát mặt tôi, đôi môi nó áp vào môi tôi. Tôi mím môi lại, nó nhẹ đưa đầu lưỡi liếm môi tôi. Rồi nó đút cái lưỡi của nó vào miệng tôi. Có người đi ngang tôi đẩy nó ra nói thôi đi về đi coi chừng người ta thấy.
Tôi lên giường nằm mà cứ nhớ tới cái mùi hơi thở của thằng Nhiều. Tôi vẫn còn gọi nó là thằng Nhiều, mặc dù lúc gặp nhau hai đứa không còn gọi mày tao nữa. Nhưng chỉ nói trỏng, tôi không xưng em mà nó cũng chẳng xưng anh với tôi.
Mấy bửa sau thằng Nhiều qua kiếm, nó cũng đứng ngoài sân chỗ gốc cây vú sửa ngoắc tôi ra ngoài nói chuyện, tôi hỏi nó kiếm tôi có chuyện gì hông? Nó nói cho nó mượn quyển sách Vạn Vật. Nó hỏi tôi bửa làm bài kiểm toán được mấy điểm. Tôi nói môn toán tôi dở lắm. Nó nói bửa nào nó qua dạy kèm toán cho tôi. Nó kéo tôi sát lại gần kề tai nói nhỏ nhỏ. "Trả công cho thầy nhe". Nó nhẹ đưa môi kề sát môi tôi, tôi bắt chước nó nhẹ đưa lưỡi vô miệng nó. Nó mút lưỡi tôi rồi bàn tay nó nhẹ đưa vào trong áo bóp vú tôi. Nó nói thì thầm "Buổi tối đừng mặc áo xú chen".
Má tôi bước ra nhà sau kêu Nguyệt ơi Nguyệt à! Tôi hoảng hồn đẩy nó ra lẻn vào nhà leo lên giường giả bộ ngủ. Tôi trằn trọc hoài không ngủ được, nhìn ra ngoài cửa sổ ánh sáng trăng mờ mờ mà sao trong lòng rạo rực khó tả.
Cứ vài ba bửa là thằng Nhiều qua kiếm tôi, lúc trời tối, lúc mà ông ngoại bà ngoại lên giường ngủ. Má tôi thì khỏi nói, bà ngủ sớm vì phải dậy sớm ra chợ buôn bán, bà ở ngoài chợ cả ngày tần tảo buôn bán nuôi gia đình. Khi nào tôi thấy bóng thằng Nhiều đứng dưới cây vú sửa thì giả bộ đi ra nhà tắm, nhà tôi cất kiểu ở vườn, nhà bếp và nhà tắm ở phía sau cất rời với phần nhà trên. Hai đứa lén lút không dám nói chuyện nhiều sợ người trong nhà nghe, mà cũng sợ người đi bên đường biết.
Thằng Nhiều đưa bàn tay mò vào trong áo tôi bóp vú, người nó hưng phấn thở dồn dập. Nó nắm tay tôi thọc vào trong quần xà lỏn của nó. Nóng hổi. Bàn tay tôi rin rít nước nhờn, nó nói tôi chùi vào quần của nó. Nó vội bước đi, tôi len lén mở cửa bước vô nhà leo lên giường bàn tay vẫn còn rin rít.
Mùa hè năm 72, mùa hè đỏ lửa, vừa có kết quả thi tú tài thì thằng Nhiều nhập ngũ. Nó ra trường Thủ Đức đơn vị đóng quân đâu ngoài miền Trung. Lâu lâu về phép có ghé nhà tôi thăm bà ngoại, chuẩn uý Nhiều giờ vô nhà ngồi kể chuyện đời lính chớ không còn đứng lấp ló ngoài sân như xưa nữa.
Tháng Tư năm 75 thằng Nhiều kẹt ngoài Trung gia đình không biết tin tức. Mấy năm sau chị Đầm cho tôi biết nó ở Mỹ.
"Giải phóng" vô được mấy tháng thì ông ngoại tôi bị đột quỵ, thời buổi khó khăn thuốc men thiếu thốn, ông ngoại nằm một chỗ cầm cự được sáu tháng thì qua đời. Lúc đó tôi đang học sư phạm bên trường đại học Cần Thơ, lòng buồn bã lo âu trước thời cuộc, ông ngoại lại bịnh nặng, tôi bỏ học về nhà. Má tôi cũng không nói gì. Bà ngoại tôi yếu dần rồi qua đời một năm sau đó. Tôi tập tành theo bạn bè đi buôn hàng chuyến, tôi vô Rạch Giá mua khô, nước mắm về bán bà con lối xóm kiếm lời. Chủ vựa khô có người con trai là sĩ quan cảnh sát đi tù học tập cải tạo mới về. Ông bà mở lời hỏi tôi có muốn về buôn bán khô với ông bà không. Má tôi nghe vậy nói mầy còn chờ gì nữa (mặc dù bà chưa thấy mặt mũi người ta ra sao).
Lấy nhau chưa được một năm thì có chương trình H.O. Lúc đi Mỹ thằng con đầu lòng của tôi mới được sáu tháng. Lúc đi phỏng vấn có gặp ba má thằng Nhiều và chị Đầm, họ cũng đi Mỹ do thằng Nhiều làm giấy tờ bảo lãnh. Từ đó tới giờ chưa gặp lại, nghe nói ba má nó cũng đã qua đời rồi.
Lúc tôi đi Mỹ má tôi vì buồn và cũng vì tuổi già sức yếu nên ở nhả không còn ra chợ bán buôn gì nữa. Tiền bạc dành dụm bấy lâu nay giờ đem ra xài. Lúc bà bệnh nặng hấp hối tôi có về lo việc ma chay chôn cất. Căn nhà và miếng đất ông bà ngoại để lại thì bán rẻ cho một người bà con.
Lúc qua Mỹ vợ chồng tôi làm trong hãng điện tử, tôi đẻ thêm được một đứa con gái ở Mỹ. Hai đứa con giờ lớn có vợ có chồng ra ở riêng. Hai vợ chồng tôi ở trong căn nhà nhỏ mua từ lâu, ông xã tôi mới vừa nghỉ hưu, tôi cũng lấy hưu non nghỉ luôn cho rồi.
Giờ không đi làm, hai vợ chồng thay phiên đưa cháu ngoại cháu nội đi học, đón cháu về coi chừng cho đến khi cha mẹ tụi nó đi làm ra đến đón về. Niềm vui tuổi già chỉ bao nhiêu đó. Lâu lâu bạn bè rủ đi du lịch chỗ này chỗ kia. Buổi sáng ổng ra quán cà phê ngồi bàn chuyện thế sự với mấy ông bạn già. Về nhà thì ngồi bên cái computer đọc báo, có gì hay thì gởi cho bạn bè. Buổi tối lên giường thì ôm cái ipad, ổng ghiền internet như con nít ghiền game.
Hai vợ chồng tôi ngủ riêng, phòng ai nấy ngủ. Mỗi người có một sở thích riêng. Ổng sống với cái thế giới ảo của ổng, tôi thì thích coi phim bộ, lúc trước coi phim Hồng Kông, một thời gian đổi qua phim Đại Hàn giờ thì mê phim Việt Nam.
Thỉnh thoảng tôi cũng có kể cho ông chồng tôi nghe về thời thơ ấu của tôi. Tôi không biết cha mình là ai, mà trong nhà cũng không ai nhắc tới. Má tôi ở vậy nuôi con nuôi ông bà ngoại. Tôi có một người cậu từ lâu sống ở Sài Gòn, sau đó thì qua Úc sống với con cháu, giờ cậu tôi cũng đã qua đời. Tôi kể về mấy người lối xóm, về việc hồi nhỏ thường đi theo bà ngoại qua nhà má thằng Nhiều coi bà ngoại đánh bài tứ sắc. Nhưng tôi không bao giờ nhắc tới thằng Nhiều.
Nghe con Tám bánh ú nói thằng Nhiều giờ mập mà trông già lắm? Tướng thằng Nhiều không mấy gì cao nhưng tay chân nó to lắm. Trông có vẻ mạnh dạn rắn rỏi. Cũng đã hơn bốn mươi năm rồi chưa hề gặp lại. Thỉnh thoảng tôi cũng nhớ nó, không biết khi gặp lại có kêu nó bằng anh? Người tình trong bóng đêm năm xưa của tôi, lúc gặp nhau thì chàng chỉ mặc cái quần xà lỏn còn nàng thì không mặc áo xú chen.
***
Một lần nào cho tôi gặp lại em
Vũ Thành An
Một lần nào cho tôi gặp lại em
Đôi môi đó đêm nao còn nồng
Một lần nào cho tôi gặp lại em
Rồi thiên thu sẽ là nhung nhớ
Giòng đời nào đưa Em đi về đâu
Sao không thấy qua đây một lần
Giòng đời nào đưa em đi về đâu
Những bến bờ xa cũ đã mờ
Ôi mái tóc mây bay
Giờ còn không tiếng nói thơ ngây
Giờ còn không, Em có vui không?
Hai má còn hồng?
Tuổi thơ qua mau quá em ngỡ như ngày nào
Đôi mắt Em như sao soi thấu tâm hồn nhau
Giờ đời Em đã úa, tay cố vui cùng người
Tim cũ vui không Em?
Đôi mắt quầng thâm rồi
Một lần nào cho tôi gặp lại Em
Nghe Em nói Em vui một lần
Một lần nào cho tôi gặp lại Em
Còn chút tình đốt hết một lần...
Subscribe to:
Posts (Atom)