Tuesday, January 8, 2019

TÂM NGỤC




Tam Thanh



Sáng thứ hai sau Thanksgiving, Nguyễn dậy trễ. Cũng do đã quá chén nơi mấy nhà bạn bè, nhân ngày lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ. Và thức khuya nói chuyện đời xa gần. Nhất là phải chiêu chút rượu mạnh cho trôi mấy miếng gà tây, món mà Nguyễn, tuy một năm ăn có một lần, vẫn thấy chưa ưa. Ấy là Nguyễn chỉ xin chút đầu cánh gặm chơi, gọi là có ăn cho vừa lòng chủ nhà, chứ nhìn con gà tây tròn mập với nước da bỏ lò vàng tươi, trông thì đẹp mà Nguyễn chẳng thấy hấp dẫn chút nào. Nguyễn cũng dửng dưng trước đồ nhồi, sà lách...
Từ ngày qua tỵ nạn ở Hoa Kỳ, mười mấy năm nay, ngày thường cũng như cuối tuần, Nguyễn có thói quen thức giấc gần như một cái máy, không cần để chuông báo thức, vào khoảng sáu giờ rưởi sáng, đủ thời gian vệ sinh ban mai trước khi đi làm. Nguyễn không có cái thú ngủ nướng, nếu đêm trước thức khuya, trừ trường hợp uống một viên thuốc ngủ. Cũng uổng.
Vèo một cái qua luôn bốn ngày nghỉ, thứ năm ngày lễ bắt cầu thứ sáu qua cuối tuần. Nguyễn không được nghỉ một lèo bốn ngày liền vì thứ bảy phải đi trực tư ở ngoài, kiếm chác thêm chút đỉnh bù vào tiền lương công chức tiểu bang cho đủ chi phí gia đình một vợ ba con. Ngoài chỉ số hàng năm lạm phát, giá cả mỗi thứ hàng đều tăng giá, con lớn tốn kém thêm cũng như nhiều nhu cầu không tên linh tinh khác... Kể ra thì không bao nhiêu cho vừa. Tuy nhiên, thêm "chút cháo" cũng hơn. Cái nghiệp sẵn có, tiền vào nhà Nguyễn như gió vào nhà trống.
 
Thấy bị trễ, Nguyễn phóng xe ào ào trên xa lộ Mopac đưa tới nhà thương tiểu bang ở Austin. Nguyễn sốt ruột khi những xe ở phía trước như chạy tà tà. Nguyễn đổi đường lách qua lách lại.
Vừa lúc đó Nguyễn nghe tiếng còi xe cảnh sát rú. Nhìn kính chiếu hậu thấy đèn xanh đèn đỏ chớp. Tài thật, Nguyễn vừa nhìn trước nhìn sau không thấy xe police nào mà. Thôi rồi. Lãnh phạt chạy quá 55 dặm một giờ. Lại trễ buổi họp quan trọng sáng nay!
Nguyễn tạt xe vào lề đường, lòng bực bội, khó chịu, bồn chồn. Vừa mất thì giờ, vừa mất tiền. Người cảnh sát với tóc và râu màu hung đỏ râu ngô tiến lại chào Nguyễn rồi đòi coi bằng lái và giấy bảo hiểm xe.
- Ông có biết là ông phóng quá tốc độ không?
- Tôi có việc gấp nên không nhìn đồng hồ.
Theo kinh nghiệm bản thân cũng như của bạn bè truyền lại, gặp anh cảnh sát râu ngô thì coi như lúa đời, phạt đúng, phạt nặng, không bao giờ tha, năn nỉ vô ích. Thà lì cho tiện và nhanh việc.
Người cảnh sát nói tiếp:
- Đường cho chạy có 55 mà ông chạy 70.
- Tôi cần tới nhà thương lẹ.
- Ông có chuyện gì gấp vậy?
- Cần coi một người bệnh.
- Ông là bác sĩ?
- Phải.
- Cho coi giấy nhận diện.
Coi xong, người cảnh sát trao lại giấy tờ cho Nguyễn.
- Ông chạy nhanh rất nguy hiểm. Ông không muốn ông là một trường hợp cấp cứu chứ? Thôi ông đi đi. Lái cẩn thận nhé!
Bây giờ Nguyễn mới dịu nét mặt đăm đăm, cau có xuống, ngạc nhiên khi người cảnh sát thông cảm tha phạt.
- Xin cám ơn ông.
Nguyễn lẩm bẩm: đã tưởng ra ngõ gặp gái!
Rồi Nguyễn nghĩ tới tính tin dị đoan lẩm cẩm của mình. Cũng thần hồn nhát thần tính. Lời các cụ nói có mấy khi sai. Có kiêng có lành. Nguyễn liên tưởng tới hồi đi thi bằng hành nghề liên bang năm nào ở Indianapolis bên Indiana với mấy người bạn: một sáng, Nguyễn cùng nhóm bạn ở lầu khách sạn xuống thang đi thi thì gặp một người đàn bà mặc áo đen đi lên, Nguyễn tự động quay lộn lại, tránh cảnh sớm mai ra ngõ gặp gái sẽ xui. Mấy người bạn cười ầm lên khi vỡ lẽ dị đoan trên. Kỳ đó, trong cả nhóm bốn năm người, Nguyễn là người duy nhất thi đậu.

Bác sĩ Nguyễn là người chót vào phòng hội, suýt soát giờ định. Quanh chiếc bàn dài phủ khăn trắng lố nhố người ngồi. Nguyễn kéo ghế ngồi ở đầu bàn, đảo mắt nhìn mọi người.
- Xin tổng chào quý vị.
Thấy đầy đủ, Nguyễn tiếp:
- Hôm nay là buổi họp đầu tiên giữa gia đình bệnh nhân Đinh Mạnh Hùng và toán điều trị của nhà thương tâm trí tiểu bang ở Austin để đả thông một số vấn đề quan trọng. Bệnh nhân sẽ được mời dự vào lúc chót, sau khi đạt vài quyết định chung. Trước khi bàn thảo, tôi đề nghị theo lượt, mỗi người tự giới thiệu tên và liên hệ với bệnh nhân để dễ liên lạc và xưng hô, tuy một số chúng ta đã biết nhau từ trước. Tôi xin đề nghị bỏ tiếng bệnh nhân và gọi anh Hùng cho tiện và thân mật hơn. Tôi lưu ý quý vị phải giữ hoàn toàn bí mật những gì nói ra buổi hôm nay.
Khởi sự từ tôi trước, tôi là bác sĩ Nguyễn, trưởng khu y khoa.
Và theo thứ tự:
- Bác sĩ Van Dussey, y sĩ tổng quát điều trị trại.
- Bác sĩ George, thần kinh tâm lý.
- Jane, y tá trưởng.
- Bob, nhân viên phòng xã hội.
- Victor, y công.
- Đại Đức Pháp Trí.
- Tôi là Lâm, còn đây là nhà tôi và hai cháu Lan, Cường đều là em của Hùng.
- Tâm, bạn học của Hùng.
- Cháu là Ngọc, hôn thê của Hùng, từ Paris qua.

Nguyễn cất lời:

Phần giới thiệu xong. Trước khi đi vào cuộc thảo luận liên quan tới những đòi hỏi hay nguyện vọng của Hùng, tôi chân thành xin quý vị một phút tĩnh tâm và xử sự tự nhiên, thoải mái, dựa trên tình thương và lẽ phải cứu xét hoàn cảnh. Nếu ai có thắc mắc gì xin thẳng thắn nêu lên để mọi người cùng góp ý kiến đưa tới một lời giải ổn thỏa, trong không khí gia đình. Chắc sẽ có một vài động chạm tự ái nho nhỏ ngoài ý muốn, xin thông cảm và bỏ qua. Chúng ta họp nhau ở đây để tìm một giải pháp giúp đỡ đẹp đẻ chứ không phải để chỉ trích, chê trách, lên án; và tìm một đường hướng xây dựng, dung hoà. Biết rằng ai cũng có yếu điểm và chẳng người nào hoàn toàn cả, nên lấy ý kiến đa số làm quyết định chung cuối cùng.
 Tôi đề nghị bác sĩ George chia xẻ sự giám định thần kinh tâm lý trước, rồi tới Bob trình bày các khía cạnh xã hội của vấn đề, trước khi bàn luận.

Bác sĩ George giở tập hồ sơ ra, hắng giọng:

- Tôi tóm tắt sơ lược lý do nhập viện cũng như tình trạng tinh thần . Anh Đinh Mạnh Hùng, hai mươi tám tuổi, người Mỹ gốc Việt, bị cưỡng bách nhập viện ngày 31 tháng tám năm 89, do lệnh của chánh án quận Travis với chứng xáo trộn thần kinh và mưu toan tự vẫn.

Ông Lâm ngắt ngang:

- Khổ chưa! Cả họ tôi có ai bị điên bao giờ!

Bà Lâm níu lấy tay chồng, mắt long lanh lệ: Mình!

Nguyễn can thiệp:

- Xin ông bình tĩnh cho.

Bác sĩ George tiếp tục:

- Cùng ngày trên, cảnh sát và phân toán phụ trách sức khỏe thần kinh tâm lý tìm thấy anh Hùng ở Zilker Park, lúc chiều tối, khoảng 6 giờ, nằm thơ thẩn bên bụi rậm, mình mang có chiếc quần cụt, có chút máu dây ở đũng. Hùng như người mất hồn, nói chán đời và muốn tự vẫn để tránh mọi khó khăn rắc rối về đời sống cũng như tiền bạc.

Nghe tới đây ông Lâm lắc đầu, nét chán nản hiện rõ trên mặt. Bà Lâm lấy tay che miệng, cúi đầu như dồn nén một nghẹn ngào. Ngọc ngắm mảng trời xám mùa Thu qua cửa sổ, như xa vắng, thẩn thờ. Cường, từ lúc ông Lâm xuất lời than đau đớn, nhìn cha chầm chập như đang tìm hiểu hoặc phân tách một vấn đề quan trọng.

Giọng bác sĩ George đều đều:

- Khi được phỏng vấn, Hùng ở trạng thái tiều tụy, yếu đuối, mệt mỏi, tuy tinh thần còn minh mẫn và nói năng mạch lạc, thỉnh thoảng quên một vài chuyện quá khứ gần đây. Ngoài ra có anh Tâm, người bạn của Hùng, giúp thêm một số chi tiết cần thiết trong việc lập hồ sơ bệnh lý. Và sau cùng, ông bà Lâm liên lạc qua điện thoại, kể những nét chính cuộc đời của Hùng.
Gia đình ông bà Lâm, với Hùng là con trai cả và hai người em Loan và Cường qua Mỹ tị nạn năm 1981 ở Chicago, Illinois, do cơ quan International Rescue Committee bảo trợ. Lúc đó Hùng hai mươi tuổi. Hùng rất có khiếu về vĩ cầm, nên hơn một năm sau xa gia đình xuống Austin, Texas, vì được cấp học bỗng về nhạc ở đại học, ngoài ý muốn của thân phụ, ông Lâm, muốn con học kỹ sư theo nghề ông. Sự liên lạc giữa Hùng và cha đổ vỡ, vô phương hàn gắn, vả hai người hết nhìn nhau từ năm 1983. Hùng vừa đi học vừa kiếm việc đủ loại để làm, trong đó có dạy nhạc, rửa chén nhà hàng, làm ở chợ, tuỳ phái... để sống tự lập, tự do, không có sự giúp đỡ của gia đình.

Bà Lâm giơ tay xin nói, sau khi nhìn chồng đang bậm môi:

- Cho tôi nói lại cho đúng: nhà tôi giận cháu ngỗ nghịch không nghe lời nên cấm cả nhà không ai được đề cập tới Hùng trước mặt ông. Tôi có lén nhà tôi giúp cháu Hùng ít tài chánh vì học bỗng không đủ sống, nhưng cháu tự ái nhiều lần không nhận.

Ông Lâm trợn trừng nhìn vợ như muốn trách móc, giận hờn. Bà Lâm nói xong cúi mặt, tránh mắt chồng. Không khí phòng hội yên lặng, lâu lâu vẳng từ ngoài tiếng la hét, tru tréo của một bệnh nhân lên cơn điên. Loan lắng tai nghe, mặt có phần sợ hãi.
 
Bác sĩ George tiếp:

- Hùng, vốn là một thanh niên thông minh, có tài, lại rất xuất sắc về môn vĩ cầm, nên được nhiều phần thưởng cũng như giấy tưởng lục, và đậu bằng cử nhân về nhạc với lời khen danh dự của ban giám khảo. Và Hùng được ban giám đốc khuyến khích học tiếp bằng tiến sĩ, nếu qua một kỳ thi tuyển đặc biệt. Hùng tự ái không chịu thi, viện cớ với tài của anh, anh dư sức học được, gây mâu thuẩn với nhà trường. Từ đó tính tình Hùng thay đổi, biếng làm, nhác ăn, và như anh Tâm kể lại, mỗi lần tới thăm đều thấy Hùng nằm dài, hút thuốc lá nhìn lên trần. Bạn bè ai  mang lại cho gì thì ăn đó, chứ không tự nấu nướng hay ra ngoài ăn như khi trước. Tới khi Hùng bị kiệt sức, bạn bè tới mang đi coi bác sĩ, và qua các thử nghiệm mới hay Hùng bị tụ chứng giảm đề kháng (bệnh "ếch")...

Bà Lâm nhìn Ngọc xót xa.
Ngọc nhẹ nhàng đứng lên xin phép ra ngoài.
Bác sĩ Nguyễn gật đầu rồi yêu cầu bác sĩ George tiếp.

Lúc đầu Hùng khăn khăn từ chối, không chấp nhận và không tin vào thử nghiệm, tuy đã làm lại mấy lần. Hùng bắt đầu đọc các tài liệu y khoa về "ếch", rồi theo cách ăn uống đặc biệt do anh tìm kiếm ra, gồm đa số các loại rau và ngũ cốc. Sức khỏe cũng không khả quan hơn. Hùng qua Paris gặp Ngọc, cô bạn gái láng giềng quen từ Việt Nam và tỵ nạn ở Pháp gần thời gian Hùng cùng gia đình qua Mỹ. Cả thảy ba lần, mỗi lần mấy tháng kiếm phương cách điều trị với các thuốc lá, rễ cây, nhưng chẳng mang lại kết quả mong muốn.
Khi trở lại Austin, Hùng mới thực thụ nhận có đồng tính luyến ái, và gia tăng cường độ sinh lý ngoài sức tưởng tượng, nhất là lúc bất mãn với nhà trường, cùng dứt khoát liên lạc sinh lý với người bạn chỉ dẫn nhạc. Tuy vậy, Hùng cũng chưa chịu chữa, nại cớ còn một vài tháng, anh sẽ được hưởng an sinh xã hội, lúc đó dùng thuốc cũng chưa muộn. Hùng ở trong tình trạng sức khỏe cũng như tiền bạc bết bát, nợ đìa. Anh nói chỉ còn hai đường, một là quay về với gia đình, chuyện mà anh dứt khoát không muốn trong hoàn cảnh bệ rạc hiện tại, nhất là không muốn đối đầu với cha, tuy mẹ và các em khuyến khích, năn nỉ. Hai là chấm dứt cuộc sống, tránh cảnh nợ nần đói rách bệnh tật...

Ông Lâm thở hắt ra: "thà vậy!"

Loan bật khóc rồi bụm miệng lại ngay. Ông Lâm mắt long lên nhìn con gái, bờ vai đang rung động. Cường choàng tay qua ôm chị, mắt chiếu thẳng mắt bố, bà Lâm cầm tay con gái vỗ vỗ.

Nguyễn cất giọng ôn tồn:

Chúng tôi thông hiểu những cảm xúc riêng tư. Vấn đề rất tế nhị nên mới thỉnh quí vị lại để có quyết định hợp tình, hợp lý.

Bác sĩ George tiếp lời.

Tuy nhiên Hùng cũng chưa có ý rõ ràng nào về cách tự hủy diệt cả, còn đương do dự hoặc tự thiêu ở phòng trọ sau khi uống thuốc ngủ, hay dùng quá liều thuốc thần kinh, hoặc nhảy lầu hay trôi sông... còn trong tình trạng hoang mang đó thì Hùng được nhập viện. Từ ba tháng nay, cả thuốc thần kinh lẫn những buổi điều trị tâm lý giúp Hùng tỉnh trí lại, dứt khoát vấn đề mưu toan tự vẫn. Nhưng tình trạng sức khỏe tổng quát không khả quan là bao nhiêu. Bác sĩ Dussey có thẩm quyền hơn tôi về vấn đề này.

Bác sĩ Van Dussey gật đầu.
 
Đúng như lời bác sĩ George nói, Hùng không mạnh nhiều nhưng có phần khá hơn, so với ngày mới nhập viện chỉ còn đã bọc xương, hậu môn lở loét sau khi bị kẻ lạ mặt cưỡng bức ở vườn Zilker Park. Ngoài việc nuôi qua ống, lâu lâu Hùng ăn được đồ lỏng, nếu nhân viên điều dưỡng kiên nhẫn, dịu dàng và chịu khó năn nỉ. Hùng phải có người xốc nách mới đi được. Ngồi ghế phải cột, không thì té. Ngoài việc nằm nệm nước và chuyển thế luôn luôn, chúng tôi ép ngồi và đi để cho máu lưu thông, và tránh lở lói ở lưng và vùng dưới. Thuốc AZT đã được khởi sự, ngăn phần nào tiến triển của bệnh "ết".

Ông Lâm hất hàm hỏi:

- Theo kinh nghiệm và giám định, bác sĩ thấy Hùng còn sống được bao lâu?

- Thật khó trả lời câu hỏi của ông, còn tuỳ phản ứng cơ thể của Hùng với thuốc,  tuy tâm thần, lý trí quyết muốn sống và chống lại bệnh, với sự khuyến khích cùng trợ giúp tình cảm của gia đình cũng như nhân viên điều dưỡng. Tuy nhiên, ông đã hỏi, tôi cũng xin trả lời thành thật, với hiện trạng của Hùng so với tài liệu thống kê, với mọi dè đặt có trường hợp ngoại lệ, thời gian còn sống rộng ra khoảng sáu, bảy tháng, nếu không có thuốc mới hữu hiệu hơn từ đây tới đó... Xin ông và gia đình hiểu cho đó là một vỏ đoán mà thôi.

Mặt ông Lâm đanh lại, như khó chịu thấy cảm xúc của vợ con ủy mị, yếu hèn bộc lộ trước công chúng. Bà Lâm không buồn chùi để nước mắt chảy xuống lòng. Ngọc trở lại chỗ ngồi và nghe được câu chót của bác sĩ Van Dussey lại ôm mặt chạy ra ngoài.
Bác sĩ Nguyễn không muốn kéo dài buổi hội và tự thâm tâm, tuy ác cảm nhưng lại có ý nể phần nào sự cứng rắn, đôi khi tới nhẫn tâm của ông Lâm, người mà Nguyễn nghĩ sống với nguyên tắc nhất định và có khuynh hướng cương nghị, độc tài. Nguyễn thấy ông Lâm rõ ràng tự cô lập, một mình đối với cả phe vợ con, chẳng muốn nhìn lại người con đầu lòng không nghe lời ông mà đi lầm đường lạc hướng, và không tha thứ sự bất phục tòng. Nguyễn lắc đầu như muốn tỉnh lại, ngạc nhiên trước phản ứng cá nhân với ông Lâm thay vì phải giữ vô tư. Chẳng qua Nguyễn muốn đặt mình vào trường hợp ông Lâm, vớ những sự kiện đã biết, để xem phản ứng ra sao trước hoàn cảnh thương tâm khó khăn này. Chắc chẳng một người Việt tị nạn nào ở xứ Mỹ này muốn ở trường hợp ông Lâm. Nuôi con vất vả cực nhọc, dạy dỗ công phu kỹ lưỡng, rồi phiêu lưu nguy hiểm, liều lĩnh để đến bến bờ tự do, những mong con thành người nơi xứ lạ, ai ngờ con dại dột bỏ nhà ra sống riêng để được tự do, thoải mái sống theo bản tính, đưa tới hoàn cảnh bệ rạc nhớp nhơ, hiện tại gần kề cái chết... tan vỡ cả kỳ vọng bao lâu ấp ủ nơi người cha tin tưởng vào tương lai rực rỡ của người con đầu lòng vốn sẵn thông minh, học giỏi.

Vừa lúc đó có tiếng loa gọi bác sĩ Nguyễn. Y tá Jane đưa mắt bảo y công Victor ra trả lời dùm, Nguyễn dặn với:
- Nếu khẩn cấp để tôi trả lời, bằng không lấy số điện thoại, tôi sẽ gọi lại.
- Được.
Lát sau Victor trở lại đưa cho Nguyễn mẫu giấy nhỏ ghi tên người gọi và số điện thoại, đồng thời ghé tai nói:
- Bác sĩ, tôi thấy cô Ngọc thầm thì chuyện trò với Hùng.
Nguyễn gật đầu:
- Cám ơn Victor, Bob, tới lượt ông trình bày.

Vâng. Anh Hùng những lúc tỉnh táo, và có người chứng, đưa ra hai nguyện vọng, một là xin làm đám cưới với cô Ngọc...

Gia đình bên Hùng nhỏ to xầm xì. Bà Lâm ngơ ngác gần như hoảng hốt. Loan con mắt còn đỏ hoe ngẫng lên ngỡ ngàng. Cường nhíu mày. Miệng ông Lâm thoáng một nụ cười khó hiểu, mép xệ xuống, mắt nhắm nghiền trong giây lát.

Đại Đức Pháp Trí lên tiếng:

Cho tôi xin đỡ lời ông Bob. Bác sĩ Nguyễn có mời tôi tham khảo ý kiến vì anh Hùng là Phật tử, ở tuổi trưởng thành, theo pháp lý có quyền lấy vợ, nếu người hôn phối đồng ý. Tôi có hầu chuyện với anh Hùng và tiếp xúc qua điện thoại với cô Ngọc.

Nguyễn ghé tai Jane nhờ mời Ngọc trở lại phòng họp.
Khi Ngọc ngồi yên vị, Đại Đức Pháp Trí hướng về phía người con gái.

- Chúng tôi đang nói chuyện cô và anh Hùng ngõ ý muốn làm đám cưới theo phương thức Phật giáo trước và luật pháp sau.

- Bạch thầy vâng.

- Cô vẫn còn giữ ý định đó?

- Anh Hùng và con quyết thực hiện lời thề trước khi chúng con chia tay rời xứ đi tỵ nạn, dưới bất cứ hình thức nào, dù là ràng buộc tâm linh, thần giao, tình ái...

Ông Lâm lắc đầu ngán ngẫm trước quyết định phi nhân, phi lý của Ngọc và người con trai ông.

- Hết chỗ nói!

Ngọc nén cảm xúc, thở dồn dập.

- Trời, Phật... thương anh Hùng... để anh sống, thì chúng con đạt được ước mơ bấy lâu ấp ủ, nhưng... nếu chẳng may anh vắn số, chúng con cũng chẳng ân hận là đã không giữ lời thề sắt son.

Đại Đức Pháp Trí gật đầu.

- Bổn hạ có thỉnh ý bề trên và được chỉ thị làm phép cưới nếu anh Hùng còn minh mẫn và hiểu những diễn tiến linh thiêng của buổi lễ. Bằng ngược lại, nếu anh Hùng ở trạng thái hôn mê hoặc bối rối, không mạch lạc thì phải hoãn lễ cho tới khi khả quan hơn.

- Cám ơn bạch thầy.

Ông Lâm xua tay:

- Tôi không đồng ý nhẫn tâm để một người con gái trẻ đẹp, khỏe mạnh như cháu Ngọc đây làm lễ cưới với một người con trai bệnh tật đang hấp hối! Để làm gì? Muốn trở thành một goá phụ chỉ vì một lời thề non hẹn biển viễn vông.

Bob dẫn giải:

- Xin ông bình tĩnh. Luật xứ này cho phép, khi người đàn ông và người đàn bà ở tuổi trưởng thành thuận nhau, được lấy nhau. Không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.

- Mặc dù biết là thằng Hùng bị bệnh?

- Nếu cô Ngọc biết rõ và chấp nhận.

- Tại sao con làm chuyện rồ dại vậy Ngọc? Tự do kỳ quặc. Khỏi phải hỏi tôi vô ích, tôi không đồng ý.

Ngọc lặng thinh cúi đầu. Ông Lâm ngữa mặt lên, hai tay dang ra bất lực. Bà Lâm cắn chặc môi dưới. Loan hai tay ôm má suy tư. Cường nhìn bố đăm chiêu.
Ông Lâm lắc đầu.

- Cái điên của tuổi trẻ phóng túng!

Y tá Mary vào nói nhỏ với bác sĩ Van Dussey có bệnh nặng. Bác sĩ đứng lên quày quả đi ngay, nói với lại:

- Bác sĩ Nguyễn, tôi trở lại liền.

- Vâng.

Bob trình bày tiếp:

- Và nguyện vọng thứ hai của Hùng là khi trở nặng, xin để tự nhiên đi, không muốn được cứu cấp, đặt máy thở hoặc dùng các phương tiện máy móc tối tân khác. Sau khi chết xin được hỏa thiêu và tro rắc xuống biển.

Bà Lâm lấy hai tay bịt tai, nước mắt trào ra dàn dụa.
Cả phòng im lặng. Có tiếng nấc hít mũi của Loan.
Y tá Jane nhìn bà Lâm như muốn chia xẻ nỗi thống khổ của người mẹ, đau đớn thầm lặng nghe người ta bàn cãi về cái chết dần mòn của người con mình. Mắt Jane long lanh ướt.
Ông Lâm nhìn mặt bàn, mắt không chớp, như bị thôi miên hay huyền hoặc bởi màu trắng của tấm vải phủ.
Bác sĩ Van Dussey trở lại chỗ ngồi.
Nguyễn lên tiếng, giọng trầm trầm:

- Kính thưa quý vị, vấn đề của Hùng đã được trình bày rõ ràng; Hùng xin được cưới cô Ngọc, và được chết bình thản. Chúng tôi xin được biết ý kiến của thân nhân, sau khi Hùng được mời vào phòng hội, trước mặt gia đình và ban điều dưỡng, để nói lên nguyện ước chân chính của mình.

Jane hất đầu và Victor đứng lên ra ngoài.
Mọi người, từ nhân viên điều dưỡng tới gia đình thân nhân của Hùng đều giữ im lặng, trong xao xuyến, lo âu, u buồn.
Victor đẩy xe lăn tay trên có Hùng, kèm theo cái cột treo lủng lẳng túi đồ ăn lỏng osmolite chảy qua ống thông mũi vào bao tử. Hùng dựa lưng vào ghế, mặt mày tuy gầy ốm nhưng sáng sủa, tươi tắn hẳn hơn mọi ngày, tóc chải gọn gàng. Người Hùng lép dưới bộ quần áo rộng, sau khuôn vải chặn trước ngực cho khỏi té.
Hùng nhìn mẹ trìu mến, tràn ngập yêu thương. Cường ra đẩy xe lăn tay của anh lại gần mẹ. Hùng giơ tay nắm lấy tay mẹ. Bà Lâm gục mặt vào tay con, hai vai rung lên nghẹn ngào. Loan đứng lên ôm đỡ mẹ, nước mắt chảy ròng ròng. Ngọc kéo  ghế ngồi sát Hùng.
Ông Lâm đứng gần cửa sổ lúc nào không ai hay, mắt nhìn khoảng trời xám đục, hai tay khoanh trước ngực.

Không khí căn phòng hội trở nên nặng nề, ngột ngạt như khó thở, căng thẳng trước lựa chọn giữa sống và chết, tình thương và giận thù, yêu đương và hy sinh, thông cảm và chống cản, tự ái và bất cần, bao bọc và lạnh lùng...
Hùng thoáng nhìn bố, mặt bỗng sa sầm, toan quay xe đi, nhưng ngưng kịp khi thấy mẹ và các em đang quây quần thân mật, yêu đương, ấm cúng.
Bác sĩ Nguyễn để phút hồi hộp mừng tủi ban đầu của Hùng và gia đình giảm dịu rồi mới nói:

- Anh Hùng, buổi họp mặt giữa gia đình anh và ban điều dưỡng được tổ chức như chúng tôi đã hứa với anh. Chúng tôi đã trao đổi tin tức cũng như quan điểm liên quan tới những nguyện ước của anh. Đây là dịp để anh bày tỏ những ý muốn của anh cho mọi người biết, hầu theo khả năng và thiện chí của mọi người cố gắng giúp đỡ anh trong tình thương, hiểu biết và thông cảm.

Giọng Hùng run run yếu ớt vừa xúc động vừa hồi hộp. Cường ngồi gần anh nhắc to lại cho mọi người nghe.

Tôi xin chân thành cám ơn Đại Đức Pháp Trí, quí vị bác sĩ và ban điều dưỡng đã giúp đỡ cho buổi gia đình hội ngộ quý báu này trong lúc tôi còn sống và minh mẫn. Ngoài cả sự mong muốn của tôi. Quí vị hãy nhận nơi đây lòng tri ân thiết tha về tình người cao đẹp vô vàn của quí vị...

Sau khi nói một hơi dài, Hùng nghỉ mệt đôi chút rồi hướng về gia đình.

Mẹ, con không biết nói gì hơn là cám ơn mẹ, lúc nào cũng lo lắng và chăm sóc cho con, dù con ở gần hay xa. Con chắc đã làm mẹ buồn khổ nhiều... Lòng mẹ bao la, con xin mẹ đã thương con thì thương cho trót, và chấp nhận những gì con đã làm như một cái nghiệp, chẳng lỗi tại ai. Kiếp này con không trả hiếu được, kiếp tới, nếu con còn phước được đầu thai làm người, con nguyện sẽ đền đáp công dưỡng dục quí báu của mẹ...

Bà Lâm rũ người thảm não:

Con ơi! Hùng ơi!
 
Trong lúc Hùng ngõ lời gần như trối trăn với mẹ, hai em và người yêu Ngọc, bác sĩ Nguyễn quan sát ông Lâm, đang đứng bên cửa sổ, quay lưng lại bàn hội, nhìn ra ngoài trời, lâu lâu hít không khí đầy ngực, như đang trong trạng thái rối rắm tinh thần và cố tự chủ. Nguyễn thấy ông cũng lắng nghe những lời Hùng nói qua Cường nhắc lại. Hai tay ông khoanh trước ngực, thỉnh thoảng lại nhón chân lên.
Hùng thấy ông, và theo như Nguyễn biết thì ông chưa muốn nhìn người con trai đầu lòng đã từng không theo ý ông học ngành khoa học mà lại đi học nhạc, một nghề mà ông coi là "xướng ca vô loại", như Nguyễn đã từng nghe ông nói hơn một lần qua tiếp xúc điện thoại, hoặc đúng hơn không phải một nghề kiếm sống, người con đã làm ông thất vọng cay đắng... Sự hiện diện của ông Lâm trong buổi hội ngày hôm nay là một bước tiến khá xa trong sự hàn gắn tình phụ tử với nhiều cố gắng thuyết phục và giải bày tâm tình, giữa sự đồng ý hoàn toàn của bà Lâm và bác sĩ Nguyễn. Nhưng công đầu chắc phải kể bà Lâm và hai người con. Ông Lâm đã nhượng bộ nhưng cũng còn cố gắng không nhìn mặt Hùng. Tình cha con chưa lấn át được sự căm giận người con, chẳng những đã không học nghề kỹ sư như ông định muốn và đòi hỏi, mà còn đi vào con đường đồng tính luyến ái đưa tới thảm trạng hiện tại.
Đối với ông, Hùng đã gây cho gia đình nhục nhã vậy chưa đủ, còn đòi cưới Ngọc trong tình trạng dở sống dở chết này, vì một lý do không tưởng nữa. Vì ông đã kỳ vọng rất nhiều ở Hùng, một người con vừa ngoan, thông minh, xuất sắc trong việc học hành, cho tới ngày ông và gia đình đặt chân lên nước Mỹ. Và chỉ thời gian ngắn ở phong thổ lạ này, với nền giáo dục tự do, dân chủ dựa trên quyền lợi cá nhân tối đa, Hùng đã giải phóng và vượt tầm kiểm soát của ông. Ông bất lực và căm phẫn. Hùng là giá quá mắc ông phải trả cho tự do. Rồi ông cũng lần ý thức được định nghĩa tối hậu của tự do, điều mà ông chưa nhập tâm được khi còn ở bên xứ, với hệ thống giáo dục thoát thân từ Khổng, Mạnh, trong một xã hội với những tiêu chuẩn luân lý gia đình ngàn năm không thay đổi, và gần đây mới chậm chạp chuyển mình theo đà văn minh vật chất.

Bà Lâm có nói với bác sĩ Nguyễn là cả chồng lẫn con trai cùng có tính lì lợm, đã làm việc gì là quyết tâm thực hiện bằng được. Sự xung khắc giữa hai cha con tiềm tàng từ lâu và bùng xuất phát ở môi trường thuận tiện nơi xứ Mỹ này. Ông Lâm trưởng thành ở một xã hội, gia đình có trật tự ổn định với thói quen dồn nén những đòi hỏi cá nhân bên lề; nhưng Hùng ở một thế hệ khác, cởi mở hơn, thành thật hơn với khuynh hướng phát triển nhu cầu tìm hiểu nội tại chân chính và thực hiện nảy nở những cần thiết tâm linh cũng như vật chất cá nhân. Cả cha lẫn con, người nào cũng có lý của người đó, nhưng chưa dung hoà, hội nhập được quan điểm, thế xử sự nên đi tới tan vỡ ý thức gia đình. Chấp thức cá nhân hiện tại là căn bản phát triển năng lực con người đối với Hùng, nhưng lại là một sa đọa tinh thần cũng như thực tế, dựa trên sự phá sản xã hội mà nền tảng là gia đình, và ích kỷ, tập trung mọi quyền lợi vào cá nhân, không lý gì tới gia đình với đời sống chung lành mạnh, xây dựng đối với ông Lâm.

Và ông Lâm quyết định không có người con, Hùng, trong đời sống nữa. Cả gia đình cùng đau khổ về thảm trạng nghiệt ngã này.

Tiếng Cường bỗng lên giọng, nhắc lại lời Hùng, kéo bác sĩ Nguyễn ra khỏi những suy tư và quan sát ông Lâm.

Thưa bố, con thành thật xin lỗi bố, lời chót của con trước khi lìa đời, vì con tự biết không còn sống được bao lâu. Con cám ơn bố về sự hiện diện ngày hôm nay cho con được thấy bố trước khi nhắm mắt vĩnh viễn, người mà con luôn kính trọng và thương yêu. Con xin lỗi bố không phải về những gì con đã làm không phù hợp với ý muốn của bố. Con là Hùng, đã trưởng thành và chịu trách nhiệm hoàn toàn cho đời con, nên hay không nên là vấn đề may rủi khác, vì con ý thức những hành vì và thái độ của con theo như ý con muốn. Ý nhạc và khuynh hướng đồng tính luyến ái là sở thích tiềm tàng nơi con và đáp ứng nhu cầu cá nhân của con, không liên quan tới ai ngoài con. Con mong bố hiểu con và nhận lời xin lỗi trang trọng của con, không phải vì chuyện con đã đích thân gây nên, mà vì con không thực hiện được, ngoài ý muốn, những ước vọng bố đặt nơi con.

Nói xong, Hùng cúi mặt xuống thở dốc, mệt mỏi khi tập trung can đảm, hy sinh, nhẫn nhục và lòng thương, phát biểu những khúc mắc tâm tình bao lâu mòn mỏi chia cách cha con.
Bà Lâm lại níu tay chồng thầm thì:

- Mình! Nghĩa tử là nghĩa tận.

Cả gia đình cũng như nhân viên nhà thương nhìn dồn về ông Lâm, chờ ông tỏ thái độ. Im lặng. Thời gian như dài kinh khủng.
Ông Lâm bỗng quay lại, mắt ngấn lệ, nhìn Hùng cúi đầu thiểu não. Bà Lâm kéo chồng lại gần xe lăn tay. Ông Lâm đặt tay lên vai Hùng, nghẹn ngào.

Hùng con!

Bác sĩ Nguyễn đưa mắt nhìn các đồng nghiệp cũng như nhân viên điều dưỡng âm thầm rút khỏi phòng hội, để cho gia đình ông Lâm hàn huyên đoàn tụ.
Y công Victor, trước khi rời phòng, bấm nút máy hát theo như lời yêu cầu từ trước của Hùng. Nhạc bản Biệt Ly vang lên với tiếng vĩ cầm rên rỉ, thiết tha, réo rắt, ray rứt, sầu thảm bao la, thu hút hồn người nghe, bài nhạc mà Hùng đã trút hồn dồn hết tâm tư và tài nghệ tuyệt hảo để tặng Ngọc, người yêu muôn đời.


Tam Thanh



----------
Nguồn: VĂN, số 93, tháng 3/1990
























Wednesday, January 2, 2019

HẸN MÙA LÚA CHÍN



Huyền Châu



Tôi đọc xong tờ báo, lòng vui phơi phới kêu Sử:
-Sử ơi! Em có rảnh không? Làm ơn đưa chị vô Chợ Lớn được không?
Sử, cậu học sinh ăn cơm tháng nhà tôi từ một năm nay, đang đọc sách nghe tôi kêu, hỏi:
- Đi Chợ Lớn mua gì vậy chị Hai?
- Chị đâu có mua thứ gì đâu cưng, chị đi xin việc làm. Thấy họ đăng báo cần hai mươi cô tiếp rượu cho vũ trường "Đại Thế Giới", sẵn lúc này kẹt quá, hơn nữa làm về đêm rất tiện, chị định vô đó hỏi, nếu điều kiện dễ dàng chị xin làm kiếm tiền trả tiền nhà.
   
Chiếc xe đạp quá cũ lại bị dây sên lỏng, chạy một chút là tuột phải dừng lại sửa. Sài Gòn Chợ Lớn chỉ có sáu cây số, mà bị sợi dây sên ác ôn, mãi đến hơn hai tiếng đồng hồ mới đến.
Vừa tới bước vào căn phòng ngồi chờ ông cai đến. Căn phòng trang hoàng sang trọng, một bộ salon đắt tiền, một bàn bureau và một cái tủ lớn có nhiều ngăn, mấy cô lại đó để cái sắc tay, họ phục sức sang trọng, nụ cười trên môi tươi như hoa, đeo kim cương óng ánh, son phấn nước hoa phảng phất thơm ngào ngạt.
Ông cai vừa đến, người bồi nói cho tôi:
- Kìa "tài ban" đến kìa.
Tôi cũng chẳng biết hỏi sao thì ông hỏi tôi:
- Cô bao nhiêu tuổi?
- Thưa hai mươi ba.
- Cô biết nói được tiếng Anh, Pháp, Tàu không?
- Dạ thưa ba thứ tiếng đó tôi nói được chớ không hay lắm.
- Được, tốt lắm.
Ông nhìn tôi hồi lâu rồi bảo:
- Đêm mai thứ bảy cô mặc áo cho đẹp nhé, và trang điểm cho đậm, tóc chải giống như mấy cô kia nghe.
- Thưa ông lương mỗi tháng cho bao nhiêu?
Ông gấp đi nhưng cũng rán trả lời nhanh:
- Không có lương tháng, chỉ chia sáu tư thôi.
     
Tôi bước ra khỏi căn phòng, nhìn đám người bước vào cửa, mặt nào cũng vui cười, những chiếc xe hơi bóng loáng, họ đi từng cặp, khi bước xuống xe có người mở cửa. Rồi nhìn mình quá quê mùa với chiếc áo bà ba màu lam, quần đen bạc màu.
Sử đứng chờ tôi bên cạnh cây bông sứ gần đó, kêu tôi:
- Chị Hai lại đây em chờ chị ở đây, người ta có nhận cho chị làm không hở chị?
Tôi cười mừng vui:
- Họ nhận chị làm bắt đầu đêm mai. Nhưng họ không có trả lương tháng mà chia 6-4 là sao không biết nữa.
Sử mừng, lẹ làng giải thích:
- Vậy dễ hơn chớ chị. Chắc là tiền buộc boa nhiều, mình ráng bưng rượu chạy lẹ, khách vui lòng thì tiền chia nhiều, mình được sáu, còn chạy chậm thì lấy phần tư.
- Chị hơi thắc mắc, tiếp rượu chạy bàn sao ông cai kêu chị mặc áo dài, phấn son, chải tóc cho đẹp giống như các chị vũ nữ trong đó.
- Ừa! Thì có sao, nơi sang trọng phải diện cho đúng, các chị kia sao mình vậy.
- Chị đồng ý em điểm đó, ngặt chị có ba cái áo dài đã cũ, có cái lại phải màu, nếu họ bắt mặc thay đổi mỗi đêm lấy áo đâu mà mặc.
Sử làm tàng đề nghị rằng:
- Dễ mà chị, chị mặc hết ba cái áo đó, rồi hôm sau chị mua thuốc nhuộm, nhuộm hết ba cái ba màu, thành được nhiều áo, chừng lãnh tiền chia, có khá, chị mua hàng may thêm mấy cái nữa.
- Còn nỗi đi làm về khuya, xe đâu về? Đã có tiền đâu mà thuê xe xích lô tháng? Xa sáu cây số, mắc tiền lắm chớ ít sao em.
- Lo gì chị Hai! Chị Hai cho em tiền em mua sợi sên mới, em ráp vô chở chị chạy ngon lành, đưa vô rước về mỗi đêm, chờ có tiền tính sau.
Tôi cảm động lòng tốt chơn thành của Sử. Sử họ Nguyễn, tên Sử, người tỉnh Tân Hương, ở cùng người chị, lên ở nhà tôi ăn cơm tháng. Mấy tháng nay Sử đã xin được việc làm, hãng cao su trên đường Mạc Má Hồng. Ba của tôi thương Sử như con, vì tánh tình hiền, rất hiếu thảo.
   
Vũ trường Đại Thế Giới, từ đại lộ Đồng Khánh thẳng vào, chiếm một khoảng đất to mấy ngàn thước vuông, chung quanh xây tường, bên trong rộng lớn với ban nhạc Santos, "Phi Luật Tân". Mười người thường trực mặc áo đỏ quần đen. Khách sành điệu đủ các giới các hạng đến chơi rất thích ban nhạc này. Không có ban nhạc nào sánh kịp.
Lại thêm sàn nhảy rộng, như lò so, khi nhảy nhún lên nhún xuống nhẹ nhàng, ván được chùi bóng loáng. Phụ thêm bên mé ngoài có một sàn nhảy ngoài trời, chung quanh cây lá treo đủ đèn màu chớp tắt mờ ảo. Nhứt là những đêm có trăng gió mát, đèn chớp khi mờ khi tỏ, làm cho khách sành điệu họ cặp nhau lả lướt trên sàn nhảy bản sì lô mùi tận mạng.
Hàng ghế dài mé bên trong gần hai mươi ghế. Tài bán đưa tôi lại ngồi gần mấy chị. Nhìn mấy chị mặc áo sang trọng, mặt mày phấn son văn minh quá. Nhìn lại tôi quá quê mùa, ăn mặc nghèo nàn, quần trắng đã phai màu mặc cao lòi mắt cá, đôi giày cũ mèm đầu chải chẳng giống ai.
Khi các chị cặp nhau ra sàn nhảy biểu diễn lả lướt dịu dàng, tôi nhìn họ thấy mà mê. Rồi lần lượt tài bán đưa các chị lại ngồi bàn với khách.
Tôi bắt đầu hồi hộp, tim đập mạnh, nói một mình: "Chết mồ, cái điệu này là làm vũ nữ, chớ tiếp rượu gì đâu mà chẳng thấy kêu bưng rượu".
Một chập lâu tài bán đưa tôi lại bàn có bốn ông khách Việt, ba ông chừng lối trên ba mươi tuổi, một ông trẻ hơn. Tôi lại ngồi bên cạnh ông trẻ. Tôi ngồi xuống ghế miễn cưỡng lo sợ lung tung. Bồi hỏi:
- Cô uống gì?
Tôi lắc đầu, thấy trên bàn mấy chị mỗi người một chai. Tôi sợ uống rủi mắc quá tiền đâu trả.
Thanh niên trẻ kêu:
- Bồi, đem cho cô một chai nước ngọt.
Chiếc đèn tròn to đủ màu được treo trên cao, ngay sàn nhảy, quay đủ màu mờ ảo làm cho tôi không quen muốn chóng mặt.
Người thanh niên trẻ có gương mặt phúc hậu, vừng trán vuông cao và rộng, mặt trái soan, tướng người cao ráo, nói năng vui vẻ dịu dàng. Người gợi chuyện:
- Cô tên chi? Mới vô làm hôm nay?
- Dạ tôi tên Sương, mới bắt đầu bữa nay.
- Lúc trước cô có đi làm ở vũ trường nào không?
- Dạ từ trước tới giờ tôi chưa hề đi làm ở vũ trường nào hết.
Ông nhìn tôi cười:
- Như vậy chắc là cô chỉ đi nhảy chơi với bè bạn, chứ chưa từng làm vũ nữ chớ gì?
- Dạ đâu có đi chơi với bạn bè nào đâu, mà cũng đâu có biết nhảy nhót gì ráo.
Ông ngạc nhiên:
- Ủa, không biết nhảy sao cô lại xin vô đây làm vũ nữ? Khi nãy tôi nhìn thấy cô biết cô là đào mới. Tài bán cũng giới thiệu cô cho tôi. Ở đây họ lựa đào kỹ lắm, ở đây từ rượu uống cho đến tích kê cũng cao giá hơn mọi nơi. Vì vũ nữ ở đây phải đẹp, phải biết nhiều thứ tiếng, biết xã giao với khách hàng vui vẻ lễ độ, phải nhảy giỏi. Mà sao lúc tài bán nhận cô làm không nói cho cô biết?
Tôi nói tỉnh queo:
- Dạ tôi đâu có biết. Tôi đọc nhựt trình thấy ở đây cần hai mươi cô tiếp rượu, biết được  ba thứ tiếng Anh, Pháp, Tàu. Tôi tưởng là vô đây chỉ bưng rượu cho khách hay làm bồi, nếu biết làm vũ nữ tôi đâu có dám vô. Khi vào xin việc, ông ta nhìn tôi, rồi kêu mai cô vô làm mặc đồ cho đẹp, chỉ có vậy thôi.
Ông khách sợ tôi thẹn, ông thân mật nói thêm:
- À có lẽ hồi đó cô chỉ đi nhảy với người nhà ở mấy cái hội hè sinh nhựt vậy thôi. Tôi nghĩ như vậy. Tôi nhìn cô, thấy cô văn minh tân thời lắm mà.
- Dạ thưa ông có, cách đây bốn năm, khi mười chín tuổi, tôi theo chồng tôi ra Hải Phòng mấy tháng, thỉnh thoảng ảnh có đưa tôi đi vũ trường dạy tôi nhảy đủ bản hết chớ, từ đó tới nay bỏ lâu quên ráo trọi.
- À! Vậy là cô cũng từng ra sàn nhảy rồi. Bỏ lâu bây giờ dượt lại mấy hồi. Lát nữa tôi đưa cô nhảy, nếu cô quên tôi sẽ chỉ thêm cho cô, cô hai mươi ba tuổi, còn trẻ mau hiểu lắm.
- Ủa sao ông biết tôi hai mươi ba tuổi?
- Thì cô nói năm mười chín tuổi cô biết nhảy, cách bốn năm cô bỏ lâu quên ráo, cộng chung là hai mươi ba tuổi.
- Ừa hén, ông để ý nhớ hay, còn ông bao nhiêu tuổi?
- Đâu cô nhắm đoán coi tôi bao nhiêu tuổi.
Nhìn ngắm ông ta hồi lâu:
- Tuổi ông chừng ba mươi.
- Tuổi tôi bằng tuổi cô đó, đừng xưng hô bằng ông nghe già lắm, kêu anh được rồi.
- Chèn ơi! Anh bằng tuổi tôi? Sao mà trông anh già khú hè, mà sao anh khôn quá vậy? Nghe lời lẽ anh nói, tôi biết anh thông minh, biết  thương người nghèo lắm, lại thông cảm cho người quê mùa như tôi. Anh vui quá, nói chuyện có duyên quá chừng chừng.
Anh ta cười hắc hắc.
- Cô chất phác lắm, cô nói chuyện quá thật thà.

Nhạc bắt đầu bản sì lô sau khi dứt bản valse, đèn màu mờ mờ chiếu, trên sàn nhảy nhiều cặp ghì nhau đi chậm bước. Lần đầu tiên tôi ở trong vòng tay người đàn ông xa lạ, tim tôi không nhảy mạnh, tinh thần tôi bay tận đâu đâu. Ai đời bản mùi đi chậm mà tôi kéo anh ta chạy có cờ, chơn đụng lụp cụp. Anh ấy ghì tôi lại, anh cười gần muốn tắt thở luôn, tôi đứng lại.
- Cô chờ kép đưa, cô từ từ theo, cô là đào mà cô kéo kép chạy như bay, chạy theo cô hết thở, thân hình cô lại cong như mặt trăng lưỡi liềm...
Tôi thở hổn hển, mồ hôi tháo ra như tắm.
- Xin lỗi anh, mới lần đầu tôi quýnh quá! Anh lại ôm sát, tôi nhột quá, ngộp thở. Bây giờ tôi tỉnh rồi, bắt đầu nhảy lại, anh đừng giận tôi tội nghiệp.

Sau bản sì lô, tiếp theo các điệu khác trong chương trình theo tua, nhờ anh ta nhảy giỏi đưa hay, tôi rán  theo được, anh ta  khen:
- Hay lắm rồi, cô rán trong vòng hai tuần là cô nhảy giỏi, người cho nhẹ, cần điểm đó.
Tài bán lại khều tôi nói nhỏ:
- Có người khách Nhựt cần một cô biết tiếng Anh.
Anh ta kêu tài bán:
- Không sang bàn nào cả. Tôi bao tích kê  cho cô ta trọn buổi này.
Tài bán dạ dạ rồi đi.
Tôi hỏi:
- Sao anh lại bao tích kê  chi vậy.
- Cô chưa hiểu, nơi đây chúng tôi là khách đến chơi hằng đêm, biết cách xài đẹp. Theo đúng luật là phải để cho các cô sang bàn, mới có nhiều tích kê. Theo giá là mỗi giờ một tích kê, nhưng đâu có ai ngồi đúng một giờ. Các cô mánh lới lắm, ngồi nhảy chừng hai bận là nở nụ cười xã giao, "xin cho em sang bàn, một chút xíu em trở lại". Làm như vậy một đêm sang mấy bàn, tuỳ theo cô nào có quen khách nhiều, có khi gặp khách tử tế biết điệu, nhảy vài bản cũng trả hai ba ticket. Riêng cô mới đến làm còn chập chững, lại vui tánh, tôi muốn lưu cô lại ngồi lâu, tôi bao trả nhiều tỉch kê cho tài bán, hắn mừng lắm.

Khi mãn giờ  trước khi ra về, tài bán đưa cho tôi sáu ticket, chưa biết tôi hỏi:
- Thưa ông bao nhiêu tiền đây?
- Thì họ bao bàn trả luôn sáu cái, là chín mươi bạc, cô sáu chủ bốn.
Trên đường về tôi khoe với em Sử:
- Em ơi! Hôm nay mới biết rõ là làm vũ nữ, cũng vui mà cũng buồn cười. May mà mấy năm trước khi đi theo anh Hai ra Hải Phòng mấy tháng, anh đưa chị đi vũ trường dạy chị mấy điệu, sau này bỏ lâu quên. Mà cũng may gặp ông khách tuy còn trẻ, ông ta ra đời sau, ông ta kinh nghiệm xã giao vui tính, đã chẳng chê lại còn dạy thêm và khuyến khích.
Sử tỏ vẻ vui mừng:
- May mắn cho chị nhờ ông tổ thương, đêm khai trương mà may mắn là vui quá cở, chị rán làm tạm một thời gian, khi anh Hai về lại, anh đâu có cho chị đi làm nữa đâu.
- Em nhớ đừng nói với ba má chị đi làm vũ nữ, nói chị làm bồi! Ông bà xưa còn phong kiến. Em chưa thấy các chị, chị nào chị nấy sửa soạn đẹp lắm. Tuổi từ ba mươi sấp lên, sang trọng, kim cương vòng vàng đeo chớp chớp sáng ngời, chị nhìn cũng phải mê nói chi khách đàn ông thường đêm đêm đến nghe nhạc. Họ nói rành các thứ tiếng, họ có học thức, có gia đình mà vẫn đi làm, đó là vì nghề nghiệp.
 
Một tháng nay tôi nhờ các chị lớn thương mình, dạy tôi lối xã giao nghề nghiệp, dạy tôi nhảy, dạy tôi cách trang sức, nhờ vậy mà tôi bớt quê. Đêm nào ông khách trẻ cũng đến chung với ba ông lớn tuổi, ông hỏi tôi "cô đi làm bằng xe gì". Tôi thật thà:
- Dạ mỗi bữa nhờ cậu em ở lối xóm đưa rước bằng xe đạp.
Ông khách cười hiền thân mật:
- Tôi đề nghị với cô nên mướn xe xích lô  tháng, không  mắc lắm đâu, họ đến rước, và lúc về họ đưa về, tiện hơn đi xe đạp, gặp lúc trời mưa gió thì làm sao? Tôi sẽ giới thiệu cho cô anh xe xích lô này quen, tử tế lắm, nếu cô đồng ý.
Đến tháng tôi hỏi chú xích lô bao nhiêu tiền mà từ ngày bắt đầu đi đến nay, tôi hỏi nhiều lần mà ông ta không nói. Chú cho tôi biết là bao nhiêu? Đã đúng tháng rồi.
Chú xích lô cười:
- Tiền cậu Hai trả từ lâu.
Tôi ngạc nhiên với cử chỉ im lặng của ông khách trẻ tôi quen từ hai tháng nay. Tôi hỏi:
- Chú ơi! Ông đó tử tế quá làm tôi ái ngại, ông ta quê ở đâu? làm việc gì? mà đêm nào cũng có mặt trong vũ trường.
Chú xích lô ngần ngại rồi nói nhỏ:
- Cậu Hai tên là P.V.C. quê tỉnh Vĩnh Long, đạo Hoà Hảo, có mẹ già và hai em trai. Làm việc gì tôi không biết, mà hiện nay bà cụ má của cậu nhà ở gần nhà thờ Chợ Quán, vợ tôi nấu bếp cho bà. Nghe nói cậu Hai đi làm luôn, ít khi có ở nhà, nghề gì không biết mà nghe nói khá lắm.

Một buổi trưa rằm ba má tôi đi chùa Bửu Đà trên Hoà Hưng. Tôi kể Sử nghe tâm sự giữa ông khách trẻ và tôi từ bốn tháng nay, luôn tiện Sử có ý kiến gì hay nói mình nghe thêm.
Sử ngẫm nghĩ.
- Em tuy nhỏ hơn chị một tuổi, em chưa được va chạm với tình cảm. Nhưng nếu em là ông đó đã yêu chị từ ngày đầu. Với cử chỉ mộc mạc của chị làm cho ông ta càng ngày càng mến sâu xa, chưa hề mở lời bộc lộ tình ông đã yêu chị, em phục ông ta quá! Nếu em là chị, dầu cho em có khó khăn dè dặt cách mấy, cũng sẽ có ngày... Nhưng vì hoàn cảnh ai muốn mà được đâu. Tiếc là ít ngày nữa em về Tân Hương chưa biết bao giờ lên, em sẽ chờ coi kết quả giữa chị với ông ta đi đến đâu.

Sáu tháng làm ở vũ trường, người thanh niên mà chú xích lô kêu là cậu Hai đã giúp cho tôi nhiều lắm. Từ sự nâng đỡ lo lắng chơn thành cho gia đình tôi, hằng đêm đưa tôi về, tình cảm đó đã gieo vào lòng tôi. Tôi đã phản bội với chồng tôi lúc xa nhà, tôi đã giao tình cảm trọn vẹn trong vòng tay anh ấy.
Một buổi chiều buồn khi sắp sửa đi làm thì người bị sốt, chóng mặt, linh tính báo cho tôi biết có điềm gì sẽ xảy ra. Tiếng gõ cửa nhẹ tưởng là anh ấy lại rước đi. Khi cửa vừa mở hé, tôi run người, mừng mừng tủi tủi không ngờ, đứng trước mặt tôi là anh L.B.L. chồng tôi mới về.
Chúng tôi mừng rỡ. Anh ôm tôi vào lòng anh, cười âu yếm bảo rằng:
- Thôi từ nay em không còn vất vả nữa. Anh về đã hai tuần nay, anh phải chờ làm giấy tờ xong và đòi lại nhà cửa. Có một căn phố lầu ba từng trên đường La Grandière Nhựt trả lại, anh dành cho em và ba má, mé dưới làm nhà hàng nấu cơm tháng, trên từng ba thì mình ở. Anh sẽ đưa hai đứa nhỏ ra ở với em, cho tụi nó đi học trường Tabert cho gần.
Tôi cúi xuống không dám nhìn chồng khi anh đã về quá đột ngột. Tôi rất thẹn, xấu hổ, nhưng hoàn cảnh đã xảy ra làm sao... Có tiếng chân người đứng ngoài cửa sổ nhìn vô trong lúc vợ chồng tôi vui mừng khi gặp lại.
 
Vừa dọn nhà về phố mới có ba hôm tôi ngã bịnh nặng. Cả nhà đem tôi vô bệnh viện Đồn Đất. Tôi mê man, khi tỉnh lại, mở mắt thấy chồng đang  ngồi cạnh tôi. Anh hỏi:
- Em khỏe chưa?
- Em đã đỡ nhiều rồi. Bác sĩ nói em bị bệnh gì? Chừng nào em về nhà được?
Anh vuốt tóc tôi âu yếm, cười hiền:
- Ngày mai em về nhà được, bác sĩ nói bịnh em không quan trọng, em bị sảy thai.
Trời ơi! Người tôi run lên như phát rét, xấu hổ nhục nhã không dám ngước lên nhìn mặt chồng, chỉ biết ngồi hai tay ôm mặt khóc.
Anh hiểu ý tôi, an ủi:
- Em đừng khóc nữa, đừng thắc mắc gì, anh không buồn không trách em đâu, vì lỗi ở nơi anh. Anh không tròn bổn phận lo cho em, ra đi bỏ em lại một mình, hai tay trắng nuôi cha mẹ già trong lúc thời kỳ bom đạn... lại thêm gia đình vợ anh đối với em vô nhân đạo, phải để cho em vất vả đi làm... Thôi chuyện qua cứ để nó qua đi, anh hứa không bao giờ nhắc đến chuyện này.



Sáng nay Liên thức sớm, xách nước ra trước sân nhà tưới bông, cây bông giấy hôm nay bông héo lá vàng úa, cành khô. Liên vừa tỉa lá vàng, miệng lảm nhảm nói một mình:
- Chèn ơi! Cây bông giấy này trồng mấy năm nay bông đầy, lá xanh xum xuê, màu hoa tím hồng leo bò chằng chịt, rẽ ra có tán rộng như mái nhà, ai đi ngang qua đây đều khen, mới có tháng nay giải phóng vô, không biết sao nó héo khô như củi mục vậy hè...
Tôi ngồi trong xó cửa cách xa Liên chừng hai thước, đôi tay đang cầm hai cây que đan áo, nói đùa vừa cười:
- Người như mình đây còn tàn úa, sắp gục ngã, đừng nói chi là cây.
Tiếng máy xe Honda thắng ngừng lại trước đường cho một người đàn ông đứng tuổi bước xuống. Người khách lạ bước thẳng đến trước mặt Liên, đứng bên ngoài cửa ngỏ song sắt hỏi:
- Thưa bà cho tôi hỏi thăm ở dãy phố này có vợ chồng ông Cò Mi Linh còn ở đây không?
Liên ngẫm nghĩ trả lời:
- Thưa ông tôi ở đây lâu lắm, mà sao tên ông đó tôi chưa từng nghe nói tới.
Người khách lạ nói thêm giọng quả quyết:
- Ông Cò Mi đó có bà vợ còn trẻ, lúc thời kỳ Nhựt bà ta đi làm vũ nữ trong Đại Thế Giới, bà ta cùng quê với vợ tôi ở Vĩnh Long.
Liên ngạc nhiên nhướng đôi mày suy nghĩ:
- À vậy chắc là dãy phố đàng kia rồi, chứ không phải ở dãy phố này.
Người khách hơi thất vọng:
- Không tôi nhớ rõ lắm, dãy này đây vì gần ba mươi năm qua khi tôi ra đi thì dãy phố này cất vừa xong, còn dãy kia chỉ là xóm nhà lá lụp xụp với đám cây cối um tùm. Mỗi khi tôi đưa bà ta về, bà chỉ ngay vào căn phố bìa này nói là nhà của cô bạn đồng hương.
Liên quay vô trong cửa đưa mắt nhìn tôi. Tôi cúi xuống, Liên vui vẻ quay sang qua chuyện khác.
- Thưa ông là cán bộ đi tập kết mới về? Rất tiếc tôi không biết ở đâu để chỉ giùm ông.
Ông buồn buồn chào Liên quay lưng đi. Liên cũng xách thùng nước ra sau nhà. Hắn nhìn tôi cười cười. Tôi giựt mình quay đầu nhìn ra sau lưng ông khách, với tướng cao ráo dáng đi gầy gầy đúng là người... Vô tình ông ta quay lưng lại, bắt gặp lúc tôi đang nhìn lén ông.
Ông bước nhanh trở lại cửa ngõ, đưa tay vô song  sắt ngoắt tôi:
- Bà ơi! Có lẽ bà biết chỉ giùm cho tôi, nhìn bà tôi thấy quen lắm.
Tôi hoảng hồn lắc đầu lia lịa, ông càng kêu to, Liên từ nhà sau chạy ra hỏi:
- Chuyện gì nữa đó ông?
Ông ta chỉ tôi nói với Liên ra vẻ mừng:
- Nè bà nói dùm với bà ngồi đan áo, tôi nhìn bà quen quen, sao hỏi bà lắc đầu lia lịa vậy.
Liên nhìn tôi hiểu ý.
- Ông ơi chị ấy  nhức răng.
Người khách thật thà hỏi thêm:
- Nhức răng nặng lắm sao, đến nỗi mở miệng không được hả bà?
Liên nhận thấy sự yên lặng của tôi tự  nãy giờ,  nàng bịa thêm:
- Xin lỗi ông, chị ấy đang ngậm thuốc, bác sĩ kêu ngậm đừng có hả miệng.
Tôi muốn bật cười mà cố rán làm thinh, cúi đầu không nhìn lên.
Ông ta trước khi sắp quay lưng bảo rằng:
- Xin lỗi tôi đã làm rộn bà. Bà nói lại với bà đó dùm, miễn biết được bà ấy chỉ nhức răng thôi là tôi mừng. Hơn tháng nay về lại tôi đi tìm mãi, sợ bà ấy thời gian xa cách có mạng hệ nào... Nhưng hôm nay, tuy là tôi thất vọng mà vẫn vui, vì không hoài công đi tìm nữa.

Sáng hôm sau hai mẹ con tôi chào gia đình Liên để cảm ơn đặng  dọn nhà ở nơi khác. Đã một tháng nay tôi ăn nhờ ở đậu, thân đau yếu. Liên rất tử tế với mẹ con tôi, ngoài tình đồng hương còn là bạn học chơi với nhau từ thuở bé. Tôi không quên dặn Liên kỹ lưỡng:
- Lúc nào em có thấy ông đó lại hỏi, em nói dùm chị đã đi ra nước ngoài rồi.
Liên thắc mắc và khuyên tôi:
- Trong lúc hoàn cảnh bị đát của chị, thêm đau yếu, sao chị không nhận để cho anh ấy giúp đỡ chị phần nào, dù sao cũng tình xưa nghĩa cũ, chị phủ nhận, giả vờ như kẻ xa lạ. Đã ba mươi năm, anh trở về còn sức khỏe vậy, chắc cũng có tên tuổi lắm, về là đi tìm chị liền.
- Liên ơi! Mình không thể giải thích vì sao cho bạn nghe, chuyện qua cứ xem như không có gì, chỉ là  cơn gió thoảng, hai con đường hai lối đi.


Hai năm sau trong hãng máy bay Air France trên đường Tự Do tôi bước ra, một buổi chiều trời đẹp, lòng tôi vui như mở hội, nay được có chuyến bay, hai hôm nữa phải ra đi... Buồn nhớ quê hương nhưng mừng là sẽ không vất vả thiếu hụt mọi phương diện.
Có tiếng sau lưng kêu nhỏ:
- Bà ơi chờ tôi với!
Tôi quay lưng lại, đứng chờ. Người đàn ông kêu tôi bước tới trước mặt tôi cười hiền:
- Em lấy vé máy bay sang Pháp hay nước nào?
Tôi làm thinh, lắc đầu.
Ông ta níu tay tôi siết mạnh:
- Lại lắc đầu nữa. Hai năm qua nói nhức răng ngậm thuốc, không há miệng, bác sĩ dặn vậy. Rồi hôm nay giờ phút ngắn ngủi này lại cũng lắc đầu, trả lời đi em, nói vài lời thôi.
Tôi xúc động thương anh, anh đâu có lỗi gì với tôi đâu, tôi cười:
- Anh ơi! Gần ba mươi năm tụi mình không nghe nói, giờ này có gì đâu nữa mà nói, khi tôi đã ra đi.
Anh ấy càng siết mạnh tay tôi, buồn buồn hỏi:
- Ông xã em đâu?
- Ảnh qua đời rồi.
- Em đi nước ngoài với ai?
- Đi với em gái.
- Nếu "đứa bé" kia còn chắc em không đi.
- Đứa bé kia còn, bé ấy chắc du học nước ngoài từ lâu.
- Chừng nào em đi?
- Hai hôm nữa.
- Chắc anh không tiễn em ra phi trường được.
- Cám ơn anh. Tôi cũng mong như vậy.
- Em đi viết thơ về cho anh. Anh sẽ nhờ địa chỉ một người bạn.
- Đừng anh. Tôi sẽ nhớ anh mãi trong tâm tôi đủ rồi. Còn mang tên anh theo, chưa phải lúc này.
- Chừng nào mới gặp lại em?
- Chưa hẹn được, trái đất vẫn xoay tròn.
- Em năm nay bao nhiêu tuổi?
- Anh quên rồi sao? Anh thử đếm tuổi anh thì ra tuổi tôi.
- À quên, tụi mình cùng một tuổi. "Thật tôi không ngờ, thời gian đã dạy cho con người thay đổi quá nhiều, lúc xưa là một thiếu phụ trẻ đẹp, quê mùa dịu hiền chất phác, gặp một thằng con trai mới ra trường, trong vũ trường rồi biết yêu... Sau ba mươi năm gặp lại, trước mặt tôi là một quả phụ phong trần kiêu hãnh, hững hờ, đủ can đảm đối thoại với tôi những câu ngắn ngủi nhẹ nhàng mà chua xót sâu xa..." Em không sợ tôi sẽ làm trở ngại chuyến đi của em sao?
Tôi sực nhớ lại điều đó, cũng dám có thể lắm, nhưng bình tĩnh gượng cười:
- Làm gì có  chuyện đó. Tôi tin rằng không bao giờ anh thèm giở trò trẻ con đối với tôi đâu, có ích lợi gì cho anh? Chỉ gây thêm  ác cảm cho nhau thôi, tình của tụi mình dầu  có ngăn cách, vẫn tốt đẹp trong tâm tư của tôi mãi mãi như ngày nào. Chúng ta có lỗi gì đâu, chỉ hoàn cảnh hai con đường hai lối đi, hai chí hướng, mong rằng vẫn sống mãi trong lòng anh, rồi biết đâu một ngày còn gặp lại...
Anh ấy cười gằn buồn:
- Em trả lời nhẹ nhàng êm ả mà ý nghĩa vô cùng mỉa mai. Thôi anh vĩnh  biệt em từ đây, chúc em lên đường bình an.
- Sao anh lại chào buồn vậy? Nên nói là tạm biệt nghe anh. Riêng tôi mong rằng về tuổi đời tóc bạc răng long, còn sức khỏe, thì thời gian cũng sẽ đến có một ngày gặp lại nhau trên quê hương thân yêu. Không có gì tồn tại lâu dài, chỉ có tình người, tình quê cha đất tổ, nơi đã chào đời, dưới mái nhà xưa, những cánh đồng bát ngát xanh tươi, ruộng lúa phì nhiêu cò bay thẳng cánh, quê hương đó làm sao quên được. Tôi sẽ có dịp về thăm lại người thân. Lúc ấy tôi sẽ đi tìm anh, như anh đã về tìm tôi vậy...

Tôi băng qua đường quẹo về phía chợ, nhìn lại sau lưng anh vẫn còn đứng thẫn thờ.
Một chiều đầu hạ nắng ấm trên quê hương vẫn sống mãi những kỷ niệm trong lòng tôi.


Huyền Châu



------
Nguồn: VĂN, Số 75, tháng 9-1988






























Monday, December 24, 2018

BỐN MƯƠI NĂM TRƯỚC



Nguyễn Đình Hoà



Lời giới thiệu:

"Giáo sư Nguyễn Đình Hoà, một nhân vật tên tuổi của ngành giáo dục và một tiếng nói có thẩm quyền lớn về ngôn ngữ học, là một thân hữu của Văn từ mấy chục năm về trước ở quê nhà. Nhưng bản văn dưới đây là bài viết đầu tiên ông gửi cho tạp chí. Một đoạn hồi ký trích trong Hồi Ký Học Trò Của Người Đình Hoà Họ Nguyễn. Viết được hồi ký hay trước hết phải có một trí nhớ tốt. Điểm này trí nhớ Nguyễn Đình Hoà tuyệt hảo. Nhờ vậy mà hồi ký Nguyễn Đình Hoà đã làm sống lại, trên từng chi tiết, cả một thời điểm quá khứ. Và làm xúc động những người cùng một lứa tuổi, cùng sống với tác giả thời điểm ấy, trong số có người bạn thân của tác giả là tôi." 
                                                                                    Mai Thảo

  
Một buổi sáng thượng tuần tháng giêng năm 1948. Giáo sư John.F.Embree, dáng người cao, đeo kính trắng áo sơ mi vàng, chiếc quần màu xám, đôi giày nâu kiểu bướm, từ trên gác đi xuống. Tôi chào ông và đưa ông coi bản báo cáo mà chiều hôm trước ông đã giao cho tôi đánh, bằng chiếc máy chữ hiệu Royal đặt trên chiếc bàn ăn to tướng trong phòng ăn.
Tiến sĩ Embree là một vị giáo sư nổi danh của Viện Đại học Yale của Mỹ, một nhà nhân loại học kiệt xuất đã có công trình khảo cứu về đời sống miền quê Nhật Bản, lúc đó được biệt phái sang Sài Gòn làm việc ở Phòng Thông Tin Hoa Kỳ (United States Information Service - USIS) với tư cách tuỳ viên văn hoá. Ông đã đáp máy bay ra Hà Nội để nghiên cứu xem có thể thiết lập một phòng thông tin của Mỹ ở đó hay không.
Ông tỏ vẻ hài lòng về tài liệu "đả tự" của tôi - thật ra đánh mổ cò bốn ngón. Sau khi hồi cư vào tháng 5 năm 1947, tôi có đi làm ít lâu cho một sở Pháp tên là Les Grands Travaux de Marseille, nhưng vì ông chủ Tây tính hách dịch và không có cảm tình với một thanh niên Việt Nam ít kinh nghiệm, nên tôi quyết định không đi làm cho Pháp, mà muốn tìm việc gì giúp tôi trau giồi Anh ngữ. Tôi bước thấp bước cao vào xin việc ở toà lãnh sự Mỹ, lúc bấy giờ đặt tạm tại toà nhà khá lớn của công ty Standard Vacuum Oil Company.
Nhờ sự giới thiệu của hai vị linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, là Cha Đạo (Leroy) và cha Marquis, cả hai là người Canada, tôi được một chân thư ký trong toà lãnh sự Mỹ, mà về sau dọn đến ngôi nhà ở số 19 đại lộ Rollandes. Công việc của tôi là thư ký thông dịch viên. Lúc đầu làm việc dưới quyền các ông James L. O'Sullivan, Edwin C. Rendall và Jack C. Feigal. Hai ông trên là nhân viên ngoại giao, cấp Phó Lãnh Sự, còn ông thứ ba thì thuộc ngạch tham sự ngoại giao. Hàng tháng, tôi còn phải làm cả việc kế toán, lo sổ lương cho cả nhân viên Mỹ lẫn nhân viên phù động địa phương (gồm có tôi, ông tuỳ phái tên là Kế, ông tài xế tên là Mỹ, và ông làm vườn mà tôi đã quên tên), cùng là gửi ngân phiếu sang trả tiền nhà cho công ty Rondon bên Hương Cảng.
       
Giáo sư Embree gọi tôi sang phòng khách lớn, là chỗ mà ông được sử dụng làm văn phòng làm việc tạm ít ngày theo kiểu TDY (temporary duty). Ông mời tôi ngồi và bắt đầu "phỏng vấn" tôi về gia thế, về bối cảnh giáo dục. Tôi kể lại là lúc trước tôi học trường Bưởi, tên Pháp của trường là Lycée du Protectorat (Trung học Bảo hộ), bảy năm liền từ 1937 đến 1944. Và sau khi đỗ bằng tú tài Triết học Văn chương, lên học đại học Luật khoa ở đường Bobillot. Năm học đó bị dở dang vì cuộc đảo chánh của Nhật hồi tháng ba năm 1945.
Sau đó, vì tự cho là mình có chút vốn tiếng Anh nên tôi liều dự kỳ thi tuyển giáo sư sinh ngữ của Nha Trung học vụ, lúc ấy do giáo sư Ngụy Như Kontum phụ trách. Trong hai năm học bậc tú tài (năm thứ hai và năm thứ nhất, nói theo kiểu Pháp) tôi được phần thưởng về Anh ngữ, nhưng thật sự chỉ biết dịch từ Anh sang Pháp và từ Pháp sang Anh. Cũng như thuộc lòng những mẹo luật về Anh ngữ đã được vị giáo sư khả kính của tôi là thầy Carjat dạy trong hai năm bậc "trung học đệ nhị cấp" mà thôi. Còn nghe và nói thì không được dịp thực hành, vả lại cũng chỉ quen có giọng của giáo sư Carjat người Pháp mà thôi. Lớp B của tôi vẫn cho rằng mình học đúng giọng Anh, chứ lớp A bên cạnh "nói giọng Mỹ" vì giáo sư của họ là một vị mục sư Tin Lành, hình như thuộc quốc tịch Anh hay Mỹ, tên là Gockler.
Tôi cũng cần vạch rõ là mùa thu năm ấy, lúc chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà mới được thành lập, thì những thanh niên cở tuổi tôi, ai nấy đều hăng hái muốn góp phần xây dựng một nước Việt Nam độc lập vừa thoát khỏi ách nô lệ do Pháp áp đặt từ bao năm. Kỳ thi tuyển giáo sư trung học dạy tiếng Pháp và tiếng Anh năm ấy do một mình giáo sư Phạm Duy Khiêm chấm, gồm cả bài thi viết (có dịch và luận) lẫn bài vấn đáp. Tôi may mắn đỗ đầu nên được bổ nhiệm vào dạy ở trường trung học Chu Văn An, mà tiền thân chính là ngôi trường thân yêu bên bờ Hồ Tây thơ mộng, nơi tôi mài đũng quần luôn bảy năm trời, chốn học đường đầy kỷ niệm tuyệt vời về thầy yêu và bạn quí.
   
Điểm đặc biệt là chữ của giáo sư Embree viết  rất khó đọc, cho nên ông lấy làm lạ là sao tôi có thể đọc được chữ viết của ông để mà nhận ra câu nọ câu kia, rồi đánh máy trình bày sạch sẽ. Sau khi hỏi vài câu về gia cảnh của tôi - con thứ mười trong một gia đình công chức thanh bạch- ông hỏi:
"Anh có muốn sang Mỹ du học không".
Tôi giật nẩy người trả lời ngay: "Thưa giáo sư, có chứ ạ!"
Vài hôm sau khi ông trở vào Sài Gòn, giáo sư Embree gửi cho tôi, qua tín hàm ngoại giao, một xấp những mẫu đơn xin học bỗng, kèm theo một thư ngắn (vẫn bằng lối "chữ đốc tờ" thật khó đọc đối với người Việt Nam). Nói rằng "Bây giờ đã muộn rồi, song anh hãy cứ điền hết những mẫu đơn cần thiết, rồi gửi vào cho tôi để tôi chuyển về Mỹ cho Viện Giáo Dục Quốc Tế (Institute of International Education) ở New York ".
Bẵng đi một thời gian mấy tháng, tôi cũng chẳng nghĩ đến chuyện xin đi học bên nước Mỹ xa xôi, mà tôi mới được thấy trong phim ảnh thôi. Chuyện đi  du học ngoại quốc, nói chung, đã là chuyện khá xa vời, mà nghe phong thanh thì chỉ thấy có nhiều sinh viên con nhà quyền thế được "quan Tây" cấp học bỗng sang Pháp du học mà thôi. Ngoài ra, cả đời (năm đó tôi mới hai mươi bốn tuổi đầu) tôi chưa bao giờ đi xa thành phố Hà Nội, nơi tôi sinh trưởng, trừ những dịp may được về "nhà quê", nghĩa là được về chơi ở làng mẹ tôi, làng bà vú nuôi tôi (u Hoà), hay làng bà thím tôi (thuộc tỉnh Hải Dương), hoặc lên tỉnh lỵ Phúc Yên ở chơi nhà một bà chị, hay lên Tuyên Quang dự việc chôn cất một ông chú. Rồi thì những tháng tản cư tránh bom Nhật, tránh bom Mỹ, tránh tàu bay Pháp bắn phá - trường hợp sau đúng là lang thang lánh nạn về mấy làng thuộc tỉnh Hà Đông mà thôi, chứ đâu có óc du lịch như cái ông trong sách Quốc văn Giáo khoa thư.
   
Tháng sáu năm 1948, tôi nhận được một bức điện tín của Viện Giáo Dục Quốc Tế gửi qua toà Lãnh Sự của Hoa Kỳ ở Hà Nội, vắn tắt có vài lời như sau:
"Union College awards Nguyen Dinh Hoa tuition scholarship. Delta Upsilon Fraternity provides room and board. Letter follows".
(Đại học Union cấp học phí cho Nguyễn Đình Hoà. Hữu xã Delta Upsilon đài thọ tiền ăn ở. Sẽ có thư sau).
Tôi mừng quá! Đạp xe đạp về nhà hôm đó trong niềm phấn khởi (mộng làm giáo sư tiếng Anh sắp thành sự thực rồi), báo tin cho các anh, các chị tôi. Riêng cha tôi thì phản ứng hơi khác, ông hạ mấy lời làm tôi hơi nản:
"Đi đâu? Tiền đâu mà đi! Mà sở Công an liên bang đời nào cho nó đi?"
Hoá ra ông công chức đầy kinh nghiệm đã nghĩ đúng, được học bỗng là một chuyện, còn phải xin phép Sở Mật thám Tây cho phép và cấp thông hành thì mới xuất ngoại được. Rồi thì đào đâu ra tiền lộ phí để mà di chuyển từ Hà Nội sang tận Hoa Kỳ ở mãi tận bên kia địa cầu.

Bức thư của Viện Giáo Dục Quốc Tế (tiếng Anh viết tắt là HE) đến sau đó đã giải thích thêm  về chi tiết. Trường Union College ở thành phố Schenectady, thuộc tiểu bằng New York, là một trường đại học nhỏ, thành lập năm 1795, chuyên đào tạo kỹ sư về cơ khí và điện học cùng các ngành khác. (Trong thành phố đó có hai công ty lớn là hãng làm các máy điện General Electric và hãng làm đầu máy xe lửa là American Locomotive). Các bộ môn văn khoa cũng rất tốt, và nhà trường được xếp vào loại những trường đại học bốn năm gọi là Liberal Arts College có tiếng trong nước.
Đặc biệt là trường ấy là trường đầu tiên thành lập những nhà hội huynh đệ, gọi là hữu xã, đặt tên theo tiếng Hy Lạp. Hữu xã là một cơ chế đặc sắc của nền giáo dục cao đẳng tại Mỹ: vài chục sinh viên gia nhập một hội anh em như là vào hội kín, có mục đích giúp nhau học hành và tu dưỡng về ba phương diện trí dục, thể dục và đức dục. Sau một vài thử thách về tư cách con người, thì một sinh viên năm thứ nhất mới được tiếp nạp vào làm hội viên của hữu xã mình muốn gia nhập, tuy vẫn còn ở trong phòng trọ ký túc xá, chứ chưa dọn vào nhà hội.
Mỗi hữu xã có nội quy riêng: mọi người gọi nhau và coi nhau như anh em một gia đình. Thật vậy, tiêu ngữ của nhà trường là câu tiếng Pháp "Sous les Lois de Minerve, nous devenons tous frères" (Dưới luật lệ của thần Minerve, tất cả chúng ta trở nên anh em một nhà). Ăn ở chung với nhau trong một toà nhà rộng rãi, đầy đủ tiện nghi, họ dìu dắt nhau trên con đường học vấn. Họ có đầu óc quốc tế.  Chẳng hạn, theo phương án gọi là HELP (Higher Education for Lasting Peace), tạm dịch là "Giáo dục cao đẳng để tiến tới một nền hoà bình vĩnh  cửu".
Mỗi nhà trong số mười hữu xã trong trường, bảo trợ một sinh viên từ nước ngoài đến học, bằng cách hàng  tháng góp mỗi người vài ba đô la để bao cho anh sinh viên ngoại quốc ăn ở không mất tiền - trong khi nhà trường cấp học bỗng về học phí, nghĩa là cho miễn tiền học, năm ấy (1948-49), chỉ khoảng năm trăm đô la mỗi năm mà thôi.

Có người mách tôi làm đơn xin chính phủ Việt Nam tiền lộ phí. Quả nhiên, ông Thủ hiến Bắc phần Nghiêm Xuân Thiện đã chấp thuận lá đơn của tôi và cấp mười lăm nghìn bạc Đông dương, cho tôi có tiền mua vé máy bay của hãng Air France đi từ Hà Nội sang New York qua ngã Sài Gòn và Paris. Sở Liêm Phóng Liên Bằng của Pháp, lúc cấp giấy phép cho tôi xuất ngoại và thông hành "Liên hiệp Pháp" (Union Francaise), còn bắt đóng một số tiền ký quỹ để nếu "lơ tơ mơ" làm điều gì xằng bậy, thì họ dùng số tiền đó để giao trả mình về nguyên quán bằng tàu thủy.

Bắt đầu từ năm 1950, rồi về sau nữa, sinh viên Việt Nam sang Mỹ du học bằng học bỗng của những trường tư (công giáo) hay của chính phủ Mỹ đều được tiền sách, tiền tiêu vặt. Chứ năm 1948, tôi không được ai cấp cho những khoản đó. May thay tôi được cả ông xếp tôi lả ông Edwin C. Rendall lẫn giáo sư John F. Embree giúp đỡ. Ngay khi chắc chắn là tôi nhận học bỗng để qua học ở Schenectady, thì ông Rendall cho phép tôi được lãnh một phần lương bằng tiền đô la, rồi mỗi kỳ lương (hai tuần phát một lần) gửi sang cho ông cụ thân sinh ra ông, để vào ngân hàng ở Morrison, Illinois cho tôi. Giáo sư Embree thì còn làm một việc cảm động hơn nữa. Khi đã trở lại dạy học ở New Heaven, tiểu bang Connecticut, ông viết thư cho tôi và ông xếp tôi, nói là đã liên lạc với một số kiều bào Việt Nam ở vùng Nữu Ước để yêu cầu họ giúp tôi. Đồng thời ông gởi cho tôi vay một món nợ danh dự: bốn tấm chi phiếu, mỗi tấm năm mươi mỹ kim (hai trăm đô la lúc ấy nhiều lắm), để phòng hờ, lúc tôi mới chân ướt chân ráo đến Mỹ lỡ cần đến chăng thì ông tạm giúp tôi "lúc xe hỏng".
 
Giấy má xong, kể cả chiếu khán sinh viên đầu tiên do Lãnh Sự Quán Mỹ cấp, tiền vé có rồi, đến chuyện quần áo mặc rét và va li nữa chứ! Tôi có mỗi một bộ hàng "tropical" màu kem, vài chiếc sơ mi và cà vạt, may ô quần đùi, một đôi giày da nâu. Chỉ cần mua một chiếc va li da giả là được rồi.
Hôm 28/8/1948 tôi rời Hà Nội. Tôi đội cái mũ dạ bo thật to, tưởng mình hợp thời trang lắm. Khi máy bay ghé Calcutta, Ấn Độ, mới thấy là không hợp thời tiết. Rồi khi đặt chân đến Mỹ thì ý thức ngay rằng, người sinh viên ở đại học không ăn mặc như tài tử xi nê.
Gia đình và năm sáu anh bạn thân đến hãng máy bay Air France ở phố Paul Bert để tiễn tôi, trước khi  chiếc xe ca cũ kỹ của hãng chở hành khách sang phi trường Gia Lâm. Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy! Lần đầu tiên tôi xa những người ruột thịt, xa bạn bè, và nhất là xa nơi chôn nhau cắt rốn, để đi sang một nơi xa lạ trong một cuộc "phiêu lưu mạo hiểm" với mục đích cầu học chốn tha phương.
Mừng mừng tủi tủi, tôi khóc chào cha tôi, cũng lần thứ nhất xa thằng con út. Ông dặn tôi:
"Con cần giữ gìn sức khỏe để học cho chăm, làm vẻ vang cho nòi giống mình. Hàng ngày buổi sáng đừng quên đi hết bài quyền Ngọc Trản  nhé! Và nhớ viết thư đều cho ở nhà khỏi sốt ruột. Thôi, con đi đi cho may mắn! Nhớ giữ thanh danh của họ Nguyễn Đình nhà mình đấy!".

Tôi được ghé Sài Gòn vài hôm để thăm gia đình một bà chị theo chồng vào Nam từ 1940, và gia đình vợ chưa cưới của tôi. Đoạn đường từ Sài Gòn sang Paris cũng lý thú, phải ghé Calcutta, ngủ đêm Karachi, rồi ghé Athens, Iceland, trước khi tới Paris. Tại kinh đô nước Pháp, nhờ vài anh bạn nhà giàu (sang đó du lịch đã vài ba năm), hướng dẫn nên tôi cũng được tham quan mấy nơi thắng tích. Nhưng vẫn sốt ruột mong chóng qua bên Mỹ cho kịp ngày khai trường.
Chuyến bay từ quê tôi sang Nữu Ước mất tất cả năm mươi bảy giờ bay, thật là một kinh nghiệm khó quên. Những ai dùng máy bay phản lực ngày nay đi vèo vèo từ lục địa này sang lục địa kia, khó mà ý thức được cái cảm giác ngỡ ngàng, bàng hoàng, ngây ngất của anh sinh viên 24 tuổi ra đi cầu học, và bỗng nhiên chuyển sang một môi trường hoàn toàn xa lạ để hít thở không khí khác. Đụng chạm với người lạ, cố thích ứng với phong tục, tập quán không quen thuộc, ăn thức ăn lạ, nói ngôn ngữ lạ, hàng ngày chỉ mong chạy về cái bàn viết... để viết thư, viết nhật ký bằng tiếng mẹ đẻ, hết trang nọ đến trang kia.
Ôi! Sao mà những chữ cái trong vần quốc ngữ mà cụ đồ ở trường Trí Tri, phố Hàng Quạt, vỡ lòng cho tôi mấy chục năm trước, nó đẹp, nó tươi mát đến thế! Tôi nhớ lại lời căn dặn của cha tôi, của giáo sư Nguyễn Văn Tòng, tôi giở sách Légendes des Terres Sereines của Phạm Duy Khiêm ra đọc lại những cổ tích Việt Nam. Và lúc đó tôi tự nguyện là trong khi học hỏi về ngôn ngữ và văn hoá Anh-Mỹ, tôi sẽ gia công đọc, ghi và viết, ghi và viết mãi, để không bao giờ quên cội nguồn của chính mình.

Mùa thu năm nay, 1988, kỷ niệm bốn mươi năm từ khi tôi rời Hà Thành yêu quý, tôi xin được phép tưởng nhớ đến số nhà 65 phố Hàng Bạc, 13 ngõ Văn Tân, 40 phố Hàng Bè, 141 phố Đường Thành, 22 phố Tien Tsin, 35 phố Châu Long, ngần ấy địa chỉ biểu lộ quá trình "a.b.c không có nhà đi ở thuê" của gia đình chúng tôi.
Tôi cũng xin được phép nghĩ đến những mái trường Trí Tri, trường Hàng Vôi (lấy tên Đô đốc Courbet), trường Bờ Sông hay Trường Kế (lấy tên ông Đồ Phổ Nghĩa, tức Jean Dupuis), rồi trường Bưởi...
Nghĩ đến những vị ân sư của tôi: thầy Đào Huy Huân, thầy Đàm Trung Trước, thầy Phan Trọng Kiên, thầy Đào Văn Minh, rồi lên trung học thì thầy Phong, thầy Tường, thầy Chương, thầy Phú, thầy Hoán,  thầy Quỳnh, thầy Khang, thầy Chính, thầy Phục, thầy Hàm, thầy Mạnh Tường, thầy Tố, thầy Hãn, thầy Nghị... đã ra đi gần hết.
Cũng như những bạn đồng song của tôi: Thanh "sứt", Giễm "toét", Lưu "điên", Bằng "nháy"... và bao nhiêu bạn khác tản mạn khắp bốn phương trời.
Tất cả đã dạy tôi rất nhiều điều về phong cách một anh học trò Việt Nam, cũng như cốt cách một con người Việt Nam... mà cha mẹ tôi qua bao năm trời đã dày công chăm lo giáo dưỡng trong tôi.


Nguyễn Đình Hoà




--------
Nguồn: VĂN, số 75, tháng 9/1988.



                             

Saturday, December 22, 2018

QUÊ XƯA THẦY CŨ


Huyền Châu

Huyền Châu viết lên bao kỷ niệm ở quê nhà lúc tuổi thơ. 

 
Hôm nay Thu về rất sớm. Sáng nay trời vẫn mưa lâm râm, sương mù giăng trắng đục, gió thổi nhẹ đưa những cành cây nghiêng ngã, lá vàng rơi!
Mới đó mà đã mười ba mùa Thu xa quê hương. Xa bao nhiêu bạn bè thân thuộc, đêm đêm khi thức giấc càng nhớ càng buồn.
Suốt đêm qua trằn trọc thâu đêm khi nghe cô Lệ Hằng nhắc tới ngày kỷ niệm 50 năm của nhà thơ "Hàn Mạc Tử". Lòng tôi càng thương tiếc một nhà thơ lớn, đã ra đi vĩnh viễn khi tuổi đời chưa đến ba mươi. Cũng vào một chiều Thu năm 1940 tại Qui Nhơn trong làng Qui Hoà.
Trước hai năm đó ba chị em tôi là ba con bé, tôi tuổi 15, chị tôi 16 và em tôi 14. Trên đường đi học về mỗi ngày hai buổi, đi ngang qua nhà Thầy tình cờ một buổi trưa hè trời vừa tắt nắng. Gió biển thổi nhẹ phớt qua hàng thông reo vi vu. Có tiếng kêu sau lưng:
"Bạch, Châu, Quy"
Chị em tôi cả ba quay lại, thì ra anh Nghĩa đang đứng trước nhà với một người con trai xa lạ, anh Nghĩa giới thiệu:
Đây là anh Nguyễn Trọng Trí . Còn đây là ba chị em, Bạch là chị, Châu là trự này, còn út là Quy. Trự Châu này làm thơ hay lắm mà cũng xạo một cây! 
Tôi cãi:       
Anh giới thiệu gì ác ôn vậy? Tui biết viết thơ tình chớ tui đâu có biết làm thơ. Hai chuyện đó đâu có giống đâu, mà có viết thơ là viết dùm cho anh để gởi cho chị Thuỳ, chớ có viết cho ai đâu nà! 
Anh Trí cười to, "chết toi em chưa? Khi không gặp cô bé này khai huỵch toẹt". 
Tôi phân trần:   
Anh Trí biết không, anh Nghĩa học cao nhưng viết thơ cho bồ, viết khô như dăm bào củi mục, không ướt át mùi mẫn gì ráo trọi à! Nhờ em o bế gò gẫm nên vần thơ mới khiến người đẹp mê ảnh quá mạng. 
Em giỏi quá! Em thông minh quá, làm sao mà em còn nhỏ mà biết viết thơ tình? Em đã sống thật trong cảnh đó sao? Hay là em tưởng tượng... thì khổ lắm. 
Tôi ngon lành vênh váo: 
Dạ đâu có, em đọc văn Tự Lực Văn Đoàn em ăn cắp... mà nè anh làm thơ hay, anh dạy em với nghe. Nhà anh ở đâu? Cho em lại chơi được không?
Anh Trí gật đầu: "ừ mai mấy em lại đây chơi, nhà anh ở đây, muốn học làm thơ anh dạy cho các em".
Trên đường về con chị và con em của tôi mắng tôi hết chỗ nói, bảo là: "Đồ vô duyên mất nết. Đứng trước mặt anh Trí đoàn hoàn mà nói xạo, nói một dây dài không biết mắc cở. Họ chê mày có tài đi đâu cũng tía bà, dành nói một mình, không cho ai nói!... " 
Tôi nổi sùng:       
Bạch Trang mày đừng có xài xể tao nghe mày! Tại tụi bay không chịu nói, cứ mãi cầm chiếc nón trên tay lo le, khi thấy họ nhìn bay lại quay mặt đi nơi khác. Còn tao há! Đi đứng đoàn hoàn, khi nói chuyện tao nhìn thẳng mặt họ, nói ngay thẳng như ruột ngựa, như vậy mới là xã giao... 
Con em tôi nó nguýt tôi như dao bén:   
Ai mà cãi lại cái miệng chị? Chị hẹn ngày mai lại, chưa chắc gì chị dám tới!
Tôi cam đoan:"ừa mà mai tao đi, tụi bay còn phải năn nỉ tao xin theo nữa là khác".  
Đêm nay trăng thượng tuần đã mọc sớm. Ánh trăng  mờ mờ như chiếc lưỡi liềm nằm vắt ngang các vì sao sáng, từ từ lướt qua áng mây bay. Tôi đang ngồi dưới gốc cây khế, lòng đang lo nghĩ ngày mai đến nhà anh Trí không biết vô đề những gì cho êm ả cho ngon lành. Bỗng đâu hai con nha đầu kia đến làm lành với tôi: "Nói chơi với mày, chớ thiệt tao với con Quy phục mày quá xá! Mày dám ăn nói bạo, mới nghe qua anh Nghĩa giới thiệu với anh Trí, là mày gọi anh Trí liền. Làm như mày quen thân đời nào. Cũng chẳng biết anh ta bao nhiêu tuổi, đã có gia đình chưa? Ngày mai lại nhà người ta... biết họ... "  
Tôi cười ra vẻ sành đời: "Tại tụi bay cứ cười duyên quay lưng chỗ khác. Bay đâu có nhìn rõ mặt ai đâu! Tao nè, tao nhắm tướng người giỏi lắm, hồi còn ở nhà thầy tao học rồi, có kinh nghiệm nhiều, nên những gì tao nói là đúng y chang. Anh Trí, tao nhắm chừng chưa đầy ba mươi tuổi, đường trán cao rộng, tao cho là người rộng rãi vị tha, đôi mắt anh dài là mắt nhiều tình cảm, mũi anh thẳng, lưỡng huyền đều hơi xoan xoan là người hiền. Nhưng đôi tai của anh nhỏ, vành hơi dày... !"

Sáng nay chúa nhật, sau khi đi lễ nhà thờ xong, ba chị em tôi lại nhà anh Trí. Ba chị em đều rụt rè, thập thò không dám vô, may nhìn cửa mở hé, hai con xí xọn đẩy tôi lại cửa. Cánh cửa mở, tiếng trong nhà gọi ra: "Ai đó! Vô nhà!". Tôi rón rén bước vô. Anh Trí mặc bộ py ra ma trắng có viền màu xanh dương, đang ngồi trên ghế viết bài. Trên bàn sách vở bày ra rất nhiều, bên cạnh bàn có bình trà và tách.
Ba chị em tôi lễ phép:
Thưa kính anh. Hôm qua anh cho phép tụi em lại để thọ giáo thầy, mong thầy giúp đỡ cho bài vở, gần ngày thi. Riêng hai chị của em học giỏi, có mình em học dở quá! Xin anh vui lòng nhận cho. Ba chị em từ đây về sau là đệ tử của thầy.
Anh nhìn ba chị em tôi cười hiền:
Được rồi, thầy sẽ chấp nhận các em, lúc cần là đem lại đây thầy chỉ dạy, nhưng với điều kiện là thầy không lấy thù lao, thầy miễn phí cho các em...
 
Gần nửa năm đến học thầy mỗi ngày chúa nhựt. Có hôm tôi làm bài luận sai, mà tôi làm tàng lúc ngồi viết lấy tay chận che, sợ con chị và con em copy, thế rồi tôi cũng bị hột vịt bự. Tôi bực tức đem lại đưa thầy coi:
"Thầy ơi, bài luận em làm như vậy mà bà sơ cho hột vịt, thiệt tức muốn bể cái ngực".
Thầy lấy sách mở ra xem. Thầy mĩm cười:
 "Em viết sai còn bực tức nỗi  gì? Tại sao người ta hỏi 'trên trời' mà em trả lời 'dưới đất'. Bà sơ hỏi: trò trả lời cho biết: Hoàng hôn có những gì? Bình minh có những gì? Em trả lời: Hoàng hôn mỗi chiều nắng tắt ngoài đồng, các cô thôn nữ rủ nhau đi về nhà, chú mục đồng ngồi lưng trâu thổi sáo và dẫn trâu về nhà dùng cơm tối. Bình minh lúc năm giờ sáng, những người trong xóm gánh hàng ra chợ bán, họ vừa đi vừa chạy, họ mệt họ thở, họ ngồi xuống quán nhỏ bên đường uống nước trà huế trà tàu..."  
Thầy nói xong cười to, hai con nha đầu cũng cười, mặt tôi bí xị cũng cười theo.
Chiều nay khi đi học về ghé vô thăm thầy, thầy nằm xây mặt vào vách đấp mền. Nghe tiếng động, thầy quay lại nhìn ba chị em tôi. Tôi nhìn thầy ái ngại, mặt thầy đỏ hồng. Tôi lại gần sờ trán thầy, nóng quá!
Thưa thầy bị cảm nặng, thầy ráng ngồi dậy cho tụi em cạo gió cho thầy.
Thầy ái ngại lắc đầu: "khỏi làm phiền mấy em!"
Bạch Trang lấy đồng xu, chén nước lạnh đến bên thầy... thầy không chịu. Tôi đè thầy xuống vén áo sau lưng cho con Trang cạo. Linh Quy đi nhóm lửa nấu cháo, tôi định đứng dậy, Trang nháy mắt ra dấu đè tay thầy, sợ thầy trở mình không cho cạo. Linh Quy nấu cháo xong múc ra chén, đem lại bàn mời thầy dùng cháo với muối. Thầy mệt nhiều đi đứng khó khăn. Tôi đề nghị với tụi nó đi mua lá xông nấu cho thầy xông. Vừa lúc ấy có một chị mặc bộ đồ dài trắng xách giỏ bước vô nhà, thấy chị em tôi bu quanh thầy, chị nhìn cười. Thầy giới thiệu:
Đây là Mai Đình nữ sĩ đó các em, nàng là đồng nghiệp với anh, thỉnh thoảng cô lại đây thăm thầy.
Tôi thân mật:
Thưa cô, hân hạnh chị em em mới biết cô. Tụi em mỗi ngày chúa nhật thường đến thăm thầy mà không được gặp cô. Bữa nay đi học về sớm vô thăm, thấy thầy bị cảm, thân mình nóng như lửa, tụi em đè thầy nằm xuống cạo gió. Thầy dằn co, em phải ngồi đè thầy cho chị em cạo.
Mai Đình cười hắc hắc. "Ảnh lúc này thường bị cảm mỗi chiều, chị không biết cạo gió, chị cho ảnh uống thuốc cảm, đôi khi ảnh cũng bảo là khỏi uống cũng mạnh, tại ngủ ít thành như vậy".
Nghe giọng chị nói sửa giọng tiếng Bình Định, nhưng giọng Bắc cũng còn lơ lớ. Tôi nịnh, khen: "cô có giọng nói êm dịu quá, tiếng Bắc tiếng Bình Định giống nhau, cũng như thầy em nói cả hai thứ tiếng Bình Định và tiếng Huế.
Bạch Trang thấy tôi nói nịnh, hắn khều tôi, "xin chào thầy đi về kẻo tối ở nhà trông. Hơn nữa lúc chạng vạng mà đi về ngang qua miễu Cô Hồn là lãnh đủ".
Trên đường về chị em tôi nói lén, Linh Quy nói cô Mai Đình mà sóng mũi cao như mũi chị Hai chắc đẹp lắm, còn thân hình cô tròn mà không cao bằng thầy mình uổng quá.
Tôi làm ra vẻ hiểu đời:
Ê tụi bây nghĩ sao? Thấy sao? Có để ý không? Còn tao liếc thoáng qua con ruồi bay qua là biết con ruồi nào là đực, con ruồi nào là ruồi cái! Cô Mai Đình yêu thầy lắm đó.
Bạch Trang hỏi:    
Mày căn cứ ở đâu mà mày dám nói đại vậy?
Tao thấy trên miệng túi áo của thầy có thêu hai chữ tréo lại là M. H.
Linh Quy xen vô:
Hèn chi ở dưới nhà bếp sạch sẽ,  nấu ăn thấy để trong tủ lưới, em lấy làm lạ mà em không dám nói.
Tôi cãi. Đâu  phải. Có lẽ bà cụ má của thầy lại nấu cơm cho thầy ăn, hay là các anh em của thầy, tất cả năm người. Bà cụ đặt tên con hay lắm: "Nhơn, Nghĩa, Lễ, Trí, Tôn". Chẳng khác nào má của bà Năm Phỉ đặt tên con: "Công, Thành, Danh, Toại, Phỉ, Chí, Bia, Truyền, Tạt, Để".
Bạch Trang khen: mày hay lắm, hay học lóm của người ta nên mày hiểu nhiều hơn tụi tao. Bây giờ tao đề nghị, chung tiền mua vải, chỉ thêu, thêu khăn tặng thầy kỷ niệm.
Linh Quy tán thành: ừa phải, mỗi đứa thêu hai cái khăn, phải làm cho đẹp, rút rua xung quanh, thêu chỉ tréo trong góc.
Tôi đồng ý nhưng ngẫm nghĩ. "Không được thêu hai chữ, theo tao thấy thầy có nhiều chữ lắm, bữa hôm trước vô tình mà tao coi lén thơ của thầy, một nữ độc giả từ Phan Thiết gởi cho thầy có tên đẹp lắm, Mộng Cầm, lại còn có cô tên Hồng Sương nữa. Như vậy con Trang thêu hai cái, để tên là C.T. , còn Linh Quy hai cái để tên H.S. , phần tao hai chữ M.T. Như vậy là trong sáu cái khăn có tên ba người đẹp."

Một tuần sau, thêu rồi sáu cái khăn. Khăn đứa nào thêu xong cũng nhìn sạch sẽ và đẹp, còn khăn tôi thêu đã xấu mà đen. Khi đem tặng thầy đứa nào cũng mắc cở không dám đưa, đem đi rồi lại đem về. Bữa sau tôi làm dạn kêu to:
Thầy ơi! Tụi nó thêu khăn tặng thầy mà không dám đưa.
 Nhìn phía sau, tụi nó bỏ chạy hết. Tôi cũng chạy ra cửa theo tụi nó luôn, để đại gói khăn bao giấy màu thắt bông trên bàn.
 
Nhà thầy mướn ở gần đường đi ra mé biển, nên thuận đường nhà tụi tôi đi học phải đi ngang qua. Mỗi khi đi ngang, nhớ bẻ vài cành bông đem vô nhà thầy cắm trên bàn thờ Chúa. Thầy sùng đạo, gia đình thầy đạo giòng. Thánh thiện lắm, trên bàn thờ một thập tự giá, quyển kinh. Hôm kinh mai, thầy nhớ lúc nào cũng cầu nguyện.
Sáng chúa nhật hôm đó đi nhà thờ định rủ thầy đi luôn. Ghé vô thấy thầy ngồi bên cạnh chiếc bàn mặt tái xanh. Bạch Trang hỏi thầy, thầy bảo đau bụng, nhỏ ra vẻ chị cả:
Nè con Quy xuống bếp nấu nước gừng cho thầy uống ấm bụng, con Châu đi mua thuốc ỉa cho mau về, thầy uống. Còn tao quét nhà, tội nghiệp thầy, nhà thầy mà chị em tôi xem như nhà mình, muốn làm gì thì làm, nói sao thầy nghe vậy.
Ngày chúa nhựt nhà thuốc tây trên đường Gia Long đâu có bán. Tôi chạy lại tiệm bà Phán Hạt gần chợ, tiệm nhỏ mà bà bán thuốc kiết, thuốc ỉa hay lắm.
Tôi lại mua:
Bà ơi! Bán cho tôi thuốc ỉa.
Bà mang đôi mắt kiếng nhướng lên nhìn tôi hỏi:
Thuốc ỉa hay thuốc kiết? Thuốc kiết là bị kiết lâu ngày, mỗi lần đi khó khăn đau đớn. Còn thuốc ỉa là đi "sông" hoài, hai thứ khác nhau, còn có thuốc xổ ỉa nữa.
Tôi ngơ ngẫn:
Tại chị tôi kêu đi mua thuốc ỉa, đâu có nói mấy thứ kia, bà bán thuốc ỉa cho tôi.
Tôi co giò chạy lẹ về cho mau thầy uống. Bạch Trang hắn thấy tôi về, hắn đón ngay ngoài cửa giựt lẹ gói thuốc trên tay, bước vô rót nước đem lại bàn đưa cho thầy uống.
Thầy ơi! Thuốc nè mau uống cho hết bệnh.
Thầy bưng chén nước để lên miệng, tay cầm gói thuốc nhỏ đã mở sẵn định uống, bỗng đâu thầy coi lại ngoài bao thầy cười hắc hắc.
Chúa ơi! Thuốc này là thuốc xổ, thầy đi "sông" nhiều, phải uống thuốc cầm... sao lại còn uống xổ, may mà thầy coi lại, không chết luôn.
Con Trang nó ký đầu tôi mắng:
Cái con này ngu như con bò, ai biểu mày đi mua thuốc xổ?
Ai biểu mày kêu tao mua thuốc ỉa, tao tưởng thầy ỉa không được, may phải hồi nãy tao mua thuốc kiết về thì nó cũng là ỉa chớ khác gì đâu.
Linh Quy nhỏ đứng sau bếp cười như điên, thét rồi Bạch Trang với tôi cười luôn... may nhờ thầy uống nước gừng, thoa dầu vào rún nên ấm lại bớt nhiều.

Ngày Tết nguyên đán Canh Thìn 1940, đến chúc tết thầy. Buổi sáng đẹp trời vào nhà thấy chị Mai Đình ngồi. Tôi ái ngại:
Thưa cô, năm mới tụi em chúc cô thầy khang an thịnh vượng, hạnh phúc và vui vẻ.
Cô cười bảo:
Nè từ nay trở lên gọi tui là chị cho thân mật. Gọi theo văn nghệ sĩ vì văn nghệ sĩ không có tuổi nghe em. Còn gọi anh Trí theo bút hiệu là anh "Hàn Mạc Tử" cho ra vẻ, đừng gọi thầy, lại còn gọi cô! Chị với anh Trí chỉ là bạn, đôi bạn nghèo...
Tôi ngạc nhiên thơ ngây hỏi:
Ủa mà sao em thấy chị hằng ngày ở đây săn sóc lo lắng cho thầy, có khác nào tình chồng vợ. Sao chị lại phủ nhận tình thầy em?
Chị buồn buồn:
Em tưởng vậy mà không phải vậy! Anh Trí có nhiều người yêu đẹp lại giàu sang, còn chị nghèo nàn, anh coi chị như đứa em gái, mặc dù chị yêu ảnh nhiều...
Ủa ai là người đẹp đâu em không thấy?
Em không tin em đi ra mé biển, em sẽ thấy ảnh cùng người đẹp từ Phan Thiết ra. Cặp tay nhau đi hứng gió.
Tôi tội nghiệp chị Mai Đình, suy nghĩ:  À để em ra biển xem mặt người đẹp!
Từ nhà ra biển rất gần. Sáng nay bãi biển vắng người, ghe chài lưới không ai làm, vì ngày tết. Tìm không thấy thầy đâu, tôi đi dài theo mé biển lên gần "Gành Ráng", xa xa mới thấy hai người cặp tay nhau đi chầm chậm. Tôi chạy một mạch đến sau lưng thầy kêu:
Thầy ơi! Về nhà ăn cơm.
Cả hai cùng quay lại, tôi thở hỗn hễn đưa tay kéo tay thầy nắm chặc.
Thầy đi về ăn cơm rồi còn đánh bài chòi!
Người đẹp nhìn tôi ngơ ngẩn. Thầy nhìn tôi thầy cười, đưa tay sửa mái tóc tôi thân mật.
Coi kìa chạy đi đâu mà tóc tai xơ xác. Bữa nay thầy nhìn em ra vẻ con gái... mặc áo màu cà, đeo kiềng vàng trông đã trộng, thầy sắp được uống rượu... nhưng tánh vẫn trẻ con. À đây em, Mộng Cầm người yêu của thầy.
Tôi bí xị:
Thiệt hả chị? Chị yêu thơ hay là chị yêu như chị Mai Đình nữ sĩ? Hai thứ khác nhau.
Câu hỏi ngây thơ của tôi làm chị bật cười. Chị yêu bài thơ "Trăng ơi trăng, ai mua trăng tui bán trăng cho... " Chị bảo phải chi chị có máy hình, anh em mình chụp để kỷ niệm đầu xuân. Ở Phan Thiết cũng có "Lầu ông hoàng". Tôi cản:
Có máy cũng không nên chụp ba người, kiêng lắm! Em nghe bà ngoại em nói là chụp ba người phải có người chết!
Anh Trí nhớ lại:
Vậy mà bữa trước chụp ba người, có dì Hồng Sương trong đó.

Về nhà tôi nói nhỏ với hai con nha đầu:
Nè tụi bay biết không, hồi sáng lúc ra biển tao kéo tay thầy về ăn cơm, tao thương chị Mai Đình, tao muốn phá đám, tao nắm tay thầy chặc hồi lâu không buông. Nhưng tao cảm thấy...
Bạch Trang nói lẹ:
Phải đó, tuổi dậy thì của mầy bắt đầu biết cảm giác đó!
Tôi nạt to:
Bậy nà, tay thầy như nặng nặng...
Linh Quy làm tàng:
Chị hai nói đúng đó, bàn tay thầy nặng là tại lâu nay thầy kêu nhức mỏi hoài đó!

Ngày tháng lần lượt theo thời gian, thầy bị bịnh ngặt nghèo, người nhà đưa thầy đi xa dưỡng bịnh, biết được thầy lên Gò Bồi nhà người cậu.
Tôi cùng Linh Quy quá buồn, Bạch Trang qua Pháp, thầy lại đi dưỡng bịnh xa. Riêng tôi cũng sắp sửa vô Sài Gòn. Một hôm hai vợ chồng anh chị tôi từ Gò Bồi xuống thăm ba má tôi, tôi hỏi thăm:
Chị Sáu ở trển chị có gần nhà thờ không? Có nhà thương chữa bịnh không? Mỗi khi em lên Lương Tài thăm ngoại mà em không thấy.
Chị bảo:
Chị ở mé trong chợ, nhà thờ ở mé trên, sau nhà thờ là miếng đất rộng, mấy người có đạo họ cất nhà tranh ở đó, lên đó không xa mấy.
Không biết sao chiều nay tôi buồn ray rức, mà từ bé đến giờ chưa có bao giờ biết buồn. Ngồi thẩn thờ dưới giàn hoa thiên lý, trên chiếc võng cột ngang gần cạnh ao sen. Nhớ Bạch Trang, nhớ lại bút hiệu của thầy mà rùng mình tự hỏi, sao thầy lấy bút hiệu "Hàn Mạc Tử". Hàn mạc đến chết! chết trong cảnh nghèo! chết trong cô đơn!. Linh tính làm cho tôi xao động. Tôi thương nhớ thầy vô hạn, tôi khóc nức nở. Linh Quy rửa chén trong bếp bước ra cặp mắt đỏ hoe, hắn thút thít chậm nước mắt nói nhỏ: em nhớ thầy quá à!
Sáng hôm sau chị em tôi theo anh chị tôi về Gò Bồi. Sau đó lên Lương Tài thăm ngoại tôi cách đó ba cây số. Đi bộ lên không xa, ngồi trên chiếc đò nhìn mái chèo rẽ đôi mặt nước, mùi nước mộc mạc thoáng bay tôi càng buồn. Biết rằng chuyến đi này là lần sau chót, không biết ngày nào trở lại.
Lên đến nơi trời đã quá trưa. Vừa lúc đó gặp chị Mai Đình đi chợ về, mừng quá chị em tôi lăng xăng bên chị hỏi thăm thầy. Chị buồn rưng rưng nước mắt:
Hai em ơi thầy bị bịnh nan y, cấm không cho ai lại gần, chỉ có mình chị nuôi cơm nước hằng ngày, thay quần áo sạch sẽ. Chắc thầy khó mà lành được.
Nhìn chị tôi thấy thương hại. Mới cách xa vài tháng mà thân hình chị gầy ốm, già trước tuổi! Linh Quy thơ ngây:
Phải chi hồi đó chị Mai Đình chịu đám cưới, chắc được đứa con nối nghiệp cho thầy.
Mai Đình lắc đầu chán nản:
Không có đâu em, thầy xem chị như đứa em, đến sau có tình cảm yêu thương thì thầy trở bịnh nặng nề...
Tôi thắc mắc:
Như chị là vậy, còn Mộng Cầm, Hồng Sương thì có như chị không?
Thầy đã nói thiệt cho chị nghe như trối trăn, tình  yêu mấy người đó rất sâu đậm, nhứt là Mộng Cầm. Nhưng chưa bao giờ hoen ố. Thầy giữ gìn cao đẹp, hứa hẹn sẽ đi đến hôn nhân thật sự.
Chị cố gắng cho chị em thăm gặp mặt thầy lần chót, trước khi em lìa quê đi xa. Em rất lo lắng tuổi hai mươi tám của thầy, năm nay bị sao La Hầu nặng lắm!

Theo chị đi vào đường nhỏ gần nhà thờ, phải đi tuốt tận trong xa. Một mái nhà tranh nhỏ quay mặt ra giữa cánh đồng. Trong nhà đặt một chiếc giường nhỏ cho thầy nằm, một bàn bốn ghế gỗ, thứ gỗ rẻ tiền, một bàn thờ Chúa, có một chiếc ghế bố xếp lại dựng bên góc nhà.
Thầy nằm trên giường buông tấm mùng trắng. Tôi rón rén bước lại gần vén màn, tôi bụm mặt  khóc, Linh Quy khóc theo. Thầy nói nhỏ trong đau đớn:
Đừng khóc! Giờ phút này được gặp mặt các em vừa kịp lúc Chúa đã cất phần anh do ý Chúa! Con người  "sanh lão bệnh tử", ai ai trên thế gian này sao tránh khỏi. Các em còn nhỏ, lúc nào nhớ đến thầy, cầu nguyện cho thầy, dầu hai mươi, ba mươi hay năm mươi năm nếu còn mạnh giỏi trên trần gian.
Tôi nghẹn ngào, chị Mai Đình đưa mắt nhìn tôi, tôi hiểu ý bước ra, liếc thấy trên tay thầy quấn chiếc khăn nhỏ của ba chị em tôi thêu tặng.

Trưa nay trong trường nữ công Mỹ Ngọc, tôi được thơ Linh Quy từ Qui Nhơn gởi vô cho biết ngoại của tôi bệnh nặng về gấp.
Trên chuyến xe lửa về  đêm lăn bánh trên đường sắt rền vang, lòng tôi bâng khuâng trông mau đến nhà, có dịp lên Gò Bồi thăm thầy luôn.
Về đến sân ga nhỏ "Diêu Trì", một buổi chiều cuối thu mưa rơi ảm đạm. Hàng cây ngô đồng đã rụng lá đứng xơ vơ.
Linh Quy đón tôi nở nụ cười mừng rỡ. Trên toa xe trở xuống Qui Nhơn khoảng đường gần mười cây số. Tôi hỏi vội em:
Sao ngoại đau bịnh gì hở em?
Em tôi buồn:
Chị ơi! Bịnh ngoại là bịnh già tuổi cao, một trăm tuổi như ngọn đèn lụn dầu chưa biết tắt lúc nào, nên cần chị phải có mặt... Còn thầy của chị em mình đâu còn nữa! Thầy đã ra đi vĩnh viễn mới đây cũng một sáng thu, trong nhà thương Tuy Hoà.
Tôi như muốn đứng tim. Không khóc được, bàng hoàng như trong giấc mơ, tôi không biết nói sao cho vơi đi nỗi lòng sầu thương người thầy, mà chị em tôi coi như là cha sinh.

Bốn giờ chiều hôm đó, tôi theo em lên đèo "Vũng Dừa" vô làng Qui Hoà nhà thương cùi. Khi đi ngang qua "Lầu ông hoàng", hình ảnh thầy cùng chị Mộng Cầm hiện ra cảnh cũ. Nhìn qua chân đèo, mé trước là một xóm nhà to nhỏ, có nhiều hàng thông xanh đứng xấp lớp bên nhau. Mé kia là biển xanh, mặt nước lững lờ buồn xao động. Xa hơn nữa là một nghĩa trang có những ngôi mộ trắng. Chị em tôi đến nơi, tìm đến nghĩa trang, chẳng bao lâu tôi đã đứng trước ngôi mộ vừa mới đắp, có dựng mé trước một cây thập tự giá to. Tôi quỳ xuống lâm râm cầu nguyện.
"Thầy ơi! Có đau đớn nào cho bằng tử biệt sinh ly. Em khóc thương thầy tuổi đời mới hai mươi chín, đã lìa xa kẻ thân yêu ra đi về với cát bụi. Nằm đây hiu quạnh có một mình. Nhưng tên tuổi của nhà thơ Hàn Mạc Tử chắc là chẳng ai quên. Em cầu mong sao em được sức khỏe cho đến tuổi già, những ngày giỗ kỷ niệm của thầy, em sẽ nhắc lại cho cùng các bạn nhớ tên thầy Nguyễn Trọng Trí, đã sống trên quê hương Qui Nhơn hai mươi tám năm chào đời... "

Chiều xuống dần, mặt trời khuất sau đỉnh núi, gió biển thổi mạnh, tiếng thông reo vi vu bất tuyệt hoà lẫn đàn chim chiều bay cao về tổ cất tiếng kêu lẻ bạn.
Kính dâng hương hồn thầy về nơi cõi bình an với Chúa. Đứa học trò của thầy vẫn nhớ "Cảnh xưa thầy cũ" trong tim mãi mãi.

Huyền Châu



------------
Nguồn: VĂN, giai phẩm xuân Tân Mùi
Số 102 & 103, tháng 01/1991








Wednesday, December 19, 2018

CHUYỆN RUỒI BU




Nguyễn Thạch Giang



Trường Trung học cơ sở Tân Lập hôm nay vui như một ngày hội, thầy giáo cô giáo ăn mặc đẹp lăng xăng đi tới đi lui í a í ới gọi nhau, học trò thì tụm năm tụm bảy chen lấn coi ban văn nghệ của trường đang tập hát tập múa trình diễn phúc khảo, chuẩn bị cho buổi thi đua văn nghệ giữa các cơ quan toàn tỉnh.
Cô giáo Mỹ Lan bước vào văn phòng thầy hiệu trưởng, cô có một việc phải hỏi cho ra lẽ. Nhạc cảnh "Điệu múa cồng chiêng" do cô dàn dựng sao hôm nay có sự thay đổi. Tốp múa nam vận khố giả người dân tộc Tây nguyên cho giống 'người thật việc thật' ngoài đời, sao hôm nay lại mặc quần phía trong là sao?. Thầy hiệu trưởng vừa nói vừa nhìn vào cổ áo cô giáo Lan ngồi đối diện. Hôm nay cô mặc áo dài cổ thuyền, cổ áo khoét hơi sâu để lộ cái bộ ngực căng tròn khiến cho thầy không thể không nhìn vô chỗ đó.

"Tôi có hội ý với ban giám hiệu về chuyện đó, mọi người đều e ngại nếu để mấy em vận khố như người thật ngoài đời lên sân khấu, sợ không qua được khâu "duyệt".
                         
Cô Mỹ Lan cũng đoán được câu trả lời, nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ, cô kiếm cớ vô phòng thầy hiệu trưởng chỉ để có chút ít phút riêng tư cùng thầy. Hôm nay cô ăn mặc đẹp hở trên hở dưới, cô muốn khoe với thầy, và cũng bởi cái cách nhìn của thầy khiến cô có cảm tưởng mình đẹp.

"Người mình ở đây còn hơi nệ cổ, chớ em nghe nói bên Tây Pa Ri có màn múa gì đó nổi tiếng lắm, mấy cô vũ công đều để ngực trần... thì đã sao".

Thầy Lâm trố mắt chu miệng thế à thế à. Cô giáo Mỹ Lan đứng dậy:

 "Em trở qua xem chúng nó tập dợt tới đâu rồi, chút nữa thầy có ghé thăm không?".

"À, có, có"

Thầy nhìn theo dáng cô bước ra cửa, hôm nay cô mặc áo dài màu thiên thanh, chiếc quần trắng vải hơi mỏng gió thổi tà áo để lộ chiếc quần lót màu hồng. Mùi thơm thoảng thoảng trong gió, thầy thích người đàn bà có chút son phấn và thơm mùi nước hoa.

Cô Mỹ Lan là giáo viên chủ nhiệm lớp 6A1. Hôm nay vừa bước vào lớp là cô phải xử một vụ kiện cáo. Trò Lê Phong báo cáo trò Nguyễn Tân và trò Đặng Phi nói tục chửi thề.

"Thưa cô, sáng nay em trên đường tới trường, bạn Tân và bạn Phi đang đứng nói chuyện trước cổng trường, gặp em bạn Phi đưa "ngón tay thối" vô mặt em và nói: 'Mầy đừng ỷ mầy là con cán bộ mà lớn lối hù dọa tao, tao đéo sợ'. Bạn Tân liền nói 'Á đù' ."
         
Cô giáo kêu trò Tân và trò Phi lên hỏi tội. Cô hỏi trò Tân:

"Em bắt chước ai nói á đù"

"Bà nội của em, bà cứ suốt ngày á đù á đù nên em thấy tiếng đó cũng hay hay, em đâu biết tiếng đó bị cấm"
 
Cả lớp cười một cái rần.    
Cô giáo lấy thước bảng gõ lên bàn giữ trật tự. Cô nói với trò Tân:

"Mình là người có văn hoá, không nói tục chửi thề. Em đứng giữa lớp nói lời xin lỗi, và hứa với các bạn là từ nay không nói á đù"

Trò Nguyễn Tân ngượng ngùng bước ra giữa lớp, đứng trước các bạn học nói lời tuyên hứa.

"Tôi xin hứa từ nay không nói... không nói..."

Một vài bạn học phía dưới nhắc: "á đù! á đù!". Tội nghiệp thằng nhỏ cứ ngập ngừng, không biết vì nó sợ quá hay sao mà cứ ngập ngừng...
Cô giáo nóng lòng, lấy thước bảng nhịp lên bàn kêu bốp bốp nghe phát kinh. Cô lớn tiếng: "Nói gì?"
Cả ba mươi học sinh trong lớp đồng thanh tiếp sức nói một tiếng rõ to: "Á đù!"
Trò Phi nảy giờ thấy cô giáo xử tội bạn Tân mà nó sợ điếng hồn. Giờ tới phiên nó phải ra trước vành móng ngựa. Nó run run bước ra giữa lớp nói lời thú tội.

"Tôi là Đặng Phi xin hứa với các bạn từ nay không nói... không nói..."

Cả lớp ba mươi học sinh bỗng cười rầm rầm vang vội. Cô giáo ngó thằng học trò tội đồ, cô cũng không nhịn được... bật cười hô hố.

"Ối giời ơi! Anh trai 'đéo sợ', anh ngoài đường lớn lối giờ lên đây té đái trong quần"

Cả lớp lại cười ầm ầm.

"Cho anh hôm nay nghỉ học về nhà thay quần".
 
Tiếng cười vang lộng đến văn phòng thầy hiệu trưởng, nảy giờ thầy nghe văng vẳng khi thì "á đù" khi thì "đéo sợ". Thầy bước đến lớp cô Mỹ Lan tìm hiểu. Khi nghe cô trình bày sự việc, thầy chu miệng:

"Học sinh chửi thề nói tục, đúng là chuyện ruồi bu! Phải họp hội đồng giám hiệu xử lý!"

Cái chữ "chuyện ruồi bu" đó thầy học được từ hôm đi Sài Gòn chơi cho biết, cũng đã lâu lắm rồi.  Thầy thích câu đó lắm, đã hơn hai mươi năm qua vậy mà tới giờ thầy cũng còn thích... "chuyện ruồi bu".
     
Hội đồng giám hiệu trường trung học cơ sở Tân Lập xử phạt cảnh cáo, trò Nguyễn Tân và trò Đặng Phi nghỉ học một tuần vì tội nói tục chửi thề.
Cô giáo Mỹ Lan hôm nay men theo đường làng đến nhà trò Nguyễn Tân làm việc. Cô sẽ thông báo cho phụ huynh biết là em đã nói tục chửi thề, bị phạt nghỉ học một tuần. Cô sẽ tìm hiểu gia cảnh của em và động viên gia đình trông chừng dòm ngó không để em chơi với bạn xấu.
Trò Tân mở cửa, gặp mặt cô giáo nó hoảng kinh nói "á đù" rồi vọt lẹ ra nhà sau trốn.
Một người đàn bà và đứa cháu gái đang ngồi trên chiếc chõng tre gói bánh tét, có lẽ là bà nội của em. Bà thấy cô tưởng người đến đặt bánh, liền hỏi:

"Cô đến đặt mua bánh tét?"

"Dạ không, cháu là giáo viên chủ nhiệm lớp của em Tân"

Bà nội và đứa cháu gái tiếp tục công việc gói bánh, tưởng người đến đặt bánh thì bà đứng dậy đi lấy mẫu cho xem và nói giá. Còn ba cái chuyện nhà trường chuyện học hành thì không có gì phải vội.
Cô giáo Mỹ Lan đứng xớ rớ, chủ nhà không buồn mời ngồi thì mình tự động tìm chỗ ngồi. Nhưng cô nhìn quanh mà không tìm được chỗ nào ngồi xuống mà không bị dơ cái quần. Cô muốn kết thúc nhanh câu chuyện.
 
"Cháu đến đây là để báo cho bác biết, trò Tân nói tục chửi thề bị phạt nghỉ học một tuần"

"Á đù!"

Bà nội nói á đù một cách tự nhiên, như là không còn chữ nào hay hơn nữa để trả lời cho một bản án. Bà nhìn cô, nói cho cô rõ hơn hoàn cảnh của em.

"Cha mẹ nó vô tuốt trong Bình Dương làm công nhân kiếm sống. Nó đi học được ngày nào hay ngày đó, một vài năm nữa cha nó cũng về dẫn nó vô đó tìm việc".

Cô giáo bước đến cửa nhìn ra ngoài, gió lộng bụi bay mịt mù, xứ này nắng bụi mưa bùn, đất cày lên sỏi đá. Trai gái trong làng lớn lên không ra Bắc thì cũng xuôi Nam tha phương cầu thực. Cô nhẹ bước ra về, trời đang vần vũ mây đen báo hiệu một cơn giông sắp đến.
   
Anh Đặng Tính là cha của trò Đặng Phi, hôm nay anh đến trường gặp thầy hiệu trưởng, để nghe thầy mắng mỏ về việc con trai anh nói tục chửi thể bị đuổi học một tuần. Anh còn nghe ông phàn nàn là thằng con anh còn thiếu tiền phí ủng hộ đội banh và ban văn nghệ nhà trường.
Anh nói phân trần cùng thầy hiệu trưởng:

"Thầy thông cảm, tôi với mẹ nó làm quần quật suốt ngày mà cũng không đủ tiền đóng "phí". Thầy tính coi, một người dân bây giờ cõng bao nhiêu loại "phí", xã thu phí, huyện thu phí, tỉnh thu phí, đi ra đường cũng phải đóng phí".

Thầy hiệu trưởng làm thinh gật gật đầu như đồng ý là lời anh nói cũng phải, nhưng ông nghĩ thầm trong bụng, ở đây ai cũng vậy đâu phải chỉ mình anh.
Anh Tính cởi nút áo trên cho mát, để lộ trên ngực cái hình xăm đầu lâu cướp biển, nghe nói trước đây anh từng theo tàu Đài Loan đánh cá mấy năm liền. Anh để tóc dài loả xoả, anh mà tô thâm quầng mắt thì không khác chi anh chàng tài tử người Mỹ đóng vai cướp biển Ca Ri Bê.

"Chúng tôi bận rộn suốt ngày, mọi sự mong chờ thầy cô dạy dỗ cho cháu".

Anh ghé sát ông hiệu trưởng, nói nhỏ nhỏ như sợ ai nghe:

"Thầy biết không, nó hư lắm, hôm trước nó lấy cái phone khoe tôi hình chụp cô giáo mặc quần mỏng thấy cả quần sịp màu hồng".

"Chuyện ruồi bu!"

Thầy hiệu trưởng bước tới lấy lon nước ngọt mời anh Tính uống giải nhiệt. Thái độ của thầy thay đổi hẳn.

"Tụi học sinh trẻ bây giờ dám chụp hình lén cô giáo! Đúng là tụi nó làm chuyện ruồi bu".

Cái cách nhìn của thầy, anh Tính cũng hiểu là thầy muốn hỏi là anh giải quyết tấm hình đó ra sao.

"Tôi bắt nó xoá tấm hình và không được nói với ai"

"Phải, phải", thầy hiệu trưởng đồng tình.

"Nhưng tôi không chắc là nó không còn tấm hình nào khác"

Ông hiệu trưởng cảm thấy nụ cười mĩm của anh Tính có vẻ gì hơi... "đểu".

"Tôi thông cảm hoàn cảnh của gia đình anh, thôi ba cái vụ đóng phí của cháu được miễn, anh về bảo cháu ngày mai trở vô học bình thường".

"Cảm ơn thầy hiệu trưởng"

oOo

Người tình năm xưa của Mỹ Lan bỏ đi biền biệt nay trở về. Hôm nay chàng hẹn cô ở quán cà phê sân vườn. Vừa gặp mặt chàng ôm cô hôn đắm đuối. Mỹ Lan tê cứng người trong vòng tay người yêu. Bao năm qua chàng vẫn vậy, vẫn nhiệt tình say đắm.

"Em có còn thương anh không?"

Mỹ Lan ngước nhìn người yêu không nói, không cần nói. Anh hiểu em quá mà, người tình đầu tiên và cuối cùng của em. Mình đã trãi qua bao nhiêu lần đắm say trên bờ ruộng, bên triền núi, bên bến sông.

"Em có muốn đi theo anh không?"

Mỹ Lan ứa nước mắt, "không theo anh để rồi chết già ở cái xó xỉnh này sao".

Mỹ Lan suy nghĩ suốt một đêm, đi dạy học với đồng lương cô giáo mấy năm qua nàng cũng chẳng để dành được gì. Người yêu sau mấy năm bôn ba thì cũng tay trắng. Cô nhìn quanh nhà không thấy gì có giá trị để bán, mà cũng chẳng biết hỏi mượn ai.
Người tình vẽ đường cho cô đi, cô suy tính mấy hôm liền, sau cùng đành vậy, không còn cách nào khác.
Thầy hiệu trưởng Hoàng Lâm có vợ làm trưởng phòng hành chánh bên thị xã. Vợ thầy rất giỏi kiếm tiền, bà có hồ nuôi tôm, bà có phần hùn kinh doanh nhà trọ cho mướn. Trong huyện này có thể nói nhà thầy thuộc loại giàu có tiếng.
Thầy Lâm có tật mê gái, thầy nhìn gái không cần che đậy. Cô giáo Mỹ Lan có lần mặc quần mỏng để lộ cái quần lót màu hồng, thầy nhìn thấy một lần mà cứ nhớ hoài. Mỹ Lan không khó khăn lắm để gài bẫy cho thầy sa lưới.  Hôm nay được cô hẹn ra nhà nghỉ, thầy chộn rộn cả đêm chờ tới lúc được chính tay mình cởi chiếc quần lót của nàng.
Vừa bước vào phòng nhà nghỉ, thầy lẹ lẹ cởi đồ làm ăn chụp giựt như kiểu đi chơi gái điếm. Mỹ Lan ngán ngẫm tìm cách câu giờ, không phải nàng hứng thú gì cái việc lên giường với thầy Lâm. Nhưng nàng muốn từ từ để nàng thừa cơ hội đến mở khoá chốt cửa. Nàng đã có âm mưu với người tình. Giữa chừng chàng sẽ mở cửa xông vào làm dữ, cũng chỉ là để gài thầy Lâm vào thế bí phải móc tiền ra chung.
Bà vợ thầy Lâm đang làm việc, bà nhận được một cú phone báo cho biết chồng bà đang vô nhà nghỉ với cô giáo Mỹ Lan. Bà tức tốc phóng xe đến hiện trường. Bà hầm hầm mở cửa xông vào. Thầy Lâm thấy bà la một tiếng thất thanh "á đù".
Bà cầm cái phone quay phim lia lịa, cô giáo Mỹ Lan đang nằm trên giường người chỉ mặc cái quần lót. Bà bước đến cúi xem thằng nhỏ của ông chồng, coi nó còn nguyên hay sứt mẻ một tí nào. Bà kề mũi vô chỗ đó ngửi mùi, bà có nghề, chồng bà đi chơi về bà chỉ cần ngửi mùi chỗ đó là biết ông già dịch này có lén phéng mần ăn với con nào không.

"Tôi đã bắt tại trận, tôi đã quay phim chụp hình các thứ, cô liệu hồn bỏ xứ mà đi, cô mà còn lén phéng với chồng tôi coi chừng tôi, tôi không để cô yên đâu nhe".

Mỹ Lan nổi nóng nói cứng, đánh phủ đầu:

"Bà có muốn 'lai trym' thì cứ việc, có chết thì chết chùm chớ chẳng phải mình tôi mà tôi sợ"

Thầy Lâm mặc quần áo kéo vợ ra cửa đi về, Mỹ Lan nói với theo... "đéo sợ".

Người tình của Mỹ Lan đứng bên ngoài hốt hoảng khi thấy vợ thầy Lâm mở cửa xông vào. Anh đứng phía ngoài nghe ngóng, chừng thấy hai người bỏ đi anh mở cửa bước vô trong.

"Em có sao không? Bả có hành hung em không?"
"Không, nhưng bực hết cả mình"
Người tình bước đến ngồi xuống vuốt ve an ủi Mỹ Lan.

Anh chàng lễ tân thấy thầy Lâm ăn vụng dẫn cô giáo vào nhà nghỉ. Chừng thấy vợ ông đến bắt ghen thì biết có chuyện. Lúc vợ chồng ông ra về, chờ một lúc lâu vẫn không thấy cô giáo Mỹ Lan đi xuống, anh sợ có chuyện chẳng lành bước lên phòng xem sao.
Vừa mở cửa phòng anh tá hỏa, cô Mỹ Lan trần truồng đang ngồi lên mình một người đàn ông không một mãnh vải.

"Á đù"

"Xin lỗi, xin lỗi! Tôi tưởng mọi người đã đi về"

Anh vội vàng bước ra ngoài, người tình của cô Mỹ Lan bước đến khoá cửa, nói với theo:

"Mày làm như mày chưa từng thấy qua"

Chàng bước đến giường tiếp tục cuộc vui. Mỹ Lan nói nũng nịu:

"Hỏng chịu đâu, hỏng chịu đâu! Sao cục cưng để cho người ta thấy của quý của cục cưng"

Cả hai ôm xoắn lấy nhau cười vang trững giỡn.

Câu chuyện ruồi bu thầy hiệu trưởng dẫn cô giáo vào nhà trọ bị vợ bắt gặp được che đậy cẩn thận. Vợ thầy hiệu trưởng cũng hiểu, có làm lùm xùm thì mình cũng gánh phần thiệt thòi, nhà tan cửa nát. Chết chùm cả lũ. Thôi thì thí cho nó một ít tiền, tống cổ nó đi cho khuất mắt.
Cô giáo Mỹ Lan âm thầm rời bỏ ngôi trường trung học cơ sở Tân Lập, âm thầm rời bỏ xóm làng không một lời từ giã. Không ai biết cô đi đâu, ra Bắc hay xuôi Nam, hay là biết đâu chừng cô đã... vượt biên giới.

















Wednesday, December 12, 2018

QUÀ GIÁNG SINH



Nguyễn Thạch Giang


Chị Hường nghe thằng con trai rủ cha nó đi shopping tìm mua quà Giáng sinh, chị sẵn dịp tháp tùng đi theo coi có gì đẹp mà rẻ mua gởi về cho mấy đứa cháu bên Việt Nam.
Lúc bước ra xe thằng con vỗ vai mẹ: "Má thích cái gì để con mua tặng má một món quà nhe!". Chị Hường cười cười nhìn thằng con nói nửa đùa nửa thật: "Thôi! má lấy tiền không lấy quà", thằng con và cha nó bật cười.

Gia đình chị Hường qua Mỹ được hơn mười năm, lúc mới qua thằng con trai út này chỉ mười bốn chớ mấy, vậy mà giờ đã hăm bốn. Bữa nay có bạn gái bày đặt đi mua quà Giáng sinh tặng bồ. Nó học tạm được, cố gắng vừa học vừa làm từ từ cũng lấy được bằng bốn năm. Nó là đứa con ngoan nhất nhà, giờ có việc làm tháng nào cũng góp tiền nhà phụ giúp ba mẹ. Thằng anh nó học giỏi hơn, cũng có bằng bốn năm đại học, làm IT trong hãng điện tử của Nam Hàn. Chị Hường bộc bạch với thím Năm hàng xóm, thằng này xài sang mặc đồ hàng hiệu lại hay đi ăn tiệm, đi xe mới.
Lúc vợ chồng chị qua Mỹ, đứa con gái lớn kẹt ở lại Việt Nam, giờ cũng lãnh nó qua được rồi, hai vợ chồng nó theo gia đình bên chồng làm nail ở Florida.

Vợ chồng chị Hường vừa mua được căn nhà mobile home tháng rồi. Nhân dịp lễ Giáng sinh sắp đến, hai thằng con đòi mua cây thông trang hoàng đèn nhấp nháy ăn mừng nhà mới. Hồi nào tới giờ gia đình chị không có lệ tặng quà Giáng sinh, chị nói nội cái vụ lo quà Tết cũng đủ mệt rồi.
 
Xứ Mỹ vui nhất mùa này, từ sau lễ Tạ Ơn cuối tháng Mười Một, hàng hóa tuôn về tràn ngập các khu mua sắm, mấy nhà lối xóm nhà nào cũng treo đèn kết hoa trông thiệt đã con mắt.
Vừa bước vào trong cửa hàng, chị Hường nói hai cha con đi tìm lựa đồ mua, chừng nào xong lại kiếm chị ở khu hàng bán quần áo giảm giá. Lúc nào vô đây chị cũng tới khu "clearance sales" trước, chị ham quần áo hàng hiệu giảm bảy tám chục phần trăm, nhiều cái thiệt đẹp mua chưa tới mười đồng. Chị mua gởi về cho mấy đứa cháu bên Việt Nam, con của ông anh bà chị và mấy người em. "Anh em của ổng đều ở Mỹ, chớ bên phía tui, chỉ mình tui là ở Mỹ, mấy người kia đều ở Việt Nam". Chị nói với thím Năm hàng xóm khi thím hỏi sao thấy chị đi gởi đồ về Việt Nam hoài vậy, gởi cho ai ở bên đó.
Ông xã chị Hường và thằng con đã mua xong mà chị Hường vẫn còn say mê chọn lựa, chị nói hai cha con đi chơi lòng vòng đi, khi nào xong chị gọi. Thường chị đi "shopping" một mình, "đi với ổng lần nào cũng bị cằn nhằn bà lựa gì mà lâu dữ vậy". Lúc ông xã và thằng con trở lại, chị Hường miễn cưỡng ôm đống quần áo đi tính tiền. Nhìn hàng người đứng xếp hàng chờ trả tiền, chồng chị lắc đầu ngao ngán. "Tới phiên bà chắc cũng cả tiếng đồng hồ", ông này có tật hay cằn nhằn.
Lúc bước ra xe đi về, thằng con chị chắc đói bụng hay sao mà mặt mày nhăn như khỉ, rồi nó lại bày đặt trách móc bà già:
"Sao con thấy má tối ngày cứ lo gởi về Việt Nam, con ở đây chưa bao giờ được má tặng một món quà!"
Chị Hường nhìn thằng con, xuống giọng nhỏ nhẹ phân trần:
"Con ở đây đầy đủ đâu thiếu thứ gì, con nhận quà con đâu có mừng, chớ mấy người ở Việt Nam, khi nào được quà Mỹ họ mừng dữ lắm"
Chồng chị Hường trề môi.
"Ở bên Việt Nam giờ cái gì cũng có, người ở bển còn giàu hơn mình ở đây. Bà mua ba cái quần áo tồn kho bán dẹp tiệm, gởi về bển cho người ta chê"
"Ai mà chê! Nhà tui không có ai chê. Có bên nhà ông, có anh em ở Mỹ, nhận đồ Mỹ hoài nên không thấy quý"

Chị Hường ứa nước mắt nhớ lại hồi trước, hai chị em mỗi lần sang nhà thím Ba hàng xóm, được thím cho ăn kẹo sô cô la từ Mỹ gởi về,  "Kẹo gì mà nó ngon cực kỳ!". Khi nào thấy thím khui thùng quà, hai chị em cứ xuýt xoa sao mà đồ ở Mỹ nó thơm dữ vậy hè. Ngày ấy hai chị em cứ ước ao  phải chi mình cũng có người thân ở Mỹ.

"Bà ở đây lo đi canh mua hàng sale, lo đi mua từng cây kim sợi chỉ, tưởng gì, gởi về bển chai dầu xanh Con Ó cho họ xài họ cũng đem bán"
Chị Hường nhìn chồng, sao ông nói chi lời độc địa, chị ứa nước mắt.
"Bởi vì nghèo quá nên hèn"
Chị bỗng ôm mặt khóc nức nở.

Thằng con không hiểu sao có nhiêu đó mẹ lại khóc ngon lành. Chồng chị Hường thấy vợ mình khóc trong bụng có hơi áy náy, lúc về đến gần nhà anh bỗng khều thằng con nói nhỏ:
"Hay là mình ghé quán kiếm cái gì ăn, bữa nay đi ăn buffet đi, má mày giận rồi kìa, về nhà bả không có nấu cơm đâu"
Chị Hường ngồi làm thinh không nói, bình thường chị sẽ bàn ra, "thôi! ăn tiệm chi cho tốn tiền, bữa nay thứ bảy, một người cũng phải ba chục, rồi thêm tiền tip tính ra cả trăm chớ ít sao".
Lúc xe đậu ở parking, thằng con mở cửa xe cho chị xuống nói nho nhỏ: "con xin lỗi má! má vô ăn với ba".
Thằng con trai ngoan của chị, nó đâu có lỗi gì, thấy điệu bộ của nó chị thấy tội nghiệp nó quá! Thấy thương nó quá. Lúc ăn nó cười cười kiếm chuyện nói chị vui. "Hồi nãy má khóc con có chụp hình, hôm nào cho má coi, má khóc còn hay hơn cô đào đóng phim bộ". Chồng chị Hường nói với thằng con, "con gởi vô cái phone của ba, ba để dành, về già cho má mày coi".
Lúc ngồi trên xe về nhà, chị Hường hết giận lấy tay mở gói đồ coi hồi nãy cha con mua gì. "Nó mua hai chai dầu thơm, cho má nó một chai, cho con bồ nó một chai". Lúc bình thường chị sẽ hỏi nó giá bao nhiêu, nhưng hôm nay chị làm thinh, tự nghĩ thằng con của mình không mua thì thôi, chớ nó mua là mua hàng xịn. Mấy đứa con của chị, tụi nó thích ăn gì cứ việc ăn, ly nước mía bảy đồng uống một lần hai ly, thích mua gì cứ việc mua chớ không chờ on sale giảm giá như vợ chồng chị.

Bước vô nhà thấy thằng con trai lớn đang loay hoay trang trí cây thông Noel, thằng này ngon chơi cây thiệt không chơi cây giả. Đèn chớp nháy xanh đỏ chị thấy căn nhà vui vui ấm cúng hẳn lên, chị bỗng cảm thấy thương cái mái ấm gia đình này quá.