Saturday, June 30, 2018

VÌ YÊU



Nguyễn Thạch Giang


Một buổi sáng lúc đang ngồi quán uống cà phê với mấy người bạn già, ông Năm bỗng cảm thấy khó thở tức ngực, đau chịu không được đến đỗi phải đứng dậy bỏ về giữa chừng. Tưởng là sẽ qua khỏi như những lần trước, dè đâu cơn đau ngày một nặng, ngày hôm sau vợ con đưa ông lên Sài Gòn chữa trị.
Sau khi làm xét nghiệm các thứ, bác sĩ nói lời xin lỗi, chúng tôi bó tay, ông bị ung thư phổi đến thời kỳ cuối.
Vợ con chỉ còn biết khóc, bà con lối xóm hay tin đến thăm viếng chật nhà.
Ông Năm bình tĩnh nén cơn đau, đau thể xác thì ít mà đau trong lòng thì nhiều. Đã đành xưa nay "Trời kêu ai nấy dạ", nhưng ông ra đi lúc này còn một điều vướng mắc trong lòng ông không đành mang theo xuống mồ.

Con cháu nghe ông bịnh nặng hết đứa này đến đứa khác về thăm. Tụi nó xúm lại bàn cách này cách khác, không thuốc tây thì thử xoay qua thuốc ta dược thảo, thậm chí có đứa còn đòi đưa ông đi cúng thầy cúng bà. Nhưng ông cương quyết không nghe, "thôi con! Kéo dài chi mấy cái chuyện vô ích đó".
Từ hôm biết là không còn sống được bao lâu nữa, ông cảm thấy nhớ thằng con trai út da diết, đứa con ngoan hiền cha mẹ thương nhất nhà, đã bỏ đi biệt xứ hai mươi năm không về. Vì yêu. Nó đã yêu một người mà cha mẹ anh em giòng họ không ai bằng lòng. Người đàn bà chồng chết có ba con.

Hai mươi năm trước, con trai ông vừa tốt nghiệp đại học kế toán tài chánh, có một việc làm rất tốt trong ngân hàng quốc gia ở thành phố. Trời xui đất khiến cho nó gặp người đàn bà đó. Lúc hay tin, ông nhất quyết ngăn cản. Con gái ở xứ này thiếu gì, ba bốn đứa sẵn lòng chờ đợi nó, vậy mà nó không ưng, lại nhào vô con mẹ ba con, lớn hơn nó cả mười tuổi.
Lúc đầu ông còn nhỏ nhẹ khuyên lơn, "tình yêu gì con! Mày có ăn học mà sao thiệt là mù quáng mê muội". Thằng con ông làm thinh không dám cãi, "nhưng nó bỏ con nhỏ đó được một thời gian rồi hai đứa cũng xáp lại". Ông làm dữ ra lệnh tối hậu: "mày mà còn tới lui với con đó thì đừng về nhà này nữa".
Thằng con trai ông đi mất biệt hai mươi năm không về.

Con cháu tụ về đông đủ, dù không ai muốn nói tới nhưng ngày đó phải đến. Ông mở lời trước, về việc lo chuyện hậu sự cho ông. Ông muốn được nằm cạnh cha mẹ trong khu mồ mã của gia đình. Bao năm làm lụng vất vả, ông bà chỉ "đủ ăn" nuôi các con khôn lớn. Ông không có tiền bạc hay tài sản gì để lại cho các con. "Ba má chỉ có căn nhà này, nhưng ba má muốn giữ nó lại như là của hương quả, để làm chỗ thờ phượng cúng kiến ông bà". Các con ông tuy không giàu có, nhưng đứa nào cũng có của ăn của để, đồng thanh nói: "Xin ba má đừng lo, tụi con tự làm kiếm sống được rồi, căn nhà này không ai được tranh giành chia chác".
Xưa nay trong nhà này ông quyết định mọi việc, tính ông lại hơi khó, hễ ông nói là không đứa nào dám cãi. Giờ ông bịnh nặng, có nên cho thằng con trai út của ông biết tin?. Ông chưa lên tiếng không đứa nào dám hó hé.

Mấy hôm nay ông hơi mệt lúc nào cũng muốn nằm nghỉ trên giường. Ông bảo mấy đứa nhỏ khiêng cái giường ngủ của ông đặt nơi phòng khách gần cửa sổ ngó ra sân trước nhà. Ông muốn nhìn bầu trời tươi đẹp ngoài kia, ông muốn nghe tiếng xe chạy ngày đêm lúc nào cũng bóp kèn in ỏi, ông muốn nghe tiếng rao hàng lãnh lót của mấy người đi bán dạo, ông muốn nghe tiếng người cười nói lao xao. Và ông hằng mong đợi, ngày xưa cũng tại cửa sổ này, chiều nào ông cũng ngồi chờ bóng dáng thằng con trai yêu thương của ông đi học về.

Buổi trưa nằm lim dim mơ màng, ông bỗng giật mình khi nghe tiếng xe thắng gấp ngoài trước đường lộ, ông đưa mắt nhìn, người đàn ông nói gì đó với người tài xế rồi nhẹ mở cửa rào bước vào trong. Tim ông bỗng đập rộn ràng, làm sao ông không nhận ra thằng con trai yêu thương của ông dù đã hai mươi năm không gặp. Vợ ông ra mở cửa, hai mẹ con ôm nhau khóc oà. Thằng con bước vào nhà theo mẹ đến bên giường ông nằm. Ông nhắm mắt giả bộ say ngủ, thằng con đứng xớ rớ vẻ mặt đau khổ. Ông ngồi bật dậy.
"Mày biết tao gần chết mới mò về đây phải không?"
Thằng con quỳ xuống khóc lóc: "Ba có thương con thì tha lỗi cho con". Vợ ông khóc rống lên, nhìn thằng con ông thấy tội nghiệp cho nó quá.  Vì đâu nên nỗi thế này hả con.
"Hồi xưa chiều nào ba cũng ngồi đây chờ con đi học về, từ lúc con còn nhỏ cho tới khi con lớn đi học xa. Rồi con bỏ đi biệt không về nhà này nữa, ngày ta ngày tết, giỗ oải ông bà cũng chẳng thấy mặt con. Cứ mỗi dịp lễ lớn, nhà nước đều có ân xá phóng thích tù nhân. Còn ba, sao ba không "ân xá" cho  con, con ơi! có người cha nào mà  không tha lỗi cho con mình".
Ông bỗng khóc nức nở, mấy người con từ nhà sau chạy ra xúm lại khuyên lơn ông chớ quá xúc động mà có hại cho sức khỏe.

Buổi chiều hôm đó ông thấy người khỏe hẳn, vì thằng con của ông trở về hay vì ông đã trút được gánh nặng mang trong lòng bấy lâu chẳng biết.  Ông ăn cơm rất ngon, cả nhà xúm xít nói chuyện ồn ào vui vẻ. Buổi tối hai cha con ra trước sân nhà ngồi  nói chuyện đến khuya, nói đủ thứ chuyện, từ chuyện trong nhà cho đến chuyện ngoài ngõ. Hai cha con nhắc hết người này tới người kia, từ người có họ hàng đến người dưng nước lã, từ người còn sống cho tới người đã chết. Nhưng có một người không ai đả động tới, người đàn  bà đã cả gan bắt hồn bắt xác thằng con ông dẫn đi mất biệt. Ông muốn nó mở lời trước xin xỏ ông một ân huệ, nhưng nó làm thinh không dám nói, nó vẫn còn sợ ông. Ông đã tha thứ cho đứa con trai lẽ nào ông không tha thứ cho vợ của nó.
"Bữa nào rãnh rỗi con dẫn vợ con của con xuống đây cho ba xem mặt, ba mà có theo ông theo bà thì cho tụi nó đeo khăn tang".
Con ông vừa nói vừa khóc, "con cám ơn ba! con cám ơn ba! Để con điện thoại ngày mai tụi nó xuống thăm ba".
"Ba mất đi rồi, nhà cửa đơn chiếc lắm, mày về thường xuyên thăm má mày. Ba đã nói với anh chị con là  căn nhà này làm nhà từ đường, nơi thờ phượng cúng kiến ông bà, mai mốt ngày giỗ ngày tết con nhớ về chớ đừng đi mất biệt nữa nhe con".

Cái tin thằng Tân, con trai út ông Năm trở về cả xóm đều biết. Rồi có người nói ông Năm đã "hồi dương" khỏe mạnh trở lại, lối xóm kéo đến mừng ông chật cả nhà.  Nhiều người đến mừng ông cũng có, nhưng đến để "dòm ngó" thằng con ông và vợ của nó cũng có. Nghe tiếng đồn đã lâu,  nay họ muốn tận mắt nhìn người đàn bà đó, người đàn bà đã khiến thằng con út ông Năm phải chịu bản án lưu đài biệt xứ.
Người đàn bà đó xinh đẹp hơn họ tưởng. Mấy mẹ con bước xuống chiếc xe nhà thật to thật đẹp trông họ thật là sang cả. Nghe đồn thằng lớn là rể của ông gì đó làm lớn lắm tuốt ngoài Hà Nội, còn thằng nhỏ học giỏi lắm làm đến chức Phó Tổng Giám Đốc, đứa con gái thì đang du học đâu tận bên Mỹ.
Ai cũng tấm tắc khen thằng Tân coi vậy mà có phước, rồi họ đoán mò "mặc dầu mấy đứa đó là con riêng của vợ, nhưng tụi nó thương thằng Tân như cha ruột".

Cái tin ông Năm để căn nhà từ đường này lại cho thằng con út của ông ai cũng biết. Có người nói tại vì ông thương nó nhất nhà, có người nói tại vì ông muốn nó không được bỏ đi đâu nữa, từ nay nó có phận sự phải đứng ra lo việc giỗ oải cúng kiến ông bà. Ngày ta ngày tết phải có mặt ở nhà này, nó đã bỏ đi hai mươi năm, giờ phải chuộc tội. Tội yêu.



Friday, June 22, 2018

NGƯỜI ĐÀN ÔNG Ở CÕI TRÊN



Nguyễn Thạch Giang


Quán cà phê của chú Năm đóng cửa lúc mười giờ tối, khoảng tám giờ thì chị Hường đến phụ dọn dẹp lau chùi nhà bếp nhà cầu, phụ ông chủ hốt rác đổ rác. Trong vòng hai tiếng đồng hồ phải làm cho xong việc trước khi quán đóng cửa, ngày nào cũng làm một tháng chủ trả tám trăm. Chị Hường nghĩ bụng ráng chịu khó kiếm thêm chút đỉnh cũng đỡ, chớ ở đây tiền nhà mắc quá, hai vợ chồng đi làm từ sáng tới tối, lãnh lương được bao nhiêu đóng tiền nhà hết trọi.

Hai vợ chồng chị cùng ba con hai trai một gái đến Mỹ hơn một năm nay. Đến Mỹ lúc kinh tế đang lên nên tìm việc cũng dễ, chồng chị vừa có bằng lái xe là có người giới thiệu vô làm trong hãng tiện. Chị thì đi phụ bếp nhà hàng, làm từ mười giờ sáng đến sáu giờ chiều. Đứa con gái lớn mười sáu tuổi, hai thằng con trai đứa mười bốn đứa mười hai, trường học gần nhà, tụi nó tự đi tự về khỏi cần đưa đón. Buổi sáng chị dậy sớm lo cơm nước để đó sẵn trước khi đi cày, cha con có đói mạnh ai người đó tự lấy ăn.

Hôm nay đi làm mà trong lòng chị không yên, ông chủ nhà vừa cho biết định bán nhà, báo gia đình chị tìm chỗ khác mướn. Căn nhà này vợ chồng chị ở chưa đầy sáu tháng, mới qua Mỹ có một năm mà dọn nhà hai lần! Em chị nói tại lúc này giá nhà lên cao quá, chủ họ bán sợ mai mốt nhà xuống giá mất lời.
Đang loay hoay lau bàn dọn rác dọn tàn thuốc lá mấy người khách hút vất lung tung bừa bãi, chị bỗng giật mình khi nghe người đàn ông ngồi bàn gần bên cất tiếng:
- Chị ơi! Không có nhà này thì có nhà khác, có gì mà chị lo âu dữ vậy.
Chị Hường cười bẽn lẽn, "Bộ vẻ mặt tui trông sầu thảm lắm hả chú?".
Người đàn ông cười xoà.
Lúc rửa ly chị chợt nghĩ sao cái ông này biết mình đang tìm nhà, mình đâu có nói với ai chuyện này.

Ngày hôm sau chị lại thấy người đàn ông đó cũng ngồi uống cà phê tại cái bàn ngày hôm qua. Thấy chị ông ta vui vẻ hỏi chị tìm nhà được chưa.
- Nhà bây giờ đâu dễ mướn chú, mà giá cho thuê cao quá! Nhà ba phòng ngủ nhỏ xíu đòi ba ngàn, rồi tháng đầu tháng cuối thêm một tháng tiền deposit. Thiệt tình ở đây ăn uống thì rẻ mà sao tiền mướn nhà mắc quá! Tui đang rầu không biết đào đâu ra tiền đây.
- Chị cần tiền sao không thử mua vé số, biết đâu chừng trúng độc đắc lúc đó mua nhà cho thiên hạ mướn lại.
Chị Hường cười xoà. "Chú nói nghe dễ quá hé! Thôi tui không ham đâu, mà tui biết cái số của tui không bao giờ trúng số".
Ủa trên đời này cũng có người mang cái số không bao giờ trúng số nữa sao. Người đàn ông nói. Mà chị không thử thời vận sao chị dám chắc. Rồi ông ta chỉ chị nhìn lên màn hình trên vách đang xổ số "hot spot".
-Chị muốn xổ con số nào nói đi, tôi sẽ làm cho nó xổ con đó, chị thử đi, nói đại con số nào đi.
Chị Hường ngập ngừng, "thôi, tui không biết chơi cái này đâu".
Người đàn ông nói một cách quả quyết, chị thử đi rồi chị sẽ tin tôi là người có phép thuật. Chị nhìn nè nhe, chị coi mấy người ngồi bàn đằng kia đang chơi số hot spot, tôi sẽ làm cho họ trúng.
Mấy người đó đang hào hứng chờ xổ số, một người đang mong chờ con số 5, họ lớn tiếng gọi số 5, số 5. Con số 5 hiện ra, một người khác chờ số 21, xổ số 21. Cả bọn la ầm lên, trúng rồi trúng rồi. Hai người trúng, lô 450, mua một đồng trúng 450 đồng.
Người đàn ông nhìn chị Hường, thấy chưa, chị tin tôi chưa. Bây giờ chị thử lấy mười đồng mua tờ số cạo, tôi sẽ làm phép cho chị trúng jack pot đủ tiền mua nhà.
Chị Hường móc trong túi lấy tờ bạc mười đồng, chị lưỡng lự nửa muốn mua nửa sợ thua uổng, chị nhét tờ giấy bạc vào túi trở lại. "Thôi, để dành mười đồng này cho thằng con ăn hamburger chắc hơn. Tui biết cái số của mình là cái số 'Cầu Dừa Đủ Xoài'. Tui lúc nào cũng mong đừng bị nghèo là mừng rồi, đâu dám mong giàu".
Người đàn ông cười xoà, chị vui tánh quá hé! Tôi thích người thành thật một cách chơn chất như chị. Hồi nãy thì chị nói chị là người không bao giờ trúng số, rồi bây giờ chị nói chị là người suốt đời "cầu dừa đủ xoài", sao chị không vụt vô thùng rác cái số phận mắc dịch đó đi cho rồi.

Người đàn ông móc trong túi áo lấy ra chiếc nhẫn xoàn đưa chị Hường. "Tôi có cái này tặng chị, chị đem bán đủ tiền trả tiền nhà một năm".
Chị Hường cầm chiếc cà rá lên ngắm nghía. "Cái hột này bự quá vậy, mới thấy lần đầu, cái hột này mấy ly vậy chú".
"Mấy carat"
Chị Hường nhìn người đàn ông: "Thiệt tình là chú cho tui?"
"Thiệt chớ!"
Chị Hường về nhà khoe với chồng, bữa nay trong quán cà phê chị gặp một người đàn ông có phép thuật. Ông ta có thể làm cho số xổ theo ý muốn, hễ ổng muốn con số nào thì màn hình xổ con số đó. Ổng giúp cho mấy người chơi "hot spot" trong quán trúng 450 đồng.
Chồng chị Hường chu cái miệng: "Vậy à! vậy chắc cái ông này là  Người ở Cõi Trên".


***

Sáng nay chị Hường xin phép bà chủ quán ăn nghỉ làm một buổi, chị bận việc nhà. Từ sáng sớm chị đã rạo rực nóng lòng đi bán chiếc cà rá hột xoàn. Chị tới khu "Việt Nam Town" nơi có rất nhiều tiệm buôn bán vàng và nữ trang của người Việt. Mấy tiệm vàng đèn đuốc sáng trưng, người mua kẻ bán ai cũng ăn mặc sang trọng đeo nữ trang chiếu lấp lánh. Chị tần ngần đứng trước cửa tiệm ngó ông chủ rồi lại ngó bà chủ, nhưng sao ngại ngùng quá không dám bước vào bèn bỏ đi qua tiệm khác. Chị lại đứng tần ngần trước cửa tiệm, làm bộ ngó nữ trang trưng bày trong lồng kiếng nhưng rồi cũng e ngại không dám bước vào trong, đứng đó một hồi lại bỏ đi qua tiệm khác. Sau cùng chị bạo dạn bước vào một tiệm nhỏ nằm khuất phía trong.
Ông chủ tiệm cầm chiếc nhẫn lên ngắm nghía. Chị Hường hồi hộp chờ đợi ông nói gì. Ông ta bước đến bàn gần bên đưa chiếc cà rá vào kính hiển vi coi cho rõ. Ông bỏ lên chiếc cân trố mắt kinh ngạc. Ông bước đến chị Hường hỏi nhỏ nhẹ:
- Cô có giấy tờ của chiếc cà rá này không?
- Dạ không, của người ta cho tui.
- Ai cho cô?
- Tui đi làm thêm trong quán cà phê, cỏ ông khách thấy tui đang dọn nhà mà không đủ tiền mướn, ổng tội nghiệp cho tui chiếc cà rá này bán lấy tiền trả.
- Cô có biết giá trị của chiếc cà rá này là bao nhiêu không?
Chị Hường trầm ngâm nghĩ ngợi nói ngập ngừng: "Hồi nào tới giờ tui đâu có đi mua bán hột xoàn mà biết, tui thấy chiếc cà rá này thiệt là đẹp mà cái hột thiệt là bự".
Ông chủ tiệm vàng không nói gì, ông bước đến chiếc kính xem kim cương đưa chiếc cà rá lên săm soi một lần nữa. Chiếc nhẩn kim cương năm carat thật hoàn hảo không tì vết,  chiếu lấp lánh sắc xanh sắc đỏ thật đẹp. Ông mót vét hết tiền trong két cũng không đủ trả cho chiếc cà rá này. Ông nhìn người đàn bà đem chiếc cà rá này đi bán. Điệu bộ dáng vẻ cùng lời nói chơn chất xem ra chị ta cũng là người lương thiện. "Của người ta cho tui, tui đi làm trong quán cà phê người ta thấy tui tội nghiệp, người ta cho tui". Ông cảm thấy trong cái vụ này hình như có điều gì không được bình thường.

Ông bước vào trong nói chuyện với một người đàn bà, có lẽ là vợ ông ta. Hai người xầm xì to nhỏ vừa nói vừa nhìn chị Hường, chợt có ông làm security trong mall đi ngang, ông chủ tiệm vàng chạy ra kêu ông lại. Ba người đứng nói chuyện thỉnh thoảng ngó chiếc cà rá rồi lại ngó chị Hường. Chị Hường hồi hộp không biết chuyện gì đây, linh tính cho chị biết hình như có điều gì không ổn.
Bà chủ tiệm vàng cầm chiếc cà rá đến kính hiển vi nheo mắt ra nhìn. Bà bỗng bật cười khanh khách, tiếng cười vang lộng cả tiệm. "Kim cương giả" . Ông chủ tiệm vàng nhăn mặt: "Trời đất! Tôi làm nghề này mấy mươi năm chưa bao giờ lầm đồ giả!".
Chị Hường nghe thấy mặt mày tái mét run lập cập. Tình ngay mà lý gian. Hai vợ chồng ông chủ tiệm vàng cùng ông security bước đến bên bàn ngồi xuống trước mặt chị Hường nói nhỏ nhẹ:
- Chiếc cà rá này là đồ giả, tôi thấy chị có vẻ là người thành thật, chị thiệt thà quá đi tin lời người ta, mai mốt nhớ tránh xa có chuyện gì sẽ gặp rắc rối lắm đó.
Chị Hường cầm chiếc cà rá bước ra ngoài ứa nước mắt, tưởng gặp quới nhơn nhè đâu gặp chuyện chằng rây. Lúc đi ngang thùng rác chị mạnh tay ném chiếc nhẫn vào trong đó. Thiệt là xui xẻo.

Buổi tối vừa bước vào quán cà phê là chị gặp ngay "người đàn ông ở cõi trên" ngồi đó. Gặp ông ta cơn giận của chị nỗi lên nhưng chị không nói gì, chị vốn tánh hiền lành, định bụng gặp mặt ông ta sẽ chửi một trận cho bỏ ghét, nhưng khi nhìn ông  ta nhìn chị vẻ mặt buồn buồn chị lại thôi, bỏ qua.  Hình như ông ta cũng biết câu chuyện xảy ra hồi sáng này. Lúc chị đứng gần bên lau chùi bàn ghế ông ta lên tiếng trước:
-Xin lỗi chị cái vụ đó.
- Lỗi phải gì, ông hại tui chút xíu nữa là bị cảnh sát dắt về bót.
- Nếu ông bà chủ tiệm vàng là người có lòng tham, chiếc nhẫn kim cương đó sẽ là đồ thật. Nhưng  bởi ông ta đem ra ánh sáng, chị sẽ gặp rắc rối nếu là đồ thật nên nó phải biến thành đồ giả. Tôi thật lòng muốn giúp đỡ chị,  nhưng tôi đã  không lường trước được  tình huống đó.
- Chồng của tui nghe kể chuyện, ổng chửi tui lớn đầu mà còn ngu đi tin lời người ta, trên đời này đâu có ai đem cho không người khác cái gì đâu.
- Rồi có ngày chị sẽ tin là trên đời này có nhiều người giúp đỡ người khác không vì một lẽ nào cả. Rồi có ngày chị sẽ thấy trên đời này có nhiều người giúp đỡ người khác mà không bao giờ mong mỏi một sự đền ơn.
Người đàn ông trầm ngâm, đôi môi chợt cười mĩm, chút nữa chị về sẽ nghe tin vui, không còn phải lo lắng dọn nhà.

Vừa bước vào nhà hai đứa con chạy ra mừng. "Má! Má! Được ở lại đây, khỏi phải dọn nhà".
Chồng chị Hường lên tiếng:"Hồi nãy ông bà chủ nhà có đến nói là cho mình tiếp tục mướn khỏi phải dọn. Hôm trước bà đi khám bệnh, có cục bứu trong vú,  sợ bị bệnh ung thư nên lật đật bán nhà. Giờ khám nghiệm, bứu hiền, không có bệnh hai ông bà mừng quá bỏ ý định bán nhà qua đây cho mình hay. Hai ông bà còn hứa chắc là trong vòng một năm không bán mà cũng không lên tiền thuê.
Chị Hường vừa đi thay áo vừa lẩm bẩm. Có lẽ nào! Có lẽ nào người đàn ông đó là "Người ở Cõi Trên".











Thursday, May 24, 2018

MỘT MÙA HÈ ĐÃ QUA



Thái Tuấn



Đã bao lần tôi mơ ước trở về quê cũ; sự mơ ước có khi thoảng nhẹ như làn gió hè, đôi lúc dồn dập khẩn thiết như sóng gầm thác đổ đưa đẩy tôi vào một cơn mộng mị triền miên.

Một mùa hè nắng đẹp tôi trở lại căn nhà xưa, ở đấy mọi sự hình như còn nguyên vẹn. Trên lối cũ rặng soan đào vẫn xanh tốt, mùi hương cau thoảng nhẹ đâu đó. Lũ chim sâu thấp thoáng trên cành đào cành mận và giàn hoa thiên lý còn rợp bóng trước sân. Bụi tre hàng chuối vẫn đó, vẫn còn đó hòn đá  cũ trơ vơ bên bờ giếng mà mẹ tôi thường đến giặt giũ.
Tôi dừng chân nhìn lại cảnh trí. Vườn sau ngõ trước bốn bề vắng ngắt. Tôi cất tiếng gọi to, âm thanh tan loãng chỉ có tiếng gió rì rào đáp lại. Sự vắng lặng của buổi trưa hè thật khó chịu, tôi đang nghĩ như vậy, thì một bóng người từ phía sau nhà đi ra tiến về chỗ tôi đứng. Đó là một người trẻ tuổi, khi tới gần tôi hắn dừng lại, đăm đăm nhìn tôi như dò hỏi. Tôi khẽ chào và chợt nhận thấy khuôn mặt hắn  rất quen thuộc, cố khơi đào trí nhớ, vẫn không nhận ra hắn là ai. Thấy tôi nhìn chăm chú hắn hỏi: "Ông tìm ai?" Tôi nói: "Tôi từ nơi xa tới về thăm lại căn nhà cũ". Hắn thoáng vẻ ngạc nhiên rồi cười đáp: "Có thể ông đã lạc lối rồi, căn nhà này họ hàng tôi đã ở từ lâu, truyền nhau đến mấy đời. Nhưng thôi, ông đã từ xa đến xin mời ông vào nghỉ chân và uống với tôi một ấm trà".

Tôi bàng hoàng kinh ngạc lặng yên giây lâu. Và sự tò mò đã lấn át tất cả. Tôi lặng lẽ nhận lời theo chân hắn. Mỗi bước chân đi từng kỷ niệm khơi dậy, căn nhà ngói năm gian với những bậc tam cấp xây bằng đá xanh hiện ra sau giàn hoa lý. Cây hoa giấy che rợp hành lang bao quanh nhà, nơi hành lang đó gia đình tôi quây quần trong bữa ăn trưa vào những ngày hè. Nơi chốn này làm sao tôi có thể lầm lẫn được.
Tôi theo hắn vào gian nhà giữa, hắn chỉ chiếc tràng kỷ mời: "Ông ngồi chơi tôi xin phép đi pha một ấm trà". Khi bóng hắn khuất sau bức mành trúc tôi đưa mắt nhìn căn phòng. Những bức câu đối thếp vàng, hàng chữ nho còn sáng chói. Chồng sách cũ của ông nội tôi vẫn đặt ngay ngắn trên bộ án thư, cạnh đó là cặp kính trắng và chiếc đồng hồ quả quít của cha tôi. Tôi bước lại gần nhìn kỹ thì chiếc đồng hồ đã ngừng chạy, đôi kim chập lại ở con số mười hai. Trên vách tường treo bức tranh sơn dầu, cô gái trong tranh mặc chiếc áo dài màu vàng nhạt trên tay cầm cái quạt giấy. Cô ta như một cái bóng chìm lẫn vào nền xanh của bức họa, tôi chú ý nhìn khuôn mặt, đôi mắt cô ta thật đen tạo nên một cái nhìn lạ lùng. Tôi chợt nhớ lại một khuôn mặt quen thuộc.
Có tiếng động ở phía sau bức mành, hắn trở ra bưng một cái khay, trên khay bộ đồ trà. Hắn đặt nhẹ nhàng lên bàn rồi ngồi xuống đối diện tôi. Mùi hương sen tỏa lên từ ấm trà. Tôi nhìn hắn hỏi: "Hình như ở sau nhà có một cái hồ nhỏ trồng loại sen bạch?". Nét mặt hắn thoáng hơi cau lại, hắn không trả lời, hỏi lại tôi: "Làm sao ông biết được?". Tôi mĩm cười và nói thật nhanh: "Tôi, đoán vậy vì ấm trà sen này". Câu nói của tôi hình như rơi vào một khoảng trống, tôi ngước nhìn, hắn ngồi yên lặng không để ý đến câu trả lời của tôi, một lúc lâu hắn nói: "Ông từ nơi xa về, hẳn có điều gì muốn hỏi thêm?" Và không đợi trả lời, hắn tiếp: "Tôi ở nơi đây đã khá lâu, đã quen với cảnh trí này, thời khắc đối với tôi không còn nữa, ông nhìn xem chiếc đồng hồ trên bàn kia đã ngừng lại. Cái quá khứ thì lờ mờ cái tương lai thì luôn luôn ở phía trước; một khoảng cách. Có lẽ ông nghĩ rằng cái quá khứ là cái mình nắm được, là cái cụ thể hơn cả vì nó đã có. Nhưng tôi xin phép để hỏi ông, ông muốn biết về cái quá khứ nào? Cái quá khứ của chính ông hay cái quá khứ của quê hương này? Cái quá khứ của ông thì quá ngắn ngủi, còn của quê hương thì dài dằng dặc. Ngồi ở một nơi xa xôi, ông cảm thấy ông thương mến quê hương hơn. Hơn có nghĩa là trước kia ông yêu mến chưa đủ, chưa đến nơi đến chốn và bởi vì ông đã không nhìn cho đúng, đã không sống một cuộc sống đích thực. Vả chăng cái tình yêu mến quê hương ấy, đúng hơn chỉ là sự thương cảm cho thân phận của chính mình".

Lời nói của hắn thật ngạo mạn dù giọng nói dịu dàng. Tôi cố giữ bình tĩnh nói: "Thế nào là cuộc sống đích thực?". Giọng hắn trở nên ôn tồn "Chắc hẳn ông đã từng nghe câu chuyện vị thiền sư chín năm ngồi nhìn bức vách đá. Ông ta tìm cái gì và đã thấy gì? Sự khôn ngoan của trí tuệ và sự chính xác của giác quan, chằng qua cũng nằm trong vòng giới hạn của cuộc sống và đời sống con người. Vượt ra ngoài giới hạn đó, không thể nói lên bằng lời. Vì lời vẫn là, vẫn thuộc giới hạn của trí tuệ".
Tôi vô cùng bàng hoàng vì những lời hắn nói, sự suy nghĩ của tôi bỗng ngừng dứt, mọi cảm giác hầu như tê liệt...

Một luồng ánh sáng làm tôi cảm thấy khó chịu, tôi mở mắt nhìn ánh nắng chiều qua kẻ lá soi thẳng chỗ tôi ngồi. Buổi chiều hè lấp lánh trên con sông Loire, tiếng cười nói xôn xao, tiếng xe chạy dọc theo con đường bờ sông. Bức tranh còn dang dở trên giá vẽ, lũ chim sẻ mở hội trên thảm cỏ. Bỗng có tiếng nói dịu dàng từ phía sau lưng: "C'est magnifique!". Tôi từ từ quay nhìn, một cô gái tóc vàng đang mãi mê nhìn bức họa, thấy tôi quay lại, cô ta mĩm cười xin lỗi. Tiếng Pháp của cô bằng một giọng ngoại quốc, nghe thực êm ái, duyên dáng.
Thấy cô đứng yên, tôi mời cô ngồi, cô ta nỏi cảm ơn, và ngồi xuống cạnh tôi. Gió từ phía sông thổi lên nhẹ nhàng làm rung động những sợi tóc trên khuôn mặt trẻ trung, song một vài nếp nhăn nhỏ và cái nhìn, tôi đoán không ra tuổi. Cô ta nhìn ra xa nói: "Con sông ông vẽ thật giống con sông Vistule ở quê tôi". Tôi cười đáp: "Đó là con sông Hồng ở quê tôi". Cô ta bỗng phá lên cười: "Chao ôi! Con sông trước mặt thật là vô duyên". Tôi bật cười theo. Câu chuyện của chúng tôi xoay quanh những vụ hè, những thắng cảnh trên đất Pháp. Bỗng cô ta nhìn tôi hỏi: "Ông có thích Chopin không?". Tôi đùa cô ta: "Chopin, hay nhạc của Chopin?". Cô ta cười: "Rất tiếc ông ấy không còn nữa, ở Varsovie khi nhạc của ông bắt đầu được dạo lên, tất cả mọi người đều nín thở để nghe. Những âm thanh trong sáng, nhẹ nhàng bay bỗng trên bầu trời gợi cho chúng tôi muôn vàn hình ảnh của quê hương. Cái quê hương hằng có của chúng tôi, con sông Vistule và những bản nhạc của Chopin, tôi tin là sẽ hiện diện mãi trong đời sống chúng tôi".
Buổi chiều hè nơi đây thực dài, quanh chúng tôi, vẫn tiếng cười nói lao xao, thiên hạ nhàn tản trong những bộ y phục rực rỡ, họ đi dọc theo mé sông, hoặc tụm năm tụm ba trò chuyện dưới bóng những cây sồi cây dẻ.
Một sự cô đơn êm ái xâm chiếm, bao vây tôi. Tôi vội ký tên dưới bức họa, gở xuống khỏi giá vẽ, và cầm đưa cho cô gái. "Cô cho phép tôi tặng cô con sông Vistule". Cô ta vội đỡ lấy và nói: "Cám ơn ông, con sông Vistule và cả con sông Hồng nữa chứ". Tôi cười đáp: "Không, chỉ một con sông thôi". Tôi đứng lên định bắt tay từ biệt, cô ta lắc đầu và dang hai tay, tôi ôm cô ta hôn trên má và xách chiếc giá vẽ đi dọc theo bờ sông về phía chiếc cầu George V. Đèn trên cầu đã thắp sáng, tiếng nước chảy rì rào dưới chân cầu, xa xa những mái nhà những toà cao ốc nhấp nhô uốn lượn mờ mờ như bóng núi, in trên nền trời xẫm, tôi chợt nhớ lại cơn mộng mị, nhớ lại anh chàng trẻ tuổi đã chiếm ngụ căn nhà cũ của tôi, ngọn đèn đường in một cái bóng dài. Đích là vóc dáng hắn.


Thái Tuấn




--------------
Nguồn: VĂN, số 53, tháng 11-1986





Saturday, April 7, 2018

GIẢI CỨU SƯ PHỤ



Nguyễn Thạch Giang


Đường Tăng Tam Tạng cùng các đệ tử trên đường sang Thiên Trúc thỉnh kinh, chẳng may lọt vào ổ phục kích của mấy con yêu nhền nhện. Từ lâu trong giang hồ rộ tin đồn ai ăn được thịt Tam Tạng sẽ trường sinh bất tử. Loài yêu quái chỉ mong có được ngày đó. Chúng lập mưu gài bẫy bắt sống cho được vị đại sư nhà Đường. Yêu nữ nhền nhện dùng tơ giăng bủa lưới khắp nơi thầy trò Đường Tăng không sao thoát được. Tôn Ngộ Không nhờ có phép tàng hình trốn ra ngoài tìm phương giải cứu sư phụ cùng hai sư đệ là Sa Tăng và Trư Bát Giới.

Tôn Hành Giả tuy có bảy mươi hai phép thần thông nhưng không sao phá được sào huyệt của mấy con yêu nhền nhện, bèn dùng phép cân đẩu vân cỡi mây bay về thiên đình cầu cứu Ngọc Hoàng.
Lão Tôn xuống trần gian chỉ mấy năm mà giờ trở lại thấy chốn thiên đình đã khác hẳn xưa. Đâu đâu cũng thấy xây dựng cung điện nguy nga hoành tráng. Thật là muôn phần diễm lệ. Đi ngang vườn đào của Tây Vương Thánh mẫu thấy cây trái xum xuê bèn ghé vào hái một trái ăn thử, chưa kịp nuốt đã vội phun ra vì vừa đắng vừa chát. Chợt nghe tiếng cười lanh lãnh của mấy nàng cung nữ. "Chúng em xin chào ngài Đại Thánh".
Ngài Đại Thánh xưa kia mang tiếng ăn trộm đào tiên nay ăn vụng lại bị bắt gặp, ngượng ngùng tìm cách nói giả lả: "Lão Tôn lâu ngày có việc viếng cung đình, thấy vườn đào tươi tốt muốn thử một quả xem sao, ngờ đâu nó đắng chát, thật không giống đào tiên thuở nào". Mấy nàng cung nữ lại cười rộ lên. "Ngay cả Đại Thánh mà cũng không phân biệt được đào tiên với lại đào thường, bởi gần đây xảy ra nhiều vụ trộm nên Tây Vương Thánh Mẫu cho trồng xen lẫn để đánh lừa kẻ gian".
Ngài Đại Thánh lại nhíu mày:
"Vậy à! Cung đình giờ lại có kẻ gian? Ta tưởng ăn trộm đào tiên thì chỉ có lão Tôn đây mới dám làm chuyện đó. Mà mấy em hái đào nhiều thế để làm gì?".
"Tối nay cung đình có yến tiệc".
 Các nàng đồng thanh trả lời rồi cùng nhau chạy đến vây quanh lão Tôn Hành Giả. Người thì khen Đại Thánh vẫn oai phong lẫm liệt như thuở nào đại náo thiên cung, người thì khen Đại Thánh bảnh bao phong độ hơn người. Lão Tôn lâu ngày được nghe tán tụng thì thích chí dương dương tự đắc. "Đại Thánh viếng Thiên Đình mà có quà trần gian gì cho chúng em không vậy?". Lão Tôn sờ vào túi tìm hai viên ngọc, một viên hồng ngọc của vua Đường ban tặng khi theo hộ giá đại sư Tam Tạng đi thỉnh kinh, một viên bích ngọc của quan huyện Từ Châu tặng khi cứu con trai ngài thoát tay yêu quái. Lão Tôn muốn đem hai viên Ngọc tặng mấy cô nàng nhưng nghĩ lại tiếc của nên thôi. " Ta có việc đi gấp quá không chuẩn bị kịp, thôi để lần khác nhé ". Mấy nàng cung nữ cười rộ bỏ đi tiếp tục hái đào tiên, không quên dặn dò:
 "Nhớ nhe ngài Đại Thánh, lần sau có viếng cung đình, đừng quên có quà cho chúng em".

Tôn Hành Giả lần bước về phía hoàng cung, dọc đường ai thấy cũng đều thăm hỏi việc theo ngài Đường Tăng đi thỉnh kinh bên Tây Trúc. Đến trước biệt điện đã thấy Nam Tào đứng gác. "Lão Tôn có việc cấp bách cần gặp Ngọc Hoàng, phiền ngài cho tôi được vào trong yết kiến". Lão Nam Tào ngó lão Tôn từ trên xuống dưới, rồi chép miệng than thiên đình lúc rày nhiều việc quá, Ngọc Hoàng bận bịu suốt ngày. Tôn Hành Giả nóng lòng:
"Phiền ngài vào trong bẫm báo, lão Tôn đây có việc cấp bách".
 Lão Nam Tào miễn cưỡng bước vào trong, lát sau trở ra nói Ngọc Hoàng đang bận họp, phiền ngài ngày mai trở lại.
Sáng sớm hôm sau Tôn Hành Giả đúng hẹn đến trước biệt điện đứng chờ ngoài cửa. Lão Nam Tào nói Ngọc Hoàng đêm qua tiếp khách đến khuya, giờ còn mệt đang cần yên tịnh nghỉ ngơi. Lão lại nhìn Hành Giả từ trên xuống dưới săm soi, rồi bắt chuyện hỏi han linh tinh. Lão thích thú nói đến chuyện ăn nhậu món ngon vật lạ, rồi hỏi han xứ nào nhiều biệt điện biệt phủ, xứ nào giàu có nhiều vòng vàng châu báu. Lão Nam Tào lại trắng trợn nói chắc ngài lâu nay cũng kiếm được khấm khá. Tôn Hảnh Giả nghĩ bụng chắc cái thằng này đòi quà. Thôi thì đi đâu cũng vậy, thủ tục đầu tiên là tiền đâu. Không bôi trơn thì có mà đứng ngoài cổng chờ dài cổ. Lão Tôn móc trong túi lấy viên Bích Ngọc:
"Viên  ngọc này của quan huyện Từ Châu cho tôi, nay xin biếu ngài".
 Lão Nam Tào cầm lên ngắm nghía, đẹp, đẹp thật. Rồi nhẹ nhàng đút vào túi theo một cách mà camera có ghi hình cũng chưa chắc gì thấy.
"Để tôi vào trong trình báo Ngọc Hoàng, ngài vui lòng chờ chút".

Lần này thì không còn gì trở ngại bởi đã bôi trơn đúng qui trình. Tôn Hành Giả tiến đến bệ rồng quỳ tấu: "Bẫm báo Ngọc Hoàng,  hạ thần theo phò Đường Tăng Tam Tạng  đi thỉnh kinh bên Tây Trúc,  không may giữa đường gặp nạn. Hiện sư phụ đang bị mấy con yêu nhền nhện hãm hại, xin Ngọc Hoàng ra tay cứu giúp". Ngọc Hoàng trầm ngâm giây lát, " Việc này ta không giúp được, nhà người hãy sang cầu với Đức Phật Tổ".
Đức Phật Tổ vừa gặp mặt Tôn Hành Giả, ngài biết chuyện không đợi hỏi liền nói: "Ta biết cả rồi, sư phụ nhà ngươi đã được cứu, ngươi hãy mau về mà hộ tống Đường Tăng hoàn thành nhiệm vụ".

Tôn Hành Giả lui ra ngoài mà trong lòng nhẹ nhàng khoan khoái. Bất chợt gặp Bắc Đẩu và bạn bè đang rủ nhau đi nhậu. Anh em lâu ngày gặp lại tay bắt mặt mừng, vỗ vai vỗ vế, thôi thì sẵn dịp, lão Tôn đi nhậu với tụi này cho vui. Tôn Hành Giả nghĩ bụng, sư phụ đã được giải cứu, không có gì phải lo, thôi thì nhậu chút chơi coi như ăn mừng. Rồi thì rượu vào lời ra, lão Tôn hứng chí khoe mẽ lung tung, khoe là vào sanh ra tử, đi đó đi đây món ngon vật lạ nào cũng biết qua. Cả bọn nghe vậy xúm nhau hỏi quà trần thế. Nữa! Lại quà! Lảo Tôn nghĩ bụng, tụi này lúc nào cũng đòi quà, lão bèn chơi khăm chỉ cái vòng kim cô trên đầu mình.
 "Nè, lão Tôn lâu nay nổi tiếng nhờ đội cái vòng kim cô trên đầu, đây là vật gia bảo không đâu có, nay lão tặng lại cho mấy đệ, ai lấy được thì hưởng".
Lão Bắc Đẩu nghe cũng có lý, bèn cùng đồng bọn xúm nhau gở cái vòng kim cô trên đầu của Tề Thiên. Cái vòng dính cứng, không cách gì gở ra cho được, chịu thua.
Lão Tôn lâu ngày ăn chay nay uống mấy tuần rượu say mèm ngã lăn ra ngủ ngáy như sấm rền. Bắc Đẩu chợt thấy cây thiết bảng, nghĩ bụng lão này ngoài cái vòng kim cô ra thì chỉ có cây thiết bảng này là có giá trị. Cả bọn bàn tính ăn cắp đem bán lấy tiền đi nhậu tiếp. Rồi thì ì ạch xúm nhau khiêng cây thiết bảng nặng nghìn cân kiếm chỗ bán lấy tiền. Gặp ngài Thiên Lôi đang đứng trước nhà hút thuốc, cả bọn gạ bán. Ngài Thiên Lôi biết là đồ quý của Tề Thiên nhưng ham rẻ bèn mua kiếm lời.

 Tề Thiên tỉnh rượu, đứng lên định bay về trần gian sư phụ đang nóng lòng chờ đợi. Thấy mất thiết bảng đi tìm Bắc Đầu hỏi cho ra lẽ. Bắc đẩu biết không thể chối bèn thú thật là đã đem bán cho Thiên Lôi. Tề Thiên nổi giận đùng đùng đến nhà Thiên Lôi gõ cửa. Lão Thiên Lôi tỉnh bơ đứng hút thuốc làm như chẳng biết gì.
 "Ngài Thiên Lôi, ngài biết thiết bảng đó là của tôi, sao ngài lại đi mua đồ ăn cắp".
"Ủa, thiết bảng thì giống thiết bảng, sao tôi biết thiết bảng đó là của lão".
 "Thiết bảng đó là của tôi, ngài hãy mau trả lại".
Lão Thiên Lôi đâu chịu thua, nói cứng: "Thiết bảng đó tôi mua, lão muốn lấy lại phải bỏ tiền ra chuộc".
Tề Thiên nổi giận nghiến răng: "Ông thật là ngang ngược, hèn gì dưới trần thế đi đâu cũng cũng nghe dân tình kêu than, họ nói Thiên Lôi nhận của đút lót vung búa chém càn khiến nhiều người chưa tới số phải bị chết oan".
 "Mấy người đó chưa tới số thật, nhưng họ sống tha hoá ăn cắp của công, nhận tiền hối lộ làm chuyện sằng bậy nên phải nhận cái búa tạ của ta".
"Rồi bây giờ ông có trả lại thiết bảng của tôi không thì nói".
 "Không, lão có ức thì đi thưa, tôi sẵn sàng hầu toà".
Tề Thiên giận lắm nhưng nghĩ bụng thưa kiện lằng nhằng mất thì giờ mà chưa chắc gì mình thắng. Thời buổi này lẽ phải nằm trong tay kẻ có quyền thế nhiều tiền bạc nhiều vây cánh. "Thôi được", lão Tôn cay cú nói, móc trong túi lấy viên Hồng Ngọc, "giờ tôi chỉ có viên ngọc này của vua Đường ban tặng". Thiên Lôi cầm viên ngọc lên xem, màu đỏ sáng đẹp vô cùng, trong bụng mừng thầm bước vào trong nhà lấy thiết bảng trao đổi.
Tề Thiên cầm thiết bảng múa vung trong gió bay về trần gian miệng chửi đổng, chốn cung đình giờ đây thật là bát nháo.

Mấy con yêu nhền nhện bắt được Đường Tăng lòng mừng hí hửng, thay phiên canh gác chờ ngày làm thịt Tam Tạng mở tiệc ăn mừng. Trong mấy chị em yêu tinh nhền nhện này có con nhện xanh và con nhện hồng là xinh đẹp hơn tất cả. Hôm nay chúng được chị cả giao nhiệm vụ canh giữ Đường tăng.  Hai con yêu nữ này lại thích chưng diện đeo vòng vàng tô son điểm phấn. Tối ngày múa hát vui ca, nay thấy Đường Tăng thì bị hớp hồn, người đâu mặt hoa da phấn, môi đỏ như thoa son, diện mạo thanh tú có một không hai trên đời.
  "Hòa thượng ơi! Trần thế đầy cuộc vui sao ngài đi tu chi cho lãng phí cuộc đời!".
Chúng ngắm Đường Tăng một hồi thì không nhịn được bước  lại gần sờ mó mân mê. Đứa thì sờ cái đầu trọc của ngài, đứa thì sờ làn da trắng mịn của ngài,  nó táo tợn đưa mũi hửi da thịt ngài, thơm quá! Chúng hít hà, người của ngài thơm quá! Hai con yêu  vạch áo ngài nhìn vào bên trong, rồi chúng  cố hết sức cởi chiếc áo cà sa của hoà thượng. Đường Tam Tạng mắt nhắm nghiền miệng đọc kinh lớn tiếng.  Đường Tăng hai tay giữ chặc chiếc áo miệng đọc thần chú. Đôi bên giằng co kẻ kéo người giữ,  hai con yêu cố hết sức mà không thể nào lột được chiếc áo cà sa của hoà thượng. Nó đâu biết rằng chiếc áo cà sa của Đường Tăng đã được Phật Tổ làm phép.

Tề Thiên từ trời bay xuống trần đứng trước động mấy con yêu nhền nhện, đinh ninh sẽ gặp sư phụ và sư đệ đã  được giải cứu. Tìm hoài không thấy bèn tàng hình bước vào trong, thấy Sa Tăng và Trư  Bát Giới bị trói nằm một chỗ, còn sư phụ thì ngồi nhắm mắt đọc kinh mặt mày bơ phờ. Hành Giả bước đến gần nói nhỏ:
 "Sư phụ! Sư phụ! Con đây".
 Đường Tam Tạng mừng rỡ, "Ngộ Không con ơi cứu thầy! Chúng nó quấy nhiễu thầy suốt đêm!". Tôn Ngộ Không nghe thầy nói bị xách nhiễu tình dục thì nổi giận đùng đùng quơ thiết bảng quyết một phen sống chết. Chợt nghe có tiếng cười giỡn của mấy con yêu nữ từ đàng xa bèn làm phép tàng hình đứng coi chúng làm gì.
Con nhện màu vàng em út là một thiếu nữ đoan trang tính tình nhu mì hiền hậu. Hôm nay nghe tin Đường Tam Tạng sắp bị làm thịt, bèn lẻn vào ngục tìm cách giải cứu. Nàng bước đến gần Đường Tăng quỳ lạy nói:
 "Xin hoà thượng đừng sợ, tiện nữ đến đây để giải cứu ngài. Đây là lệnh phù có thể đi qua màng lưới nhện. Xin hoà thượng nghĩ tình sau này tha tội chết cho tiện nữ".
Tề Thiên hiện nguyên hình nói với Bát Giới:
 "Sư đệ ở đây chận đường, chờ ta và sư phụ ra khỏi động rồi ngươi hãy ra".
Nói rồi ba thầy trò trốn ra ngoài còn Bát Giới thì hoá hình thành Tam Tạng ngồi đó.

Mấy con yêu cười giỡn hí hởn sửa soạn buổi tắm rửa "tẩy trần" cho Đường Tăng trước khi đem ngài ra làm thịt. Chúng ngạc nhiên thấy ngài hôm nay không còn cương quyết chống cự. Đường Tăng giả hình hé mắt nhìn, ôi chao mấy nàng sao xinh đẹp thế lại còn ăn mặc xếch xi. Chúng bước đến cởi áo hoà thượng, hoà thượng giả ngồi im cho mấy em muốn làm gì thì làm. Mấy em cũng trút bỏ xiêm y rồi cùng hoà thượng giả bước vào bồn tắm tẩy trần. Được mấy em xinh đẹp kỳ cọ mân mê một hồi chịu không thấu, hoà thượng giả hiện nguyên hình con heo nọc. Mấy con yêu nữ la ré thất kinh ngất xỉu. Trư Bát Giới hoàn hồn cắm đầu bỏ chạy.

Ra khỏi động yêu quái đã thấy sư phụ và sư huynh đứng chờ. Đường Tam Tạng thấy Bát Giới mình trần trùng trục mặt mũi bơ phờ thì hiểu việc. "Tội nghiệp đệ tử, chắc là bị mấy con yêu xách nhiễu tình dục". Sa Tăng và Tề Thiên cười hùng hục. "Thầy ơi! Thằng này nó tình nguyện được xách nhiễu". Rồi Tề Thiên  làm giọng anh cả mắng mỏ: "Cho mày chừa cái tật mê gái, có ngày gái nó lột sạch sành sanh, bữa nay may phước còn cái quần xà lỏn". Trư Bát Giới mắc cở  đứng làm thinh không nói gì, hai tay cố che thân thể không mãnh vải. Đường Tăng Tam Tạng nói để thầy vào nhà dân xin một bộ đồ cho Bát Giới. Rồi thầy quay lại  khuyên đệ tử:

"Các con ơi đường đến Tây Phương hãy còn xa, ráng mà giữ mình".







Wednesday, March 14, 2018

CHÚ TÂY CON



Diệu Tần



Tôi đã gặp hắn ở Thủ Dầu Một trong một trường dạy chuyên môn binh chủng, năm đó. Trong vai trò một sĩ quan huấn luyện viên và một người có nhiệm vụ chăm sóc đến khoá sinh, tôi có nhiều dịp chuyện trò với hắn. Hắn khoảng hai mươi bốn, hai mươi lăm, cao lớn, khá điển trai, lấp lánh kính trắng gọng vàng. Là một chuyên viên mới tốt nghiệp ở Pháp về, vẻ kiêu hãnh còn đậm trên nét mặt hắn. Tôi không nhớ rõ lý do tại sao hắn về nước, và tại sao lại đeo "con cá" để vào học ở đây. Chỉ nhớ là hắn không hài lòng khi phải về quê hương và phải vào quân đội. Hắn chê nền văn hoá và chê luôn nền kỹ thuật của Mỹ. Dĩ nhiên hắn dè bĩu thứ kỹ thuật chậm tiến ở Việt Nam dạo đó, chê luôn tất cả các cấp chỉ huy ngành của hắn cả bên dân sự lẫn quân sự.
Chàng kỹ sư cầu cống này được nhà trường giao cho việc dạy môn Résistance materielle nên càng đầy vẻ tự kiêu. Hắn có một cô vợ sắp cưới có hai dòng máu Việt Pháp rất kiều diễm. Tôi được hắn dẫn vợ đến giới thiệu nhân dịp tôi làm sĩ quan trực. Cô vị hôn thê này có độ bốn mươi phần trăm nét Giao Chỉ nhưng tuyệt nhiên không nói được tiếng của mẹ. Hắn được du học sau khi đậu tú tài Pháp. Hắn và cô gái kia biểu diễn tiếng của De Gaulle liến láu, khiến nhiều người không hài lòng, khi họ ngồi giải khát trong câu lạc bộ quân trường.

*** 

Bây giờ tôi lại gặp hắn ở trại Suối Máu này. Hắn vẫn ngây thơ vô số tội như trong lễ mãn khoá được đeo lon chuẩn uý ở Bình Dương. Tôi nghĩ hắn chưa kịp hết lạ với miền Nam đất nước, vào trại cải tạo  của cộng sản, đối với hắn lại là một chuyện không thể nào tưởng tượng nổi. Thoáng thấy tôi hắn mừng quá.
- Anh...trời ơi, lại gặp anh!
Hắn quên là hắn đang đứng cạnh một tên cán bộ lo kiểm soát đồ đạc của hắn.
- Yêu cầu nghiêm túc - Giọng Nghệ Tĩnh nặng chịch - các anh trở về đội, khối, mau!
Hắn giữ nguyên được phong cách Sài Gòn, và hơi hướm của Versailles nữa. Vẫn giữ được nước da trắng trẻo, hơi gầy đi một chút, nhưng vẫn còn cặp kính gọng vàng óng ánh. Bẵng đi mấy năm, chàng kỹ sư vẫn không có gì thay đổi. Lúc đó vào khoảng tháng ba, tháng tư năm bảy mươi sáu. Trời nắng gắt, những tia nắng nhảy múa trên những mái tôn, ném cái nóng đổ lửa xuống bọn tù. Thời gian đó chúng tôi đã tụng xong "Mười bài học chính trị cơ bản" từ Hốc Môn. Chỉ học ôn, lai rai, thảo luận qua bình luận tin tức trên tờ Nhân Dân. Rồi khai lý lịch, lao động cầm chừng quanh khu đồi thấp gần  trại.
Hắn được đưa về đội của chúng tôi, rồi nằm cùng một nền đất trong dãy nhà tôn, khung sắt kiếng Eiffel. Suối Máu trước kia dùng để nhốt tù phiến cộng. Cá ăn kiến, kiến ăn cá, trước nhốt chúng nó, bây giờ chúng nó nhốt mình, thế là huề... Chúng tôi không đau bằng một chàng hoa mai bạc quân cảnh, trưởng trại này trước năm bảy lăm. Tên trung uý trưởng K1 này là tù binh của chàng quân cảnh. Hắn đảo qua chỗ chúng tôi đang chia thức ăn, rồi cười khẩy:
- Anh còn nhớ tôi không?
- Xin lỗi...tôi không nhớ ra.
- Trước anh làm to ở đây, tôi là tù phiến cộng của anh.
Chàng mai bạc hơi tái mặt, nhưng cũng không có chuyện gì xảy ra. Chàng quay lại phân trần với các bạn, khi tên kia đã lững thững bỏ đi.
- Tao chỉ huy toàn trại này, chứ có phải một K này đâu. Thằng đó vô danh tiểu tốt, làm sao nhớ nó được.

***

Câu đầu tiên cậu kỹ sư bên Tây về, vất ba lô xuống, hỏi:
- Phòng tắm ở đâu các anh?
Câu hỏi đượm mùi "tư sản" của hắn làm cả bọn cười ầm lên.
- Bộ cậu mới nếm mùi cải tạo à?
Câu hỏi chơi mà hoá thật. Chúng tôi xúm lại nghe hắn kể tại sao giờ này mới chịu chui vào đây. Thì ra công an thành gửi hắn tới đây.
"Moa" làm việc cho họ mà, hắn vẫn còn thói quen toa moa như ở bên... Tây - Moa là kỹ sư cầu cống ở Sở Giao Thông Vận Tải ngay tại thành phố mà.
- Rồi sao lại khăn gói quả mướp lạc vô đây. Tại toa tham ô nhũng lạm chứ gì?
- Đâu có, họ tin dùng tôi lắm chứ. Tôi là một expert về cầu đường.
- Rồi sao nữa?
- Tụi Deuxième Bureau, ủa... Sở Công An khép tội làm việc cho CIA.
- Thế cậu là CIA thật à, trông cậu cũng có mác CIA lắm!
- Đâu có! Mais non. Tôi mà là CIA à, tôi ghét Mỹ nhất.
- Chắc tại cậu không chịu lấy nữ cán bộ từ trong bưng ra, cùng làm trong sở chứ gì?
- Đâu có, moa có vợ rồi. Vợ moa đẹp lắm. Moa là công dân Pháp mà.

Chỉ ba hôm sau, hỗn danh của chàng kỹ sư Versailles gắn chặt vào ba chữ "Chú Tây con". Tác phong của hắn là tác phong Tây, và nói tiếng Tây. Đến lúc đó, hắn vẫn còn chưa hiểu tại sao hắn đang được tin dùng như là một chuyên gia cầu đường, bỗng chốc trở nên một tên tù cải tạo.
- Thế tụi nó không báo cho cậu biết là cậu đi tù cải tạo à?
- Đâu có - Chú Tây con còn thói quen trả lời đầu câu bằng hai chữ "đâu có" nên nhận thêm hỗn danh "Đâu Có" - Trước khi tôi đến trình diện công an thành thì anh chủ sự của phòng chỉ nói: "Chúng tôi đánh giá cao sự đóng góp của anh. Chúng tôi rất cần đến chất xám khoa học kỹ thuật của anh. Bây giờ theo lệnh trên, muốn giúp đỡ anh trở nên một chuyên gia xã hội chủ nghĩa, anh tạm 'đi vào thực tế'. Sau đó, chúng tôi sẽ mời anh về tiếp tục phục vụ". Bữa tôi đi, các anh ấy có tiệc trà tiễn đưa đàng hoàng mà.
- Thế là cậu đi vào thực tế Suối Máu với chúng tớ đấy. Hân hạnh quá nhỉ?
- Việc này chắc là có sự hiểu lầm, tôi sẽ nhờ toà đại sứ Pháp can thiệp.
Ông thiếu tá già hiến binh giải ngũ "xì" một tiếng.
- Can thiệp cái con khỉ. Kiện củ khoai. Sức mấy. Mầy ngây thơ lắm!
- Để rồi mấy người coi. Vợ tôi đang lo chuyện đó.

***

Hắn là một nhân vật lạ, đặc biệt trong K1 này. Không những đám tù cải tạo chú ý đến hắn mà cả lũ quản giáo cũng có vẻ chiếu cố đến hắn khá nhiều.
Sơ khởi là chuyện tắm giặt. Không có nước máy đối với hắn là một cực hình rồi. Đến khi chỉ cho hắn  mấy cái giếng để kéo nước lên mà tắm rửa, giặt giũ, nấu ăn thì hắn trợn tròn mắt ngạc nhiên tột độ - "Uống nước này thì chết, nhiều vi trùng lắm, chung quanh cống rãnh không à..." Gã hiến binh thản nhiên bảo: "Mấy tháng nay rồi tụi tao đã chết đâu. Mình sơi vi trùng luôn, sợ gì?"
Hắn than phiền: Trong đời "moa" từ khi lớn lên, ngày nào ít nhất cũng phải rửa c...một lần, không thì chịu không nổi, nó quen đi rồi". Phải xử dụng gầu kéo nước, chế biến bằng nón sắt, giây kéo bằng từng mắt giây kẽm gai nối lại để lấy nước từ dưới sâu lên, đối với hắn khổ sở quá. Hắn bị tay lính thủy đánh  bộ trề môi chê:
- Ngữ này chỉ có nước chết sớm. Tớ nghi nó là kỹ sư dỏm quá.

"Chú Tây con" tắm táp rất kỹ, lại còn tắm bằng xà bông Lux chính cống Mỹ nữa thì tư sản quá đáng. Về cái chỗ để đặt lưng xuống sống cho qua ngày, hắn cũng không biết xoay sở cách sao. Mỗi người, lấy thước đo đàng hoàng, được 85 phân tây chiều rộng, hàng xóm láng giềng phụ giúp hắn giải chiếu treo màn, họ thương tình kẻ mới nhập tịch. Hắn mới "đi vào thực tế" nên quần áo, giày dép, chăn màn còn mới tinh. Chẳng bù với lũ chúng tôi, chỉ mới chuyển trại có một lần mà đã rách tả tơi. Hắn lạ chỗ lạ người, không ngủ nỗi, kêu không có nệm, than bị muỗi đốt.
Tay lính thủy đánh bộ: Chưa thấm vào đâu chú nhỏ. Còn khổ dài dài, chờ xem kỳ sau sẽ rõ. Ly kỳ, rùng rợn lắm chú ạ.
Hắn phàn  nàn không có đèn để học chính trị. Chúng tôi gồm có già hiến binh, tay lính thủy đánh bộ, tay lính dù và tôi phải giải thích cho hắn, nhưng hắn chưa chịu tin là những trò của bọn chúng chỉ là bịp hết. Hắn cho biết, hắn vào trình diện công an thành ở đường Trần Hưng Đạo có mệnh lệnh sự vụ hẳn hoi: "Nay cấp cho đồng chí...cán bộ kỹ thuật trình diện Sở Công An thành phố để được đi điều vào thực tế. Yêu cầu các cơ quan đơn vị giúp đỡ để đồng chí...làm tròn nhiệm vụ trên giao". Ở dưới có chữ ký và con dấu đỏ choé đàng hoàng.
- Họ nói bao giờ thì được về?
- Những anh ở Sở Giao Thông nói độ ba tháng thôi.
- Còn ở Sở Công An nó nói thẳng chú là CIA?
- Đâu có, các anh ấy đâu có nói thẳng, tôi chỉ nghe nói me mé.
- Còn ở đây họ bảo sao, bao giờ thì học thành tài?
- Họ không trả lời rõ, chỉ nói điều đó tuỳ ở sự tiến bộ của tôi. Tôi phải học và lao động tốt để tiến bộ.


Những giờ học ôn các bài "kệ" chỉnh trị, hắn là người hay hỏi nghĩa từng chữ. Bảy tám năm ở Pháp, những chữ Hán Việt hắn chưa quen, khi gặp những khẩn trương, kiệt xuất, ba dòng thác cách mạng, nghiêm túc liên tục...thì hắn chới với thật sự, mặt hắn cứ thộn ra. Những lúc đó cái mác đi Tây về và cái bằng kỹ sư Pont et Chaussées của hắn vô dụng quá.
Đã biết tác phong tư sản và vụng về kiểu Phú Lang Sa của hắn, không bao giờ chúng tôi dám cắt việc nấu cơm cho hắn cả. Chỉ có việc kéo nước từ giếng lên để rửa rau, vo gạo, rửa chảo, kỹ sư nhà ta loay hoay mãi kéo không đầy chảo nước. Rửa rau thì hắn ngắm nghía mãi như một nhà thảo mộc học đang nghiên cứu cây cỏ. Với óc tò mò và sẵn sàng làm việc nhưng hắn làm quá kỹ, quá chậm. Giao cho việc giữ lửa ở bếp, hắn lúng túng bị bỏng tay chân tùm lum. Bây giờ phải giải quyết cách sao, không lẽ để sức trai ngồi không? Phải, tại sao không giao cho hắn chức vụ cao quý là đi vác gạo. Chú Tây con mới vào tù còn sung sức lắm, chú tỏ ra xứng đáng  lòng tin của đội. Bao gạo "năm mươi pao" hắn vác lên vai, bước đi rất anh dũng, rất thơ thới hân hoan.
Từ đó chàng kỹ sư "Bông sốt" được thêm một bí danh nữa là "phụ bát tê" nổi tiếng vác gạo đẹp trong K. Thêm một nhiệm vụ cao đẹp, kiểu cỡ tay cầy vai bừa nữa được giao cho Tây con. Vác củi. Một chàng kỹ sư trẻ tuổi, từ  Vẻc-Sây  trở về giúp "nước" cao lớn, đẹp trai, có cặp kính trắng gọng vàng, không hiểu sao mình lại có tội, lại bị bỏ tù. Hai vai vác hai khúc củi bự, thong dong  đi đứng thì quả thực xã hội chủ nghĩa đã có tài biến đổi con người.

Điều tra, tổng hợp, phân tích mãi rồi người ta cũng tìm được nguyên do tại sao chú Tây con bị đẩy vào đây. Chỉ sau một thời gian ngắn trong quân đội hắn được biệt phái về một cơ quan xây cất, rồi nhờ tài vận động của nhà vợ, hắn vào làm trong một hãng tư, giải ngũ. Sau ngày 30 tháng 4, hắn được vào làm trong Sở Giao Thông Vận Tải thành phố. Con đường sự nghiệp của hắn chỉ có đi lên, nhiều may mắn. Hắn  bị tống vào trại cải tạo không phải vì chê nữ cán bộ nhà quê, hôi hám, cũng không phải vì hắn tham ô. Tên chủ sự của hắn tham ô nhũng lạm, chứ không phải hắn. Chủ sự phòng móc ngoặc với công trường kinh tế mới ăn bớt xi măng, hắn phổi bò, ngây thơ, trong một buổi họp vô tình  đưa ra những con số sai biệt về xi măng. Hắn chỉ muốn chứng tỏ tài học và lòng phục vụ tốt với "cách mạng". Việc chưa vỡ lỡ, nhưng tên chù sự tìm cách triệt hắn. Lục tìm trong hồ sơ lý lịch, nó bắt được chữ "chuẩn uý biệt phái" của kỹ sư Véc Sây. Hắn ngầm đưa chi tiết này cho công an Thành, thế là đồng chí kỹ sư thương mến được "đi vào thực tế" và trong hồ sơ có thể còn nghi là CIA gài lại nữa...

Hắn tiếp tục thắp nến đọc báo Nhân Dân, vẫn chăm vác gạo vác củi huỳnh huỵch. Tây con ăn cơm rất lâu, nhai thực kỹ. Hắn luôn luôn giữ lời khuyên là một ngày phải uống đủ ba lít nước. Vì thế hắn mất rất nhiều thì giờ để đun nước sôi. Hắn đã bị vệ binh ốp và anh em tù kiểm thảo nhiều lần, hắn phải rút xuống hai lít rưỡi rồi hai lít nước một ngày.
Hắn  bảo tôi: Rồi ông thầy coi, chỉ ba tháng thôi, thằng em này sẽ về với vợ. Chắc ông còn nhớ "en" chứ. C'est magnifique!
- Đẹp quá đi chứ, có ảnh của cô ấy đây không?
- Đâu có. Ẻn đang xin cho đàn em ra. Tức thật!
- Tức cái gì, bị tù là đáng rồi, tức tối gì nữa?
- Đâu có, em muốn nói tấm ảnh của Isabelle. Hôm mới vào trại, tụi nó giữ mất rồi.
Già hiến binh chêm  vào: Tao là tao không chịu cái vụ đó à. Ai đời ảnh vợ đẹp, vợ cưng của mình mà đêm đêm tụi nó chuyền tay nhau ngắm nghía thì tức chết đi được.
- Bây giờ phải làm sao xin lại được, các anh?
- Xin cái gì, của mình mà xin xỏ gì. Tao cũng nhất định không chịu. Kỳ quá mà. Lính dù châm ngòi.
Đến lượt lính thủy đánh bộ xúi dại:
- Thì cứ gặp thằng quản giáo nói trả lại. Cái đó có hại gì đâu, hình ảnh người thân của mình có phải tài liệu quốc cấm đâu.
Tưởng nghe qua rồi bỏ, không ngờ chú Tây con anh dũng đi đòi ảnh lại thật. Hai cố vấn dù và lính thủy đánh bộ hơi hối hận.
Trưa hôm sau tên Chòi trung uý trưởng K., được đặt tên là "lơ xe đò" vì hắn chính là lơ xe đò thứ thiệt của xe Sài Gòn-Biên Hoà đang chấp tay sau đít - một kiểu đi rất cán bộ - lững thững kiểm tra nhà bếp. Tây con cà rà lại gần:
- Thưa anh, tôi có một chuyện muốn thưa với anh...
Thằng Chòi trợn mắt: Chuyện gì? Thế rồi hắn cứ lẳng nhẳng ...rồi cả hai ra khỏi cổng K. trước sự ngạc nhiên của mọi người.
Tin đồn lan ra rất nhanh chóng toàn K.
- Thằng Tây con chắc được về rồi, chính anh Chòi vào gọi nó ra.
- Thằng "Đâu có" phen này bị nhốt unex vì dám đòi ảnh vợ.
- Thằng "Phu bát tê" kỳ này chắc bị chỉnh tơi bời hoa lá.

Đến chập tối, chú Tây con bơ phờ trở về. Hắn im lặng ngồi nhai cơm với canh bí đỏ nấu với muối, không nói một câu. Hàng xóm láng giềng hỏi chuyện, hắn lắc đầu. Ăn xong cũng không thèm ra giếng rửa chén đủa, bỏ cả học ôn chính trị. Hắn nằm vắt tay lên trán suy nghĩ sự đời. Đợi khuya, hắn dựng tôi dậy, tậm sự.
- Em giận quá, ông thầy. Họ thay nhau hỏi em hai tiếng đồng hồ liền.
- Rồi bắt đầu viết tờ kiểm điểm phải không?
- Ủa, sao ông thầy biết. Viết rồi, họ bảo chưa thành khẩn, bắt viết lại. Họ nói nhiều câu em nghe không hiểu nghĩa ra sao nữa. Nào là tư tưởng còn chưa dứt khoát, nặng đầu óc gia đình, còn rơi rớt óc tiểu tư sản, chưa nhận thức được chân lý cách mạng.
- Rồi chú viết tờ kiểm điểm đó ra sao?
- Thì ông biết đó, phải hứa là yên tâm học tập, vợ con ở Sài Gòn đã có họ lo, học tập lao động nhiều để cỏ tiến bộ... Hỏi thật ông, mấy người Việt Cộng này - giờ phút này, trong trại cải tạo mà vẫn còn thói quen gọi kẻ chiến thắng là Việt Cộng thì can đảm có thừa - mấy người Việt Cộng không biết vợ con đàn bà con gái là gì à?
Tôi cười trừ - chú mày hỏi khó trả lời quá, thôi về ngủ đi. Cứ tiếp tục vác gạo vác củi, rồi nghiên cứu báo Nhân Dân là sẽ tiến bộ, sớm trở về với vợ. Chớ  hỏi nhiều.
Kể từ đó niềm tin của hắn bắt đầu lung lay. Bọn kia trước được gọi là "các anh ấy", bây giờ chỉ là "họ" khô khăn. Hắn không tốn tiền gửi mua nến để học chính trị nữa, hắn thôi không lẩm cẩm hỏi:  Anh ơi tọa độ là gì... Đây là non hay verbe..." Máy bay chiến đấu con ma đã tọa độ lán của bộ đội ta"  tại sao lại dùng chữ tọa độ, tọa độ có phải là bombarder đâu? Thắc mắc của hắn chỉ có Văn Tiến Dũng trả lời được thôi. Cách dùng chữ của xã hội chủ nghĩa tiên tiến, biến hoá vô lường, bố ai mà hiểu nổi.

***

  Hắn luôn luôn nhắc đến vợ, luôn luôn khoe vợ đẹp. Hắn xoay sang ngồi cắm cúi viết thư cho vợ. Viết thì viết, nhưng đợt thư đầu của hắn, sau khi bị kiểm duyệt, không được gửi đi. Lý do rất dễ hiểu là hắn viết bằng tiếng Pháp. Rồi lại bị gọi ra bộ chỉ huy trại để "làm việc" một buổi chiều nữa, nghĩa là bị sỉ vả đe dọa một lần nữa. Anh nặng đầu óc thực dân phong kiến. Anh còn luyến tiếc đế quốc Pháp. Anh dùng tiếng nước ngoài để định làm mật thám cho thực dân cũ nữa hả? Anh tưởng chúng tôi ngủ dốt không đọc được tiếng Pháp à? Chúng tôi gửi về thành phố Hồ Chí Minh rồi anh sẽ biết. Anh muốn mật báo những tin tức bí mật ở đây cho địch  hả? Khổ nỗi là vợ hắn, Isabelle không biết đọc chữ Việt. Già hiến binh hiến kế: Có mẹ gì đâu, mày cứ viết câu tiếng Pháp dặn "ẻn" là nhờ một người bạn Việt giỏi tiếng Pháp dịch ra cho "ẻn", dễ quá mà.
Chú Tây con lại ra sức viết thư bằng ngôn ngữ bố mẹ đẻ. Cố vấn về ngôn ngữ bất đắc dĩ là già hiến binh và tôi. Hắn tiếc không đem vào được quyển Pháp Việt tự điển. Sincère là gì bố - Affectueux là sao ông thầy? Dịch là thành thật và âu yếm được không? Già hiến binh dẫy lên: mày phải đọc cả câu chứ cứ hỏi vocabulaire, bố tao cũng chịu luôn. Câu đó thì chữ ấy phải viết là chân thành chứ viết cho vợ mà "thành thật" cái nỗi gì? Nói về anh em trong này thì chú viết là "thương mến" chứ chú "âu yếm" chúng tôi, chúng tôi cũng chạy luôn. Hai tay lính thủy đánh bộ và lính dù thì làm mặt nghiêm.
- À mấy anh giúp nó tiết lộ bí mật của đảng ta ở Suối Máu nhé! Mấy anh còn muốn đế quốc Pháp trở lại đây nhé! Tôi đi báo cáo a.
Thấy vẻ mặt e dè của Tây con, họ cười hô hố. Hắn viết khá nhiều, nhưng mỗi tháng một lá được phép gửi đi, mỗi kỳ một tờ thôi. Thư của hắn sau này có thể xuất bản được.

***

Bị chửi bới nhiều phen, Tây con trở nên ít nói, ít thắc mắc. Hắn không trưởng thành trong khói lửa qua cuộc chiến đã tàn, nhưng trưởng thành trong cảnh tù đày. Sau thời gian quan sát, nghiên cứu kỹ càng những toán bổ củi, hắn quyết định xin đổi nghề. Từ nghề phu bát tê sang nghề bổ củi. Do đó hắn lại có thêm biệt hiệu nữa là "Thợ Bổ", thợ bổ củi. Mấy ngày đầu kỹ sư "Bông Sốt" mới vào nghề, cũng lạng  quạng sứt sẹo tay chân. Nhưng rồi " lớn lên trong mồ hôi và máu" hắn bổ củi rất khéo, rất đẹp. Hắn nghiên cứu kỹ lưỡng từng loại củi, củi rừng, thứ thớ xoắn khó nhá nhất, củi thông dễ bổ, củi cao su thì dễ nhất, mềm và thẳng. Khúc củi nào là khúc chạc ba tuy khó nhá, nhưng hắn cũng tìm được cách thanh toán nhẹ nhàng. Củi vác từ bãi về phải được bổ ngay, phơi nắng thêm vài ngày, thớ củi khô đi, nhựa quánh lại, khó làm thịt nó. Nếu không phải thật khô. Phải biết cách nắm chiếc búa, chiếc rìu ra sao, dơ cao hạ thấp thế nào cho đúng kiểu. Hắn còn vẽ trên giấy để chứng minh, áp dụng toán học về sức nặng. Làm sao giảm cường độ lao động mà kết quả lại tăng thêm mới là giỏi. Nhà bếp đặt hàng ra sao sẽ có cùi đúng cở như vậy. Củi nấu cơm bổ lớn. Củi nấu canh nhỏ hơn, củi nấu cháo cho người ốm, nhỏ nữa. Khi đã thành thạo "nghiệp vụ", hắn đứng giảng cho anh em nghe kỹ thuật bổ củi. Hắn nói: là  "Mình ở tù ăn ít, làm nhiều, phải làm sao tiết kiệm được càng nhiều calorie càng tốt. Hắn chỉ phải đứng cách sao để lưỡi búa không sơi tái ngón chân. Phải kê khúc củi ra sao, phải chèn miếng chêm miếng đệm thế nào cho củi tự động tách ra mà không tốn sức lao động. Có lần tên Chòi "lơ xe đò" quản giáo, tình cờ đi qua cũng phải gật gù khen Tây con "lao động có kỹ thuật".
Ông lính thủy đánh bộ chọc "thợ bổ": ở ngoài các em nó làm thợ bổ, khỏe phây phây, tiền vô đều đều. Còn chú mày ở đây làm thợ bổ, anh thấy vất vả quá! Tây con ngây thơ hỏi lại:
- Vậy hả? Ở Sài Gòn bây giờ cũng có các cô, các bà biết bổ củi à?
Khán giả đứng vây quanh xem hắn biểu diễn dùng búa, được một trận cười thoải mái giữa sự ngơ ngác đáng yêu của Tây con. Riêng tôi, tôi thấy cái bằng Bông Sốt của hắn vào đây chỉ để ứng dụng được toán học để...bổ củi thôi, thì xót xa quá!

Một "sự cố" khác xảy ra càng làm hắn mất tin tưởng vào lũ quản giáo. Hắn đã gọi là "tụi nó" chứ không là "họ" chung chung nữa. Hắn nhận được thư của vợ hắn gửi vào. Lá thư ngắn nhưng chan chứa tình yêu thương kèm theo là một bức ảnh 9x12 đen trắng mà mãi sau này chúng tôi mới được chiêm ngưỡng. Bức ảnh chụp rất nghệ thuật, đó là một nàng có hai dòng máu Âu Á với mái tóc buông lơi như sóng Đại Tây Dương. Mũi cao thanh tú, cặp mắt tây phương với hàng mi cong vút. Bức ảnh này là đầu mối rắc rối cuộc đời cho chú Tây con. Chỉ vì mặt sau nàng đề tặng chàng bằng dòng chữ Pháp: "Với tất cả trái tim em, vợ yêu của anh" , lại thêm cách đề ngày cắc cớ theo lối La Mã 12/V LIXVIIVI. Dòng số này có vẻ đáng nghi thực.
Lá thư bằng tiếng Giao Chỉ, bị mang ra bình trước hội trường cho toàn K nghe. Quản giáo Chòi, "lơ xe đò" bữa đó trở thành một diễn viên hài kịch được khán giả tù tán thưởng nồng nhiệt. Sau khi đã giáo đầu bằng những câu "chưa nói tù đã biết quản giáo định nói gì". Chòi lôi lá thư của Isabelle ra đọc (chắc chắn cô nàng đã phải nhờ một người bạn có trình độ học thức khá, viết hộ).
"Anh yêu dấu!" 
Chàng lơ xe đò, đọc từng đoạn để  gián tiếp dạy cô đầm lai sống từ nhỏ bên Pháp, cách viết thư.
- Thế là thế nào, chỉ cần viết Anh hay Anh thân thương là hay lắm rồi.
"Em muốn viết nhiều, thật nhiều để anh đọc, nhưng em nghẹn lời không viết ra đây được." 
- Thế là thế nào? Viết thì cứ viết chứ, tại sao lại nói không viết ra được. Bây giờ tự do thống nhất rồi, muốn tâm tư tình cảm gì cứ viết ra chứ. Nếu nghẹn cổ thì viết thành chữ làm sao được. Các anh nghe tôi nói có chí lý không?
Toàn hội trường ồn ào. Chí lý! Chí lý!
Tên Chòi đắc ý: Chí lý quá đi chứ - hắn luôn có câu "chí lý quá đi chứ" nên có hỗn danh "chí lý" ngoài "lơ xe đò".
"Lời đầu tiên là em phải hỏi ngay là dạo này anh có được khỏe không, anh ăn uống ra sao, anh có ngủ được không? " 
- Tại sao lại hỏi thế. Mỹ cút ngụy nhào rồi, ta phải ăn no ngủ kỹ chứ. Tại sao lại không khỏe? Nhân dân và nhà nước cho các anh vào đây là đã lo đầy đủ cho các anh rồi. Không cần phải lo đến chuyện ăn uống. Vào đây các anh nào có bị đói đâu. Anh nào đói, dơ tay cho tôi biết nào. À, không ai đói cả, anh nào cũng no, cũng khỏe cả. Trả lời tôi nào: "Cỏ được ăn no không?" .
Toàn hội trường cười lớn. "No lắm! No quá đi chứ!".
Vào đây để được học tập, có chúng tôi, có các bạn giúp đỡ là phải khỏe chứ. Hỏi như thế là còn lấn cấn trong lòng đấy. Chưa tin vào cách mạng, chưa tin vào nhân dân đấy!
"Em nghe nói là trong đó các anh học tập chính trị khó lắm phải không? Nhất là anh chưa quen những chữ của xã hội chủ nghĩa..." 
- À cái này thì chị ấy chí lý lắm. Học tập chính trị có phải đơn giản đâu, phải đào sâu suy nghĩ, phải động não thì mới nhận thức nỗi tư tưởng ưu việt của cách mạng chứ, có phải là dễ đâu? Đấy các anh thấy không, anh này theo lý lịch khai báo là kỹ sư gì học tận bên Pháp mà đã thấu hiểu chính trị xã hội của ta đâu. Thế mới biết Đảng ta lãnh đạo thật là tài tình. Các anh nghe có chí lý không?
"Chí lý! Chí lý!"
Chí lý quá đi chứ lại... Tiếng vỗ tay nổi lên từng chập sau mỗi lời bình thư - không phải bình THƠ - của đồng chí quản giáo, thứ người chỉ đáng xách dép cho Tây con và vợ Tây con - không phải để cười cợt Tây con - Tiếng vỗ tay không phải để đùa rỡn trên sự nhớ thương của một thiếu phụ mà đó là những tràng đạn vô hình, tiêu cực chế riễu sự ngu dốt, vô học, xuẩn động về hành vi đọc thư người khác để công khai nhạo báng. Đó là một điều không thể chấp nhận được, không thể tha thứ được đối với một thanh niên được nuôi dưỡng trong môi trường tự do phóng khoáng với bảy năm học ở nước ngoài. Đó là một xúc phạm thô bạo đến tự ái, đến quyền tự do của chú Tây con.

Tôi ngồi sát cánh với hắn lúc đó. Mặt hắn đỏ bừng, lắc lắc cái đầu nhăn nhó. Hàm răng nghiến chặc, tôi thấy rõ bắp thịt hàm chuyển động, những gân ở thái dương nổi lên. Giận lắm, nhưng trong hoàn cảnh này hắn không biết phản ứng cách sao được.
Đoạn cuối bức thư có câu:
"Chúng ta hẹn gặp nhau, ngày hội ngộ không phải tại đây mà ở một phương trời khác, yên lành hơn, tốt đẹp hơn".
- Thế là thế nào. Đất nước này của mình, mình ở chứ. Chỉ năm năm nữa thôi, nước ta sẽ giàu đẹp mười lần hơn đúng như Hồ chủ tịch đã dạy. Có hoà bình rồi ở quê hương mình yên lành hơn chứ. Đất nước mình là cái nôi của nhân loại thì mình cứ ở chứ. Chỗ này chị ấy bị lấn cấn rồi đấy, cần phải được giáo dục thêm.
"Ôm anh và hôn anh ngàn lần"
- Ối giời ơi! Hôn gì mà hôn lắm thế! Như thế là có tư tưởng đồi trụy rồi. Người văn mình và có văn hoá không bao giờ phát ngôn tục tĩu như thế. Ôm và hôn là chỉ có bác Hồ, bác Tôn kính yêu ôm các cháu nhi đồng thắm thiết thôi chứ. Với lại để các bác ôm hôn các anh hùng lao động, các khách quý ngoại quốc thôi chứ. Tôi nói thế các anh có đồng ý không, có chí lý không?
Hội trường vừa vỗ tay vừa la lớn "Chí lý, chí lý, đồng ý, đồng ý". Chưa bao giờ ở đây lại có một buổi "lên lớp" hào hứng mà trật tự vượt khỏi sự kiểm soát của tụi quản giáo vệ binh. Khí thế của đám đông rất sôi nổi. Khí thế này là để chống đối ngầm, như muốn hét to vào mặt tên "lơ xe đò" kia đừng có dạy Tây Đầm thế nào là văn mình văn hoá, qua vòng tay ôm và những nụ hôn.

Vụ lên lớp hội trường còn dư âm, nhưng chưa hết chuyện rắc rối. Dùng chữ Pháp đề tặng mặt sau bức ảnh và dòng chữ đề ngày bằng chữ số la mã cũng đã khiến Tây con mất nửa ngày "làm việc" với tên thiếu tá phó trưởng trại kiêm phụ trách an ninh toàn các K. Sau mấy vụ này "thợ bổ" biếng ăn, biếng bổ củi, hoàn toàn mất niềm tin và trở nên căm hờn dữ. Hắn gọi bọn kia là lũ giặc cướp, lũ mọi rợ, lũ bán khai.
Tôi với hắn, trước kia cùng ngành, tôi đã có dịp nói chuyện với vợ chồng hắn ở Bình Dương, hắn thích tâm sự với tôi. Ông già hiến binh và hai ông lính dù và lính thủy đánh bộ kia hắn vẫn mến, nhưng người thì lớn tuổi quá, người thì hay trêu chọc hắn, nên hắn vẫn thích thố lộ với tôi hơn.
Hắn kể, hôm đó có tên Chòi, trưởng K. tên Chách chuẩn uý an ninh K., anh chàng này còn trẻ mặt trắng xanh, nhưng vô cùng sắt máu và lão thiếu tá kia. Vẫn trò bắt chờ đợi, khai lý lịch viết tờ kiểm điểm sai lầm, rồi  đến trò thẩm vấn mà chúng gọi là "trà đàm". Có lẽ nhờ nhãn hiệu công dân Pháp mà  được dự trà đàm chăng. Sau này chúng tôi đổi lại là "trào đờm", anh nào mà lên đến cấp toàn trại để hỏi cung là sắp trào đờm! Ba kẻ chiến thắng thay phiên nhau cật vấn hắn đủ điều, hỏi từ đời tam đại của Isabelle làm sao hắn biết được, nhất là bên ông bố ở tận bên Bretagne xa lắc.
- Em đã cãi nhau với chúng nó một trận.
- Chú nói gì, chú dám... tôi ngạc nhiên quá  sức.
- Tại sao không, đáng lẽ em không nổi nóng, nhưng đến khi nó lên mặt dạy em là tại sao lại để vợ chụp ảnh hở vai hở cổ lãng mạng, khêu gợi vậy... thì em chịu không nổi. Em vặn thằng thiếu tá: Nếu anh nói đọc được dòng chữ Pháp đề sau ảnh thì anh nói tiếng Pháp với tôi đi.
- Tôi có thể nói tiếng Pháp với anh được, nhưng có các đồng chí ở đây, không tiện.
- Nếu vậy, các anh nên trả lại tấm ảnh cho tôi.
- Đâu được, còn phải chờ lệnh ở Thành- Thằng chuẩn uý Chách phát biểu - vụ này do tôi phát hiện, tôi chịu trách nhiệm. Yêu cầu đồng chí thiếu tá không nên tự quyền giải quyết.
- Đồng ý, phải chờ chính đồng chí giám đốc sở kiêm phó chủ tịch thành phố giải quyết - tên thiếu tá gật gù.
- Nếu anh đã hiểu nội dung và những chữ số đó vô hại, tôi tưởng anh nên quyết định. Chuyện này nhỏ, anh là người cấp to chức nhất ở đây. Tôi hứa là lần sau sẽ không có chuyện này nữa, tôi sẽ dặn vợ tôi. Ngoài ra tôi muốn phản đối các anh một việc.
- Phản đối là phản động. Anh để tôi nhốt nó vào thùng sắt (conex), tên Chách (mà chúng tôi đặt tên là "thằng chăn trâu") sừng sộ tay để vào bao súng lục.
- Đồng chí đừng vội, yêu cầu cứ để anh ta nói. Tên thiếu tá can.
- Tôi phản đối việc đem thư từ của tôi ra đọc công khai trước mọi người. Các anh không có quyền làm thế. Tôi là một cán bộ kỹ thuật từ Sở Giao Thông  Vận tải thành phố.
- Bây giờ anh là tội phạm. Chúng tôi có quyền, chúng tôi đang điều tra về anh, anh đã mất quyền công dân. Chúng tôi đại diện cho nhà nước, bảo đảm an ninh tổ quốc. Chúng tôi muốn làm gì chúng tôi làm.
- Không có một chính quyền nào lại đem thư riêng của người dân để phỉ báng, làm trò cười. Các anh coi thường nhân quyền, các anh coi thường công pháp quốc tế.
- Kẻ tù tội không có quyền làm người. Chúng tôi không cần công pháp quốc tế.
- Nếu vậy tôi không cần nói chuyện với các anh nữa - Lão thiếu tá tím mặt lại, tên "chăn trâu" xô ghế định hành hung hắn, nhưng lão thiếu tá và Chòi "lơ xe đò" ngăn kịp.

Tôi tin hắn không bịa chuyện. Từ ngày đó trở đi, ánh mắt nể sợ, tin tưởng bọn kia đã đổi thành tia nhìn khinh bỉ. Dưới mắt hắn, bọn kia chỉ là một lũ bán khai, mọi rợ. Cũng từ đó tên thủ trương "lơ xe đò" và an ninh "chăn trâu" kiềng hắn ra mặt. Chúng đặt thêm "ăng ten" lấy thêm tin tức về Tây con. Nhất là tên Chách "chăn trâu" cứ theo tia mắt căm thù của nó, có thể ăn tươi nuốt sống chú Tây con của tôi ngay tại chỗ được.

***

 Chuyến thăm nuôi đầu tiên là ngày trọng đại của tù cải tạo. Đó cũng là những ngày quan trọng đối với bọn cai tù. Trăm thương ngàn nhớ dồn lại ngày  hôm đó. Cụ thể hơn là những gói quà, thùng quà và gánh quà gói ghém bao tình, bao nghĩa. Bọn cai tù tuy đã bố trí, chuẩn bị kỹ, nhưng vẫn còn sơ hở, vẫn có những vấn đề xảy ra, nhưng chúng không lường trước được. Chúng cho cất những dãy nhà lá mới, kiểu như một khu tiếp tân ở các quân trường bên ngoài vòng rào trại.
Tôi ra để được gặp nhà tôi và ba trong sáu đứa con tôi, cùng một giờ một nhóm với chàng kỹ sư này. Trước đó hắn chuẩn bị kỹ lưỡng, quá kỹ lưỡng, có lẽ kỹ nhất trong K. này. Hắn làm buổi sáng, đánh răng nhiều lần, chải đầu nhiều lần và soi vào mãnh gương vỡ của người bạn, nhiều lần.
Hắn diện một sơ mi và một quần tây mới nhất, chưa  mặc đến bao giờ, để được gặp vợ. Hắn vuốt vuốt mãi mái tóc mới nhờ người bạn hành nghề cắt tóc ngang xương ở đây, làm đẹp lại.
- Ông ngó coi em có preosentable không?
- Beau lắm rồi. Vẫn y nguyên là một kỹ sư Bông Sốt như xưa.
- Thực hả ông? Ủa, để em đi kiếm bó hoa tặng "ẻn" mới được.
- !!!
Tôi tưởng hắn nói chơi, nhưng hắn làm thật. Ở trại tù đào đâu ra hồng, lay ơn như ở Sài Gòn, Paris để tặng vợ yêu theo cách  thế tây phương. Cộng sản đã bảo dân và bảo tù là phải khắc phục, phải tự túc. Hắn thực hành ngay lối dạy bảo đó. Không cần hỏi ai, hắn đi hái được một bó hoa, thứ hoa không tên, như bông thọ nhỏ, cùng với ít hoa tím hoa trắng mọc dại, bó lại cẩn thận bao giấy bên ngoài, rồi để sẵn ở chỗ nằm. Khi hắn đứng xếp hàng, vai vác đòn gánh với hai bao bố ở đầu đòn thì không ai để ý hắn đã dấu bó hồng trong đó.
Chuyện đầu tiên mới trông thấy nhau trong căn nhà mới cất còn thơm mùi tranh, tre, hai kẻ trẻ tuổi yêu nhau xáp lại và ôm nhau hôn rất tự nhiên. Đó là một cách thể biểu tỏ tình thương yêu rất bình thường, rất "người". Dân Liên Xô, dân Đông Âu cũng biểu lộ tình thương yêu như vậy thôi. Rồi cộng sản Á châu cũng học mót. Ôm nhau, hôn nhau sau mấy tháng xa cách chẳng có gì là tội lỗi. Ôm nhau chưa đủ, chú Tây con, cậu "đâu có", phu bát tê, thợ bổ, còn vô tình ngang nhiên và anh dũng thò ra một bó hoa. Bó hoa nhỏ, nhưng vẫn còn tươi, có màu vàng, trắng, tím và lá xanh. Bó hoa không đáng giá một đồng  bạc, nhưng vào thời gian đó, không gian đó, giây phút đó thực là vô giá.
Tôi liếc mắt thấy Isabelle bừng lên một nét cám ơn, trong khoé mắt tây phương đó tôi thấy long  lanh giọt nước mắt hạnh phúc, dù chỉ là hạnh phúc trong cảnh khổ đau, tù ngục. Vợ tôi cũng ngó màn kịch đó, tuy thời gian cho gặp nhau ít oi, nhưng vợ tôi cũng khen cô đó đẹp quá, mấy người bộ đội ở đây ai cũng ngó cô ấy.

Thời gian đầu, bên kia có thể là chưa ra tay, có thể là chưa rút kinh nghiệm việc tổ chức thăm nuôi, chúng chưa trắng trợn đặt công an ngồi ngay cạnh để nghe ngóng. Mấy vệ binh và quản giáo chỉ đi rảo bên ngoài. Khí thấy mọi người đều có vẻ hướng về mái tóc nâu sẫm trong này thì, chúng cử một tên nhóc đeo AK bước vào trong. Hôm trùng phùng đó, cô vợ chàng kỹ sư, vừa có máu Bretagne vừa có máu Hậu Giang luân lưu trong huyết quản, chắc đã được phường khóm chỉ dẫn, Isabelle chỉ dám trang điểm kín đáo - móng  tay đã tẩy hết màu sơn đỏ, nhưng bàn tay búp măng vẫn nuột nà. Cô nàng chỉ dám mặc một bộ bà ba kiểu, bằng  lụa nâu nhưng có thêu những bông hoa nhỏ  rất công phu. Khuôn mặt đẹp như Elizabeth Taylor thời còn thanh xuân. Tóc nâu, mắt nâu, mi nâu dài và cong  càng làm nổi bật làn da trứng gà bóc.

Tên vệ binh đứng phía cửa nghe ngóng. Chú Tây con trông thấy, bèn xổ ra một tràng tiếng Pháp như để chọc tức. Dĩ nhiên cô vợ phải trả lời bằng tiếng của bố đẻ. Tên lính nhỏ đó, không biết xử trí ra sao, nhưng rõ ràng nó cũng phải nhận thấy vẻ đẹp rất nổi của Isabelle. Nó đứng thộn ra ngó người đẹp. Chú Tây con làm tới, hắn choàng vai vợ và đặt một nụ hôn vào má nàng. Đến "thời điểm" này thì đã có chỉ thị, hắn sấn lại trước mặt cặp vợ chồng trẻ, giở giọng: "Yêu cầu các  anh chị nghiêm túc. Phải giữ đúng "lội" qui thăm "lom". Nghe rõ!". Chú Tây con lặng lẽ gật đầu nhưng không rời vòng tay. Người đẹp Bretagne mở to đôi mắt phượng ngơ ngác  hỏi chồng, cặp môi hé mở ngạc nhiên.
Thằng nhóc Thái Bình thấy lẻ loi, có lẽ nó chưa bao giờ thấy một người đẹp như vậy trong đời nó, trong khi chung quanh không khí thật là nặng nề, lạ lùng với nó. Chỉ nghe tiếng rì rầm thăm hỏi, chỉ thấy những khoé mắt ác cảm của những ông bà già, những ngấn lệ của  người mẹ, của đứa con... Hắn xách súng lặng lẽ rút lui ra ngoài sân.

Trở về K. chú Tây con phải vất vả lắm mới chuyển hết số lương thực thực phẩm khổng lồ về. Chiếc đòn gánh đem theo, không bao giờ được dùng đến vì có bao giờ kỹ sư bên Tây biết gánh? Sức hắn khỏe lắm, nhưng cũng phải hai chuyến đi hắn mới vác hết về được.
Cả ngày hôm đó là ngày hội lớn, ngày cưới thứ nhì của hắn. Hắn tuyên bố như thế. Hắn không thiết, không cần ăn uống gì, tuy bò gà heo cá ê hề, ở trên đầu, ở dưới chân, ở chỗ nằm. Hắn gối tay ngữa  mặt nhìn lên mái tôn và lũ chuột đang rình tấn công thực phẩm thăm nuôi thơm phưng phức. Khuôn mặt hắn rạng rỡ, luôn luôn cười một mình.
Ông già hiến binh gật gù: tao biết chú mày sướng rồi!
- Thì bố coi, con chơi cho thằng vệ binh một vố, nó thua luôn.
- Nhưng tao hồi còn trẻ đó, tù thì tù, tao cũng bị Tây bỏ tù rồi chứ bộ, vợ tao không đẹp như vợ mày bây giờ, lâu ngày đến thăm, chết sống gì tao cũng phải làm một cái đã. Muốn ra sao thì ra.
Tay lính dù bồi thêm một đòn:
- Đ.M. nó, gặp vợ trẻ đẹp mà không... ấy được, chết sướng hơn.
Tay lính thủy đánh bộ bỏ bom tiếp:
- Phải mà, chế độ gì kỳ cục. Hôn hít sơ sịt ăn thua mẹ gì. Tớ mà cỏ vợ đẹp như vậy, tớ đâu có chịu nằm đây nữa, tớ "dọc" từ khuya rồi.
Chú Tây con vẫn giữ nụ cười, nhưng nghe các cố vấn tình yêu nói cũng chí lý lắm. Hắn lẩm bẩm:
C'est ca, c'est ca, Oui, oui!
Nhưng hắn không giữ được nụ cười lâu dài.

Trước khi đi lao động sáng hôm sau, chúng tôi nhận được lệnh phải trở về buổi trưa, để ăn uống xong sẽ chịu một cuộc nói chuyện của "các anh ở trên" nữa. Buổi sáng hôm đó trong toán chúng tôi, vắng mặt "chú Tây con".
Đúng hai giờ trưa, thì tên thiếu tá phó trại trưởng mới đến, nghĩ là chúng đã hành chúng tôi, bắt phơi nắng hơn tiếng đồng hồ. Vẫn tác phong khề  khà, sâu hiểm như những tên cán bộ khác. Mở đầu hắn ngõ lời chào (!) chúng tôi. Rồi cà kê dê ngỗng kể chuyện đại thắng, chuyện đảng ta, nhân dân kiên cường, bây giờ đã sạch bóng quân thù, thống nhất đất nước. Các anh học tập để trở thành con người mới trong xã hội chủ nghĩa ... Mục đích chính của  hắn là nhận xét phê bình về chuyện thăm nuôi vừa qua. Đảng và nhà nước vô cùng nhân đạo, không có tắm máu, ngày xưa ta  còn cấp thuyền bè cho Trung quốc phong kiến trở về nước, ngày nay vẫn cho các anh gặp vợ con. Nhưng trong số các anh vẫn còn những hành động không tôn trọng nội qui, thiếu văn minh, không có văn hoá. Điển hình là anh... ở K. này. Anh ấy đâu?
Tên chuẩn uý Chách mặt xanh, Bí danh "chăn trâu" dẫn thủ phạm  kỹ sư "Bông Sốt" ra trước đám đông.
- Như anh này đây, xem ra cũng là người có trình độ khoa học kỹ thuật đấy, được bố mẹ có tiền cho đi học nước ngoài cơ đấy.  Sau mấy tháng học tập, mới lao động sơ khởi, nhưng qua chuyến thăm  nom vừa rồi thấy rõ còn nhiều khuyết điểm lắm. Còn nhiều đầu óc ủy mị, nặng gia đình, có tư tưởng hưởng lạc, đồi trụy xuyên qua hành động thân mật với vợ.
Đứng bên dưới, tôi nghĩ thầm, đây là dịp hắn đáp lễ lại chú Tây con đã cả gan phản đối hắn trong bữa trà đàm. Trong cái nắng chói loá tháng sáu ghê người, trên những cánh đồi thấp ở gần Biên Hoà, cái chói chang của những mái tôn phản chiếu mặt trời, trong giọng chát chúa qua máy phóng thanh, tai tôi ù, mắt hoa nhưng vẫn thấy chú Tây con nhẫn nhục đứng nghiêm trước bọn quản giáo.
- Lại còn hành động trao hoa nữa. Hoa đó đâu phải là hoa do sức lao động  anh ấy làm ra, hoa đỏ là của tập thể. Chỉ các đồng chí cấp cao, các khách quý nước ngoài mới được nhận hoa thôi chứ...
Tôi không thấy nước mắt của Tây con, chỉ thấy những giọt mồ hôi chảy dài trên khuôn mặt đẹp trai và đỏ bừng vì căm hờn, vì nắng hè mà thôi. Phải, dưới lớp mũ vải xấu xí và bộ quần áo tồi tàn, hắn đứng như tượng gỗ. Nét mặt bình thản như trước mặt không cỏ bóng người. Tôi hiểu Tây con khinh bọn kia vô tả, tôi hiểu hắn đứng đó nhưng không thèm nhìn ai hết, đứng đó mà không thèm nghe gì hết, mặc cho tên kia đang ông ổng tuôn ra những lời chói tai. Hắn đứng đó nhưng hồn hắn đang bay về Sài Gòn, về bên người vợ thân yêu xinh đẹp với mái tóc biển Manche, với làn da nõn như mây trời Bretagne.
Khi được hỏi : "Anh có gì phát biểu không?"
Hắn suy nghĩ vài giây, rồi mạnh bạo trả lời: tôi không có gì nói cả.
Tên thiếu tá hỏi gặng: anh sẽ xứng đáng để lần sau gặp vợ nữa chứ?
Hắn làm như không nghe thấy câu hỏi đó. Tên thiếu tá phải xoay qua nói thêm với đám đông một chập nữa... Tôi hiểu Tây con đã trưởng thành, hắn biết rằng nói gì nữa cũng bằng thừa, cũng vô ích. Vì hắn đã nói hết, đã nói thẳng vào mất bọn kia rồi. Đây là lúc nín thở qua sông thôi. Tôi biết, lát nữa đây, sau khi về chỗ ngủ để tiếp tục triển khai "lời dạy dỗ của đồng chí thiếu tá", thế nào chú Tây con cũng bị nhiều kẻ trách móc vì lo sợ sẽ bị làm khó khăn cho kỳ thăm  nuôi sắp tới, nhưng chúng tôi, già hiến binh, lính dù, lính thủy đánh bộ và tôi sẽ bênh vực hắn.

Sau ba năm khổ sai, tôi trở về. Hỏi thăm, được biết Isabelle đã kịp thời cứu được chồng ra khỏi nanh vuốt, qua sự can thiệp mạnh của toà đại sứ Pháp tại Sài Gòn. Tôi tạm quên thân phận hẫm hiu của mình để mừng cho cặp vợ chồng trẻ đã qua được đất Pháp. Ít nhiều gì con người của Tây con và vợ đã thẩm nhập được những tư tưởng tự do phóng khoáng dân chủ lãng mạn của Montesquieu, Rousseau, Voltaire, Hugo, Verlaine... nếu còn ở lại Sài Gòn sẽ không chịu đựng nỗi với cái tư tưởng lỗi thời, lạc hậu sai lầm, già nua của Marx, Lenine, Mao, Hồ.
Ở bên trời Tây, có một lúc nào đó, Tây con còn nhớ đến chúng tôi? Và Isabelle, cô còn nhớ đến quê mẹ chăng?


Diệu Tần




--------
Nguồn: VĂN, số 60, tháng 6-1987








Friday, February 16, 2018

CỦA QUÝ NẠM VÀNG



Nguyễn Thạch Giang



Anh bước vào quán cà phê của chú Năm ai cũng ngó, anh vừa "bắn tiếng" là anh đang tìm vợ. Nhưng anh nói trước, vợ anh phải đi làm nuôi anh, anh sẽ là người chồng ăn ở không đi chơi, sáng quán cà phê chiều quán nhậu.
Lúc anh bước ra mọi người bắt đầu bàn tán, xóm nhà lá này vui hẳn lên. Anh Tư Hên nói thằng cha Việt kiều này nói chuyện có hơi "sốc". Chị Ba Điệu thì nói cha này chắc đẻ bọc điều, sướng từ trong trứng sướng ra. Thằng Tửng thì nói ở đây đàn ông đi làm nuôi vợ, cha này thì vợ đi làm nuôi chả, chắc con cu của chả nạm vàng. Mọi người cười ồ thích thú.

Anh tên Thân vì má anh đẻ anh năm con Khỉ, đẻ rớt chớ có đẻ bọc điều chi đâu. Tết năm đó, cái năm Mậu Thân nhớ đời, Việt Cộng lợi dụng lúc hưu chiến mở cuộc tấn công tùm lum. Trong khi bà con nhốn nháo tìm đường di tản thì mẹ anh nửa đêm đau bụng đẻ tìm người đưa đi nhà thương. Đường xá cúp điện tối om, lại thêm giới nghiêm, bà lội bộ đến nhà bảo sanh may mà không đẻ rớt. Bà tủi thân khóc tấm tức, sanh con nhằm năm con Khỉ nên đặt tên anh là Thân cho dễ nhớ.

Tết Mậu Tuất này anh về Việt Nam chơi và có ý định tìm vợ, năm mươi tuổi rồi, trụ lại cũng là vừa, ăn chơi nhiêu đó đủ rồi. Qua Mỹ đã lâu nhưng làm ít mà xài nhiều nên anh vốn liếng giờ cũng chẳng có gì, trên răng dưới củ. Nhưng anh không lo, mà từ trước tới giờ anh có lo gì đâu, giao cho ông trời lo. Giờ cưới vợ để vợ lo.
Nhà cha mẹ anh ở trong cái xóm nhà lá này, anh đi Mỹ hồi nào không ai biết, tới chừng anh là Việt kiều hồi hương thì mọi người bật ngữa. Lâu lâu vài ba tháng là thấy anh ngồi quán cà phê chú Năm. Hỏi anh làm gì ở bên Mỹ mà cứ thấy về Việt Nam chơi hoài sướng quá vậy. Anh nói đang thất nghiệp, tui thất nghiệp về Việt Nam chơi. He he. Nói anh số đẻ bọc điều cũng phải.
Anh năm mươi tuổi mà chưa từng lập gia đình? Chuyện khó tin nhưng có thật. Lúc còn trẻ thì ham vui nay cặp cô này mai cặp cô khác. Giờ lớn tuổi không tiền bạc không sự nghiệp, nhìn gái gái ngó lơ. Muốn có vợ hơi bị khó. Anh chỉ còn nước về Việt Nam thì họa may.

Trong cái xóm nhà lá chỗ anh ở có một căn nhà ngói, nhà của bà Mộng Điệp. Bà Mộng Điệp chuyên kinh doanh quán bia ôm giờ nhiều tiền hùn hạp kinh doanh nhà nghỉ. Tên thật của bà là Đẹt, Lê Thị Đẹt. Bà tên Đẹt nhưng người thì không đẹt, mười ba mười bốn đã phỗng phao như gái mười tám. Da trắng mắt to ngực vun cao mông đầy đặn, bà nổi tiếng xinh đẹp từ thời là gái mới lớn. Từ con Đẹt giờ thành con Đẹp. Lúc bà lấy chồng đẻ con bắt đầu mở quán nhậu thì cái tên Đẹt nhà quê ấy biến thành Điệp, Mộng Điệp, lấy theo tên của bà thứ phi của vị vua cuối cùng triều Nguyễn. Bà nói thà làm thứ phi cho một vì vua còn hơn làm chánh thất cho một người đàn ông không tên tuổi.

Bà có ba đời chồng, ông chồng đầu tiên là có cưới hỏi đàng hoàng, hai ông sau thì chỉ như người tình hờ để bà sai vặt nhờ vã chuyện này chuyện kia. Bà giỏi làm ăn, chỉ thích ra ngoài buôn này bán kia kiếm tiền. Chuyện bếp núc hay chuyện nuôi con giao cho ông chồng và người làm. Suốt ngày bà ở ngoài đường giao tiếp với đối tác bàn chuyện làm ăn. Mà thời buổi này dân làm ăn bàn chuyện làm ăn trên bàn nhậu. Lúc đầu bà chỉ uống chút chút xã giao cho có lệ, lâu ngày quen trớn bà cũng cụng ly dô dô trăm phần trăm như cánh đàn ông. Hết nhậu thì đến tăng hai...mát xa... bước qua tăng ba...kéo nhau ra nhà nghỉ. Đồng hội đồng thuyền, đàn ông gái gú thì mình đàn bà kém chi, không phi công trẻ cũng phi công già. Mình có tiền thì mình có quyền... he he.

Bà chưa từng yêu ai thật lòng, từ lúc mới lớn bà đã được đàn ông bao vây, xung quanh lúc nào cũng có đàn ông để bà sai khiến. Đàn ông theo đuổi tán tỉnh bà chớ bà chưa từng để ý đến ai. Nhưng không hiểu sao từ hôm nghe thiên hạ đồn rằng... anh ta đang "tuyển vợ". Cái anh chàng Việt kiều lối xóm thỉnh thoảng đi ngang nhà, bà thấy ở anh ta có cái gì rất lôi cuốn. Bà thật sự bị lôi cuốn. Bà muốn chiếm hữu người đàn ông này. Cuộc đời của bà chưa từng theo đuổi ai mà không được.
Lấy anh ta phải đi làm nuôi anh ta? Chuyện nhỏ. Bà từng nuôi chồng và từng bỏ tiền ra nuôi trai. Từ trước đến giờ mọi chuyện tiền bạc chi tiêu trong gia đình một tay bà lo. Bà thích như vậy, hễ mình nuôi ai thì mình đặt đâu họ ngồi đó. He he...

Bà nghĩ bà là người đầu tiên ghi danh cho cuộc "tuyển vợ" của anh chàng đang nổi tiếng nhứt xóm nhà lá này. Nhưng không, ở đời mình nhanh thì cũng có người khác nhanh hơn. Cô giáo Minh là người xóm khác nghe tin đã vội nộp đơn trước rồi. Cô là giáo viên dạy cấp ba trường trung học. Cô nổi tiếng học giỏi, đã bốn mươi nhưng chưa chịu lấy chồng. Mà lấy ai ở cái xứ này đây?  Cô vẫn còn ham học và vẫn còn mơ về một nơi xa lắm. Mỹ. Ôi giấc mơ Mỹ sao mà nó quyến rũ lạ kỳ.
Người thứ hai dự tranh là con Mộng Ngọc, tên Mộng Ngọc nghe kiêu sa đài các chớ thật ra nó là gái bán bia ôm. Tên thật của nó chẳng ai biết, nhưng điều đó đâu quan trọng. Mộng Ngọc còn trẻ, rất trẻ và đẹp. Nhà nghèo quá ưng đại ông Việt kiều này, ổng ra điều kiện nào cũng chịu vì nghe đồn qua Mỹ rất dễ kiếm tiền.
Bà Mộng Điệp tự tin, không thấy điều gì phải lo lắng. Hai đối thủ của bà, tuy có trẻ hơn, nhưng sao kinh nghiệm "đàn ông" bằng mình, mình lại có nhiều tiền hơn họ. Bà mở tiệc đãi người đàn ông nổi tiếng có một không hai ở thành phố này. Buổi tiệc đặc biệt, gồm toàn đặc sản quê hương. Nào là chuột đồng rô ti, chuột đồng nướng sả, rồi thì thịt rắn cùng với thịt rùa. Ở Mỹ làm gì có mấy thứ này. Nhưng sao chàng không mặn mà cho lắm, món nào cũng chỉ thử qua một miếng cho biết rồi thôi. Chắc là chàng còn e dè khách sáo. Nhưng không hề chi, chàng không ăn thì mình "đút" chàng ăn, mình từng làm chủ quán bia ôm kia mà.

***

Anh Thân và chị Lựu là bà con cô cậu. Hai nhà ở sát cạnh nhau, từ nhỏ hai người chơi đùa cùng nhau thân thiết như đôi bạn. Trong khi anh Thân vẫn còn độc thân thì chị Lựu đã có dâu có rễ, cháu nội cháu ngoại một nhà. "Vậy mà ổng già còn sanh tật, có bồ nhí." Chị than thở với mọi người, nhất định là chồng chị đi ra ngoài ăn vụng. Ai khuyên bảo thế nào cũng không nghe. Chị lại có tật hay xem bói, rất mê và rất tin thầy bói. Thời này mà chị cũng tin ba cái bùa mê ngãi yêu, chị nói chồng chị bị con nhỏ đó bỏ bùa. Mấy tháng nay chị lo buồn thân sơ thất sở ốm o gầy mòn. Hôm nay sẵn dịp anh Thân ghé chơi, chị rủ anh qua nhà thằng Tý Chuột hỏi thử xem nó có bùa ngãi gì không, nó nổi tiếng đồng bóng xóm này, biết đâu chừng nó có. Chị nhất định lôi ông chồng của mình ra khỏi cơn mê tình.

Thằng Tý Chuột không có nhà, chỉ có chị nó đang nấu cơm, hai người ngồi chờ. Chị Lựu tiếp tục kể tội ông chồng, anh Thân ngán ngẫm không muốn nghe đưa mắt ngó ra nhà sau. Lâu lâu bắt gặp chị thằng Tý vén màn len lén nhìn trộm. Nhìn điệu bộ cô nàng anh bỗng thấy tức cười, không biết cô nàng nghĩ gì về mình đây? Hay là cô nghe người ta nói điều gì về mình?
Cơm chín mà thằng Tý cũng chưa về, chị nó mời hai người sẵn bữa ăn cơm với tụi em. Chị Lựu từ chối định đi về "cám ơn em thôi để khi khác." Nhưng anh Thân nói mình ở lại chờ thằng Tý, thật ra anh bỗng dưng thấy thích thích cô gái này. Rồi anh tự nhiên rủ chị Lựu ăn cơm cho vui "chút nữa tui ra tiệm mua đồ ăn khác đền cho nó".
Chị thằng Tý cứ nhìn anh cười tủm tỉm. Anh nghĩ chắc cô nàng nghe người ta nói về mình điều chi đây.  Cô hỏi anh tuổi con gì. Chắc cô nàng muốn biết anh bao nhiêu tuổi.
"Người ta tuổi Ngọ tuổi Mùi. Riêng tui cay đắng ngậm ngùi tuổi Thân".
Cô nàng tròn mắt, miệng cười tủm tỉm. "Anh Thân tuổi con khỉ hả? Em cũng tuổi khỉ, nhưng không có tủi thân mà là Canh Thân".
"Mà em biết tại sao anh tủi thân không? Tại vì từng tuổi này mà vẫn còn cu ky một mình"
"Em nghe nói có bà Mộng Điệp nè, người đẹp Mộng Ngọc nè, rồi cô giáo Minh nữa chi"
Wow! Cả anh Thân và chị Lựu cùng lên tiếng "cả cái xóm này ai cũng biết, sao tui nổi tiếng dữ vậy kìa". Rồi anh nhìn sang chị thằng Tý " Em có nghe người ta đồn về anh như thế nào không?".
Chị thằng Tý cười cười ngập ngừng không muốn nói. Anh bỗng cười khùng khục khi nhớ tới lời thằng Tửng nói cái đó của mình nạm vàng. Anh hỏi cô nàng:
"Nếu chồng em nói em phải đi làm nuôi chồng, em sẽ nghĩ sao"
"Em sẽ nói được thôi, em đồng ý đi làm nuôi anh, nhưng với điều kiện em nói gì anh phải nghe theo"
Anh Thân bị giáng trả một đòn đau điếng.  Khi buông lời nói nửa đùa nửa thật "ai muốn tui cưới phải đi làm nuôi tui". Anh thích thú với câu nói đó lắm, cảm thấy như mình ngon lành dữ lắm. Giờ bị một cô gái trẻ đáp lễ làm anh cứng họng. Vợ nuôi mà vợ đặt đâu ngồi đó thì vợ ơi thà chết sướng hơn.

Bỗng dưng anh Thân và chị thằng Tý "kết mô đen", bỗng dưng hai người hẹn hò đi chơi chỗ này chỗ kia. Anh Thân là người từng trãi, lại nỗi tiếng đào hoa nay cô này mai cô khác. Ai thấy cũng ngại cho chị thằng Tý Chuột, rồi có ngày anh sẽ một đi không trở lại. Thằng Tửng thương bạn, nói với thằng Tý mầy không nghe người ta nói cái ông đó sao, có một cái củ cải héo mà đi bán cùng làng. Thằng Tý Chuột đáp tỉnh queo, người ta tốn bạc triệu mua rùa mua rắn mà còn chưa thấy gì, chị tao có tốn đồng bạc nào đâu mà cũng có được cái củ cải héo. Kệ, coi như mình đùa hết láng đặt một ván bài, được ăn cả ngã về không. Thằng Tửng dang tay kêu trời, thôi hết ý kiến.

Anh Thân rủ chị thằng Tý đi Vũng Tàu chơi, anh không có tiền năn nỉ mượn chị Lựu mười triệu. Chị Lựu đồng ý cho mượn với điều kiện cho chị đi theo. Chị thằng Tý Chuột muốn nó cùng đi, thằng Tý rủ thêm thằng Tửng cho có bạn. Anh Thân đành chịu thôi. Đông vui hao. Đến Vũng Tàu mướn hai phòng khách sạn, chị Lựu và chị thằng Tý chung phòng, phòng kia dành cho ba ông con trai.
Buổi tối ăn cơm xong cả bọn dẫn nhau ra bãi biển ngắm trăng hóng gió. Một lát sau anh Thân rủ chị thằng Tý đi ngắm cái gì không biết. Chờ hoài không thấy hai người trở lại cả bọn dẫn nhau về phòng khách sạn. Chị Lựu ở trong phòng một mình sợ ma, chị qua phòng thằng Tý ngồi chơi sẵn dịp nhờ nó coi bói. Rồi chị xin nó một lá bùa yêu. Nó nói nó không có bùa. Chị trợn mắt dậm chân "mày không bỏ bùa sao anh Thân mê chị mày dữ vậy".
Chờ đến khuya hai người vẫn chưa thấy về, thằng Tý ái náy sợ có chuyện gì, nó lấy cái phone định gọi. Chị Lựu cười cười nói mầy khỏi gọi, hai tụi nó đang ở trong phòng tự nãy giờ. Thằng Tý chợt nghĩ sao chị biết, thôi rồi chị với anh Thân hai người đã bày mưu tính kế từ đầu.

Từ hôm đi Vũng Tàu về anh Thân coi chị thằng Tý như là vợ của ảnh không bằng. Anh mê chị nó còn hơn là bị bỏ bùa. Hai người dẫn nhau đi làm hôn thú, anh có đem sẵn giấy tờ, công hàm độc thân các thứ. Còn đám cưới ra mắt bà con thì để từ từ, giờ anh chưa có tiền.
Anh nay đã là con rể trong nhà, anh tình thật nói anh không có tiền để làm giấy tờ bảo lãnh cho vợ, nếu có thì ứng trước cho anh mượn đỡ. Thằng Tý Chuột ký ca ký cóp dấu mấy lượng vàng ở trong vách nhà. Mà là vàng nhẫn chớ không phải vàng lá, nó dấu chỗ này một hai chỉ, chỗ kia vài ba chỉ. Nó với thằng Tửng hì hục đục đẻo vách tường cả buổi trời gom đâu được chừng năm lượng. "Công nhận thằng này vậy mà giỏi", thằng Tửng nói, "mày để dành tiền hay thiệt đó Tý, nhưng tao thấy tội cho mày quá, bòn tro đãi trấu giờ đem cho con gấu nó ăn".
"Anh Thân nay là con rể trong nhà, ảnh đã làm hôn thú với chị tao rồi".
"Hôn nhân cũng đâu giữ được chân ai"
Thằng Tý Chuột nhìn thằng Tửng, "Mày lượm được câu đó ở đâu vậy?"
"Kỳ Duyên"
"Hoa hậu Kỳ Duyên?"
"Không phải cô Kỳ Duyên hoa hậu Việt Nam, cô Kỳ Duyên này cũng là hoa hậu, nhưng là hoa hậu Cà Chớn"

Thằng Tý Chuột trầm ngâm nghĩ ngợi, rồi nó nói một câu mà thằng Tửng phải chấp tay bái phục.

"Trong một cuộc hôn nhân, điều quan trọng nhất là khi ly dị người ta chia được bao nhiêu của".




Friday, January 19, 2018

BUÔN THẦN BÁN THÁNH



Nguyễn Thạch Giang



Thằng Tửng mở cửa rào bước vào trong miệng kêu oang oang: "Tý Chuột! Tý Chuột!". Thằng Tý từ nhà sau bước ra, tay cầm con dao miệng nhai nhóp nhép:
- Tao đang nấu cơm, ủa, tao tưởng mầy với thằng Tèo đang ngồi ở quán cà phê chú Năm chớ.
- Tao với nó ngồi đồng từ sáng tới giờ, không biết đào đâu ra một triệu đóng hụi chết. Đang lúc nghèo, mẹ, sao lúc này nghèo dữ không có được mấy chục ngàn ăn sáng.
- Mày đói bụng không, tao luộc mì gói cho mày ăn đỡ chớ cơm chưa chín, mà cũng chỉ có cá kho thôi.
- Ừ, ăn đỡ đói, có còn hơn không, quan trọng là từ đây tới chiều phải có một triệu. Mày có cho tao mượn, hay là tìm cách xoay dùm tao.

Thằng Tý chạy xuống bếp tiếp tục công việc nấu nướng, đó là phận sự của nó. Vì nó không đi làm nên phải làm công chuyện nhà, nấu ăn, giặt giũ, quét dọn lau chùi nhà cửa. Mà nó thích như vậy, không bị bó buộc giờ giấc, xong phận sự là nó dông tuốt ra quán ngồi tán dóc với bạn bè ngó ông đi qua bà đi lại. Nó không đi làm nhưng lúc nào nó cũng có tiền xài, trời cho, chỉ đủ lai rai cà phê thuốc lá, nhưng nó chỉ cầu được như vậy thôi.
Thằng Tý sống với mẹ và chị nó. Nó chưa từng có bạn gái mà chắc nó cũng sẽ không lấy vợ. Từ nhỏ thường bị bạn bè chọc ghẹo cái đó của nó "lớn" bằng trái ớt hiểm. Thằng Tửng thì nói nó sanh không nhằm thời, "Nếu mày sanh thời vua chúa, mày sẽ được làm quan, quan Thái Giám". He he.

Thằng Tý luộc rau xong tắt lửa nồi cá kho, chút nữa má và chị nó về ăn. Nó bước ra nhà trên, thằng Tửng ăn xong ngồi hút thuốc lá chờ nó. Nó bước vào phòng đếm tiền cho thằng Tửng mượn "chữa cháy". Đếm tới đếm lui chỉ có mấy trăm ngàn, nhưng nó không muốn hỏi má nó mà nó cũng không muốn đem bán mấy chỉ vàng. Chợt nhìn thấy bức tượng rất đẹp nó mua ở Campuchia hôm đi viếng khu đền Đế Thiên Đế Thích. Nó nghĩ bụng hay là đem  bức tượng "ông Thần" này đi bán. Nó xách ra ngoài cho thẳng Tửng coi.
- Mày thấy "Ông Thần" này có đẹp không? Tao mua hôm đi chơi ở Angkor Wat, giờ túng tiền đem bán cho mày mượn, chớ tao không có đủ.
Thằng Tửng bước đến cầm bức tượng lên ngắm nghía. Coi cũng đẹp, không biết thần thánh gì đây, nửa giống Thái Lan nửa giống Ấn Độ.
Thằng Tý lấy cái bọc ny long bỏ bức tượng vào, hai đứa bước ra ngoài tìm chỗ bán "ông thánh thần".

Hai đứa dẫn nhau đến nhà bà Hồng. Bà này nổi tiếng "giàu" nhứt xóm, chuyên kinh doanh nhà đất có mấy chục căn nhà trọ cho mướn. Bà bận rộn cả ngày, nói chuyện với hai đứa mà điện thoại cứ reo vang. Bà cầm bức tượng ông thần lên ngắm nghía. "Mày mua "ông thần" này ở bên Campuchia hả?". Bà cầm ông thần lên vỗ vỗ, "Bằng gỗ hả? Tượng gì nhỏ xíu chắc là đồ giả ". Bà bước đến khoe bức tượng "thần giữ nhà"  bằng đá cao gần năm tấc đặt ở góc trái phòng khách. Bức tượng này cô mua ở Thái Lan, Cô còn nhiều tượng thần lắm, thần giữ của, thần giữ bổn mạng, thần tình ái. Bà dẫn hai đứa ra sân vườn khoe tượng thần, thôi thì lũ khũ ông thánh bà thần lớn có nhỏ có, đủ kiểu nằm ngồi đặt rải rác khắp khu vườn.

Bà có nhiều thần thánh thế kia, ông thần của mình  chắc không có chỗ đứng. Thằng Tửng bàn với thằng Tý hay là tụi mình đem ông thần này tới bán cho ông Minh chủ cửa hàng điện máy. Ông này giàu lắm nổi tiếng làm từ thiện. Cúng chùa cúng đình cúng miễu gì cũng có ổng đóng góp. Mà mày phải vẽ vời một chút, nói là thần giữ của giữ bổn mạng. Người ta nghe tin tưởng mới mua. Thằng Tý gải gải đầu. Tao đâu biết nói xạo, biết tên ổng là gì đâu mà nói, mày có giỏi thì nói đi. Mày nói đại cái tên tiếng Miên ai mà biết. Tao nói người ta đâu có tin bằng mày nói, mày đồng bóng xóm này ai cũng biết, buôn bán thánh thần là hợp với cái mạng của mày rồi.

Ông Minh  "điện máy" cầm ông thần lên ngắm nghía, ông cười hề hề, ông thần này không được đẹp, mà sao đôi mắt ổng nhắm hít vậy hả,  nhắm mắt thì đâu thấy đường mà đếm tiền. Ông lại cười hề hề, nhưng tao thích tượng bằng đá thật, đá thật nhe, không chơi tượng xi măng, mà tượng phải cao lớn như người thật, chưng trong nhà hay để ngoài sân đều thấy đã con mắt.

Hai đứa lại ôm ông thần đi ra tìm chỗ khác bán. Đi tới đâu ai cũng lắc đầu, xứ này người ta chỉ chuộng "ông Thần Tài" chớ còn "ông thần giữ của"  thì họ không cần. Của đâu có dư mà cần thần giữ. Buồn tình hai đứa ghé vô quán cà phê chú Năm ngồi nghỉ mệt. Đứa con gái chú Năm thích thằng Tửng, thấy nó là xáp lại ngồi. Cà phê đặc biệt em pha cho anh đó, anh uống thử coi có ngon không. Nói rồi cô nàng tự nhiên lấy cái muổng múc một muổng cà phê đưa vô miệng nhấm nháp hít hà. Ngon lắm, cà phê đặc biệt anh thử đi. Cô nàng lại chạy vào trong lấy cái bánh bông lan bước đến ngồi bên thằng Tửng, bẻ cái bánh làm đôi đưa nó một nửa. Đôi mắt lúng liếng đưa tình, ngon lắm của em làm, anh ăn thử. Thằng Tửng bị gái tấn công lộ liễu quá nó có phần lúng túng. Thằng Tý Chuột xách "ông thần"  bước đến chú Năm gạ bán. Chú Năm đưa mắt ngó qua không buồn cầm lên ngắm nghía. Bán một triệu hả? Mắc quá! Tưởng rẻ mua chưng trong nhà chơi. Chừng bao nhiêu thì chú mua? Cao lắm là một trăm ngàn. Thằng  Tý không nói gì bỏ "ông thần" vô túi ny long bước đến kéo thằng Tửng đi về. Thần thánh mà ổng trả giá nói mắc nói rẻ, ông Minh "điện máy" thì nói thần không được đẹp, còn bà nội Hương thì nói thần giả, nói cái gì làm giả thì nghe còn có lý, thần thánh sao có hàng giả với lại hàng thật. Bà nội!

Vừa bước vào nhà đã thấy anh Tư Hên ngồi chờ. Anh là người lối xóm, hai vợ chồng đều giỏi, nhưng anh có cái bịnh mê đánh số đề, tiền làm bao nhiêu cũng không đủ nộp cho "Ông huyện đề". Anh thề thốt với vợ không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng cái tật không chừa, bỏ mấy con số "quỷ ám" đó không được. Vừa trả dứt nợ lại bắt đầu chơi tiếp. Hôm nay anh tới đây là biết anh có chuyện rồi. Hỏi anh đi đâu đây, anh nói đi trốn nợ chớ đi đâu. Chiếc xe cầm không có tiền chuộc bán luôn rồi, bả chửi quá trời. Rồi bây giờ bả biết tao thiếu nợ cả trăm triệu, bả làm dữ nhảy đùng đùng tao chạy qua đây ngồi lánh nạn nảy giờ. Chiều nay phải có ba triệu đóng tiền lời, tụi nó mà tới nhà tìm là tao hết đường về.
Thằng Tý Chuột thở dài ngao ngán, đang khổ mà gặp anh còn khổ hơn. Nó lấy bức tượng ông thần để lên bàn. Tui với thằng Tửng cần một triệu, mang ông thần này đem bán lội rả cặp giò chẳng ai mua.
Tư Hên bước đến hai tay cầm bức tượng ông thần để trước mặt. Ông thần ơi! Ông có linh thiêng cho con một con số, con khổ quá! Chiều nay mà không có ba triệu thì con hết đường về nhà.
- Nữa lại số đề! Thằng Tửng lên tiếng.
- Không đánh đề tiền đâu trả nợ, trả nợ xong thì tao bỏ, thiệt đó.
- Đó, thì anh lại vái ổng đi! Khỏi cần đốt nhang.
Anh Tư Hên bước lại ngắm nghía ông thần, anh cầm ổng lên nhìn cho kỹ, vừa định khấn vái xin ổng con số thì giật mình thiếu điều quăng ông thần xuống đất, thằng Tý Chuột la thất thanh như bị ai cắt cổ mổ họng.  Nó chạy ra trước sân đuổi con chó miệng lớn tiếng chửi thề.  Nó bước trở vô nhà còn bực tức, mẹ, con chó của ông Hai hàng xóm cứ tới nhà mình ỉa. Bữa nào tao phang mầy một trận cho mầy chừa cái tật ỉa bậy.

Cả bọn ôm nhau cười. Tưởng gì chó ỉa. Anh Tư Hên nói tao đang khấn vái ông thần xin số, mày la thất thanh tao hoảng hồn tưởng trời sập tới nơi. Rồi bất chợt anh Tư Hên vỗ bàn một cái bốp. Hay là ông thần cho mình số. Đúng rồi thần cho mình số. Anh móc xấp tiền  trong túi ra đếm, còn đúng một triệu, chơi luôn. Một liều ba bảy cũng liều. Tao mua bao ba đài miền Nam số con chó, chó nhỏ chó vừa chó lớn chơi láng cho chắc ăn. Anh bước đến bức tượng ông thần chấp tay xá xá, lòng thành tâm khấn vái. " Ông thần ơi! Ông có linh thiêng giúp cho con trúng số có tiền trả nợ, con sẽ từ bỏ số đề, nếu có chơi thì chơi chút đỉnh cho vui, con nguyện sẽ thỉnh ông về nhà thờ phượng suốt đời".
Thằng Tý Chuột và thẳng Tửng ôm bụng cười lăn khi nghe anh khấn vái. Bái phục sư phụ. " con xin từ bỏ chỉ xin lâu lâu chơi chút chút cho vui cửa vui nhà". Đúng là vui, bỏ uổng sư phụ!
Anh Tư Hên bước ra ngoài, vỗ vỗ vai thằng Tửng nói như thiệt, chú em đừng lo, chú cần một triệu phải không? Xổ số xong ông anh cho mày hai triệu. Nhe. Nhất trí vậy đi.

Đài Đồng Tháp vừa xổ lô đầu, tiếng điện thoại kêu vang. Bên kia đầu dây tiếng anh Tư Hên, đúng phốc mày ơi! Con chó nhỏ số 11, có thằng Tửng đó không? Chút nữa anh qua cho mỗi đứa hai triệu như đã hứa, nhe. Tý có rãnh làm món gì nhậu, xong kết quả ba đài anh ghé mua bia xách qua. Nhe.
Chiều  hôm đó buổi nhậu thiệt là đình đám. Anh Tư Hên trúng mánh lớn, cả ba đài đều xổ con chó, chó nhỏ chó lớn chó vừa đủ cả. Bạn bè lối xóm kéo đến chật nhà thằng Tý Chuột. Đám đàn ông thì nhậu, đàn bà con nít xúm lại ngắm nhìn trầm trồ ông thần. Linh quá! Ông thần linh quá!  Có người còn vái xin ổng cho số đánh đề. Anh Tư Hên ngồi nhậu nhưng cũng lớn tiếng, còn xổ con chó nữa, chưa hết đâu, tin tui đi, chiều nay đài miền Bắc, tui mua rồi, tối nay mà vô nữa, tui rước ông thần này về nhà thờ ổng luôn.
Thật không ngờ, buổi chiều đài miền Bắc lại xổ con chó cả đầu lẫn đuôi. Anh Tư Hên thắng đậm. Không dừng lại chỗ đó, anh lại trúng đậm ba ngày kế tiếp, cũng mỗi một con số...chó ỉa...thật không thể tưởng tượng nổi. Anh Tư Hên có được mấy trăm triệu trong vòng mấy ngày, thiệt tình trước đây có nằm mơ cũng chưa thấy. Anh trả xong nợ gần trăm triệu, mua chiếc xe tay ga đời mới, sửa nhà bếp nhà tắm, đưa chị Tư Hên giữ một mớ, cho lối xóm nghèo người một triệu. Anh thỉnh "ông thần"  năm chục triệu, cho thằng Tửng mười triệu, còn lại bao nhiêu anh giữ lâu lâu chơi chút đỉnh cho vui. He he.

Quán cà phê chú Năm mấy hôm rày ăn theo đám trúng đề, bà con tụ tập ồn ào từ sáng tới chiều, nói cười rôm rả quanh đi quẩn lại cũng chỉ cái việc Tư Hên trúng số đề. Thằng Tửng thì nói Tý Chuột mua "ông thần" có một triệu bán được năm chục triệu. Nó chợt có ý nghĩ hay là  mình nhảy ra "kinh doanh thần thánh", nghề này dễ ăn chưa ai làm. Nó bàn tính với thằng Tèo và thằng Tý Chuột, ba đứa hùn vốn qua Campuchia, Thái Lan mua tượng thần thánh về bán. Gì chớ thần thánh thì không sợ bị ế, người ta mua bán "một vốn bốn lời", mình mua thần bán thánh một vốn bốn mươi lời, đôi khi còn nhiều hơn thế nữa, vô giá. Ba đứa thích chí cười vang,  tưởng như sắp giàu tới nơi... rồi đây ba đứa tha hồ nhậu. Trong quán lúc ấy có anh Tám Tàng đang làm thinh ngồi nghe. Vợ chồng anh kinh doanh đủ thứ ngành nghề,  rất giỏi trong việc đi đầu đón gió, luôn chạy theo  phong trào. Thời buổi này là thời buổi chụp giựt, hễ làm gì "có ăn" là phải nhanh tay lẹ chân đi trước thiên hạ. Chậm lụt quá sao nắm được thời cơ. Anh về nhà bàn tính với vợ, vợ anh nghe qua là chịu liền, vợ chồng hạp chỗ đó, hễ làm gì có tiền vô là không bỏ lỡ cơ hội. Chị nôn nóng nói anh bao xe đi liền,  qua Campuchia, Thái Lan "hốt" tượng thần thánh về bán.

Tưởng mặt hàng nào quý hiếm, chớ thần thánh thì nơi đâu cũng có, đầy dẫy, tràn ngập ... đủ loại đủ kiểu. Trong vòng ba ngày vợ chồng anh Tám Tàng gom đủ tượng các loại chất đầy một xe tải nhỏ. Về đến nhà là anh lẹ lẹ tìm người kẻ bảng hiệu. "Tám Tàng  chuyên mua bán tượng thánh thần đủ loại". Nhưng cái anh chàng họa sĩ này viết kiểu cọ, chữ tượng anh viết màu khác lại hơi nhỏ nằm nghiêng gát lên chữ thánh thần. Ai đi ngang nhìn phớt qua  bảng hiệu  cứ đọc là "Tám Tàng chuyên mua bán thánh thần đủ loại". Nhưng có lẽ nhờ vậy mà gây được sự chú ý của bà con. Mấy ngày đầu khai trương, thiên hạ kéo đến nườm nượp thấy ham. Nhưng người xem thì đông mà người mua thì ít, thậm chí chẳng có ai. Nhiều người thấy tượng lạ mà đẹp, muốn mua về nhà chưng chơi, nhưng khi hỏi giá thì họ bỏ trở lại. Thánh thần chớ phải đồ chơi đâu mà rẻ.
Nhiều người tò mò hỏi vậy chớ ông thần này là thần gì?. Anh nhanh nhẹn trả lời, thần giữ của, đôi khi nói nhầm  thần giữ bổn mạng cũng chẳng sao. Thần giống thần. Có người lại hỏi "thánh nữ" kia tên gì. Chị nhanh nhẩu, "thánh nữ ái tình" đó cô, mua về thánh nữ sẽ phù hộ cho cuộc đời luôn tràn đầy tình ái. Nói vậy mà cũng chẳng ai chịu mua. Dân ở đây chưa quen với ông thần bà thánh xứ lạ. Mười người vô tiệm thì hết chín người hỏi mua "ông Địa" với lại ông "Thần Tài".

Qua tuần lễ thứ nhì, tình trạng buôn bán cũng chẳng khá hơn. Là người có nhiều kinh nghiệm trên thương trường, anh Tám Tàng thấy cái điệu này kéo dài hoài không xong, anh bàn với vợ thôi bán bỏ, lổ bao nhiêu cũng bỏ... dẹp tiệm.  Thế là thần thánh mua một tặng một, giảm giá năm  mươi phần trăm. Nhiều cô  cậu thấy rẻ mua chơi, nhưng họ chỉ lựa những tượng lớn mà đẹp. Vợ chồng anh Tám Tàng bán tháo bán đổ, giá nào cũng bán, coi như mất của hốt lại được bao nhiêu thì hốt. Hai người học được bài học nhớ đời, buôn thần bán thánh đâu phải chuyện đùa.


Tháng 01-2018