Tuesday, January 17, 2017
NGÀY XUÂN GÕ CỬA THIÊN ĐƯỜNG
Lê Thị Thấm Vân
Cách đây không lâu, một buổi sáng đẹp trời, Vicky, cô bạn làm cùng sở mang vào một xấp hình chụp đám cưới của Ron (Ron cũng là bạn đồng nghiệp). Cả phòng nháo nhào, chuyền tay nhau coi, kèm theo những câu phê bình lẫn nụ cười to nhỏ: "Wow! You look so great in this picture. Hey! He looks cute, she looks cool!..." Lẫn trong xấp hình, có một tấm hình chụp riêng mình tôi, (Vicky nói chồng nó chụp lúc tôi không biết). Tấm hình chụp nửa người trên, đứng tựa bờ tường gạch, một tay khoanh và một tay cầm ly champagne. Người hơi nghiêng, mắt đang ngước nhìn...(tôi cũng không nhớ là đang nhìn gì). Tấm hình trông lẻ loi, lạc điệu giữa 36 tấm hình khác vì ai cũng tươi cười, khuôn mặt của những đồng nghiệp bình thường ai nấy đều ôm trong mình những nỗi niềm riêng, nhưng lúc cần vui họ cũng sẵn sàng đóng trọn vai trò.
Lúc Vicky trao tôi tấm hình, nó nói:
" Của mày, mày giữ lấy, chồng tao bảo mày đẹp...nhưng..."
" Hơi buồn". Tôi điền vào chỗ trống hộ nó.
"Ừ, hơi buồn. Phải chi mày chịu khó nhe răng ra một tí chắc là đỡ hơn." Vicky thành thật.
"Ừ, tao cũng nghĩ thế." Tôi nói nhỏ giọng.
Trở về phòng với tấm hình trong tay. Tôi ngồi ngó tôi, rồi nghĩ khuôn mặt mình lúc bình thường, không làm dáng điệu trông héo hắt đến thế sao ? Tôi nhớ những người thân quen vẫn thường ý kiến sau lưng:
"Mặt con Tường Quyên đẹp nhưng buồn quá!"
Hoặc nói thẳng cho tôi nghe:
"Tường Quyên có đôi mắt ướt như...sắp khóc"
Nhưng mà câu tôi nghe quen tai nhất:
"Tươi lên một chút có được không nào?"
Chung quanh ai cũng than tôi sao hay buồn, ngay cả khi tôi cười. Nhưng không ai phủ nhận một điều là tôi đẹp, và tôi cũng biết mình đẹp, đẹp vượt trung bình xa.
"Nét đẹp của chị hợp với thời...chiến hơn!" Thằng Phước em kế tôi đã một lần nhìn ngắm tôi rồi phê bình nhan sắc người chị nó như thế. Ở tôi, nét mỏng manh, nhẹ nhàng, pha lẫn chút...chịu đựng. Tuy nhiên nét ...buồn vẫn hiện rõ nhất trên khuôn mặt, nghĩa là không còn hợp với "thời" này nữa. Thời mà nét vui tươi, trẻ trung, khỏe mạnh là đầu tiên lôi cuốn sự chú ý những người chung quanh. Thời mà dọc con đường, từ nhà đến sở hầu như góc đường nào cũng có health club. Dở tạp chí thời trang, các cô đào chụp hình hở ngực, đùi, mông ai nấy đều rắn chắc, hấp dẫn bởi những múi muscle do khổ công tập luyện.
Tôi nhớ một người tình cũ, có lần nhìn bức hình hai đứa chụp chung, anh nói: "Đầu em sát đầu anh, vai em sát vai anh, tay em trong tay anh, sao em vui chỉ ở cái miệng mà đôi mắt vẫn buồn thiu. Em không hạnh phúc bên anh sao? Hay em chỉ... yêu anh bằng nửa con tim của em? Rồi anh cố tình diễu với giọng "cải lương" ở hai câu cuối.
Tôi cười cười, rúc đầu vào ngực anh. Những lúc bối rối hoặc ấp úng điều chi tôi vẫn làm thế.
Năm 1973, hai năm trước ngày rời Việt Nam, tôi vừa tròn mười tuổi. Cái tuổi thích được cột tóc cao bằng những cái nơ càng to, màu càng sặc sỡ thì lòng càng rộn ràng sung sướng từng đó. Cái tuổi rất dễ yêu là không còn quá nhỏ để làm phiền bố mẹ trông chừng, tắm rửa đút cơm, mà cũng chưa lớn đủ để bắt đầu tập tành xây cho mình thế giới riêng tư của tuổi vị thành niên...rất ư dễ ghét. Ngoài giờ học ở trường, về đến nhà tôi cứ lẩn quẩn quanh mẹ để được sai vặt, hoặc chờ bố đi làm về để cất giày, áo cho bố. Ngày nghỉ, bố sai nhổ mấy sợi tóc bạc, còn không thì chạy ra đầu ngõ mua chai bia kèm theo được thưởng mấy đồng bạc lẻ mua kẹo. Ngậm kẹo trong miệng mà thấy đời đẹp đẽ biết bao!
Chiều 29 tết năm đó. Trời bắt đầu tối, tôi và thằng Phước ngồi trước thềm nhà đợi bố mẹ về. Thường vào giờ này ở xóm tôi, tụi con nít còn chạy lăng quăng ngoài đường chưa đứa nào muốn về, nán ở lại ném lon, nhảy dây hoặc chơi lò cò...hiệp cuối thường bao giờ cũng hấp dẫn và gay cấn nhất. Từ đầu ngõ đến cuối ngõ, người đi tới, kẻ đi lui, gồng gánh, tay bồng tay bế, tay xách cặp táp. Tiếng xe nổ lẫn tiếng nói cười, gọi tên nhau ơi ới, cùng tiếng nhạc, hoặc tin chiến sự phát xuất từ radio của căn nhà quen thuộc. Nhịp sống bình thường diễn ra hằng ngày trong khu xóm tôi ở đã nghe quen tai, nhìn quen mắt, bỗng dưng hôm nay biến mất. Chiều 29 tết, lòng ai cũng chộn rộn ở trong nhà đón xuân.
Căn nhà tôi quạnh quẽ hiu vắng. Mẹ đi ra Huế thăm ông ngoại bệnh nặng cả tuần nay chưa về. Trước khi đi mẹ hứa thế nào cũng rán về trước tết, ở nhà ngoan sẽ có quà cho hai đứa. Cả bố nữa, đúng ra giờ này bố đã đi làm về...Nhìn vào trong nhà thấy tối om, hai chị em không đứa nào dám bước chân vô, vừa sợ, vừa đói lại vừa mệt.
Khi tôi mở mắt thì thấy mình đang nằm trên giường của bố mẹ. Cạnh tôi, thằng Phước còn đang ngủ say, nước miếng nhiểu một khoảng trên gối, mắt nó lem luốc dơ bẩn. Đêm qua đi ngủ chưa rửa mặt, rồi chợt nhớ ra mình cũng thế. Tôi ngóc đầu lên kiếm mẹ, nhưng không thấy mẹ mà chỉ thấy bố đang ngồi quay lưng ở cuối chân giường. Hai tay bố ôm lấy mặt, trên người vẫn còn bận nguyên bộ đồ lính. Tôi nằm yên nhìn bố từ phía sau. Màu nắng chưa rõ của đầu ngày hắt lên một mảng trên tóc bố, tôi bỗng thấy vai bố rung rung, cùng tiếng nấc nghẹn. Tôi ngã người xuống nằm im, nghe như tim mình bị tay ai đè nặng. Lần đầu tiên tôi mơ hồ linh cảm có chuyện không lành xảy ra.
Tôi gọi "bố". Bố quay nhanh người lại. Mắt bố đỏ hoe, màu đỏ như màu máu. Bố nhào tới ôm lấy tôi, tôi nghe giọng bố khóc, lẫn tiếng tim đập thình thịch trong ngực bố. Nước mắt bố nhoè thấm trên tóc, má và mặt tôi: "Bố đây, bố đây con!". Tôi khóc òa theo bố, mặc dầu không hiểu tại sao bố khóc nhiều như vậy.
Hừng sáng 30 tết, tôi nhận được tin mẹ tử nạn trên đường từ Huế vô Quy Nhơn. Cầu bị Việt Cộng đặt mìn giựt sập, trên chiếc xe đò cả thảy 70 người không còn ai khỏi nắng, kể cả mẹ, người mà tôi nghĩ sẽ sống vĩnh cửu cạnh bố con tôi. Mẹ mất ở tuổi tôi chưa có khái niệm rõ rệt hai chữ tử sinh.
Mẹ ra đi, mang theo một lổ hổng lớn trong đời sống của ba bố con tôi.
Bố ở trong quân đội, cấp bậc trung uý. Người bố cao lớn, dềnh dàng, hay đũa giỡn và kể cho chị em tôi nghe nhiều hơn mẹ. Giờ giấc bố đi làm bất thường, bởi thế hôm nào bố trực đêm là hai chị em tôi được ngủ chung giường với mẹ. Có những đêm khuya chợt thức giấc, qua khoảng cách của người thằng Phước, tôi thấy nhấp nhô cái bóng in trên vách mùng, tiếng ai thở mạnh cùng cái giường rung rung. Tôi lờ mờ không hiểu...rồi ngủ thiếp lại. Mãi sau này lớn lên, hiểu biết mùi vị của hương lửa tình yêu, tôi thương bố vô vàn.
Vài năm sau, tụi tôi lớn hơn chút xíu, bố tuyệt đối không cho hai đứa nằm chung giường bố mẹ. Có hôm nửa đêm thức giấc, chạy qua phòng kiếm không thấy mẹ đâu, chạy ra vườn thấy mẹ và bố đang ngồi trên ghế xích đu, cạnh bụi Ngọc lan thơm ngát. Mẹ ngồi sát vào người bố, dáng bố cao to che chở cho mẹ. Tay bố vuốt dọc tóc mẹ nhẹ nhàng theo nhịp của xích đu. Bộ đồ lụa trắng mẹ mặc nỗi bật trong đêm khuya thanh vắng. Ở lứa tuổi lên mười, tôi đã biết đó là một hình ảnh đẹp tuyệt trần.
Tôi lớn hẳn sau ngày mẹ mất, như "bị" mang đôi hia bảy dặm. Đoạn đường đi từ nhà đến trường tôi phải rút ngắn lại. Bước chân cố sải dài để mau đến lớp khỏi bị trễ học và mau về nhà để lo coi sóc trong ngoài. Tay tôi đã biết nắm giữ những đồng tiền giao cho bà Năm hàng xóm đi chợ mua thức ăn dùm. Tôi tập tành làm nội trợ, và luôn rán giữ nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp để được bố thương.
Và rồi tôi cũng biết...hận thù quá sớm. Như lần thằng Phước cùng thằng Huy (bạn nó) nghịch ngợm lén qua nhà bà Hảo hàng xóm bẻ đu đủ. Lúc bà Hảo đi chợ về, thằng Phước đang còn trên cây cao, trái đu đủ chưa chín hẳn đã bị nó hái thẩy xuống cho thằng Huy đứng chực hứng ở dưới. Vừa thoáng thấy bóng bà Hảo, thằng Phước sợ quá vội tụt xuống, nhảy từ ở giữa thân cây, chân nó bị bong gân, dậy không nỗi. Cùng lúc tôi đi kiếm em về ăn cơm, thấy em nằm im vội chạy lại đỡ, mặt nó mếu máo khóc vì đau. Tôi dìu nó về nhà vừa đi vừa nghe tiếng bà Hảo chửi vọng theo :"Đồ con nhà mất dạy, quân ăn trộm, thứ không cha không mẹ, không ai dạy dỗ..." Tôi giận run người. Hai chị em vừa đi vừa khóc, nó khóc vì bị đau chân, tôi khóc vì tiếng chửi rủa của bà hàng xóm độc miệng. Đêm đó tôi trằn trọc vì những tiếng...chửi và . mong đến sáng qua nói với bà Hảo đừng chửi như thế nữa. "Người nào lại không có cha có mẹ. Hai chị em tôi không may bị mẹ mất sớm...". Nhưng sáng hôm sau vừa thấy bản mặt bà Hảo là tôi...hận quá đỗi. Từ đó về sau, mỗi khi đi ngang qua nhà bà tôi thề không bao giờ ngó vô...
Sau ngày mẹ mất, tôi lại nảy ra có tánh "ganh tị" với những con bạn học cùng lớp. Mỗi lần đến nhà chúng chơi, thấy cảnh mẹ con họ âu yếm thương yêu nhau, tôi lại thấy tủi thân, ước ao phải chi mẹ còn sống. Nhớ, trước kia mỗi chiều đi học về, mẹ luôn đứng đợi sẵn ở cửa. Thấy hai chị em tôi, mẹ vội đỡ lấy cặp, rồi vừa vuốt tóc từng đứa vừa hỏi han chuyện ở trường ở lớp. Hai chị em ríu rít như hai con chim non...giờ đây, có những buổi chiều đi học về, căn nhà vắng tanh, hiu quạnh. Đi ngang phòng bố, thấy bố ngồi yên lặng chống cằm bên cửa sổ nhìn ra bụi Ngọc lan. Trông bố cô đơn đau khổ tận cùng. Tôi đứng lặng yên nhìn mà lòng cũng đau theo bố, nghĩ chắc là bố đang nhớ mẹ ghê lắm.
Có những đêm trở mình thức giấc, thấy bố đang lúi cúi đắp mền hoặc sửa lại thế nằm cho hai đứa. Việc làm mà mẹ lúc còn sống hầu như không bao giờ bố bận tâm. Những lúc như thế tôi nhắm mắt vờ như ngủ, để được bố săn sóc, Âu yếm kéo người lại cho ngay, kê cái gối ở dưới đầu, được bố hôn nhẹ lên trán, và rồi nằm yên nghe tiếng chân nhẹ nhàng của bố lần ra khỏi cửa..
Những lúc bố rảnh, bố ngồi vẽ tranh mẹ. Vẽ dáng mẹ đang ngồi vén tóc, đứng tựa cửa ngó vu vơ, hoặc ngay cả lúc mẹ mĩm cười cùng bố. Những lúc tranh bố vẽ ra từ trí nhớ yêu thương mẹ. Hình nào bố vẽ mẹ, tôi đều thấy đẹp. Ngồi nhìn bố vẽ, tay cầm cọ, áo quần xốc xếch nhưng mặt lúc đó sáng rỡ lạ kỳ, tôi chợt có ý nghĩ lớn lên tôi sẽ học vẽ, và vẽ cả bố lẫn mẹ.
Tết năm 1975 là cái tết sau cùng của ba bố con tôi ở Việt Nam. Cái tết mà tôi không biết trước được là sẽ chia tay bạn bè từ đó và rồi bỏ thành phố Quy Nhơn mà đi, nơi tôi đã được sinh ra và trãi qua những năm thơ ấu, cùng những ngày vui còn mẹ, và những ngày buồn mất mẹ.
Đầu năm 1975, ba bố con dắt díu nhau chạy loạn. Từ Qui Nhơn, xuôi vô Nha Trang, Cam Ranh, rồi Vũng Tàu. Những đêm ngủ vùi trên khoang thuyền, mở mắt ngó bầu trời đêm. Trăng sao sáng vằng vặc trên cao. Con thuyền nhỏ lướt sóng nhấp nhô trong đêm tối. Yên lặng, yên tịnh chỉ còn lại giữa giòng biển khơi. Những ngày chạy loạn, bố con tôi ngủ tạm nhà thờ, nhà trường hoặc những căn nhà chủ nhân cũng đã bỏ chạy. Ba bố con cứ đi trước lính Việt Cộng một thành phố. Vai bố đeo ba lô, hai tay dắt hai con gà con đi theo đoàn người vô định hướng. Cứ đi, mặc dầu chẳng biết mình đi đâu và biết nơi nào là chốn bình yên còn lại của miền Nam Việt Nam?
Cuối cùng ba bố con vào Sài Gòn, ở tạm nhà người bà con xa bên mẹ. Trong nhà ai cũng bàn chuyện xuất ngoại, kẻ đi người ở. Đúng ngày Sài Gòn thất thủ, ba bố con nhảy đại lên tàu Trường Xuân ở bến Bạch Đằng. Vai bố vẫn còn đeo ba lô, trong ba lô có vài bịch cơm sấy, bi đông nước lạnh, vài bộ đồ ngắn cho hai đứa và một bức tranh cuộn tròn bố vẽ về mẹ.
Ở trong trại Fort Chaffee được hơn ba tháng thì ba bố con được một gia đình người Mỹ bảo lãnh ra khỏi trại. Thành phố đầu tiên trên xứ Mỹ này chúng tôi đặt chân đến mang tên Willard, thành phố nhỏ, nhiều bụi, và rất quạnh hiu ở tiểu bang Utah.
Người bảo lãnh, ông bà Kaye (tên họ). Người chồng tên Henry, bà vợ tên Helen. Hai vợ chồng làm chủ một tiệm chuyên đóng Water beds, một loại business đang lên trong thời kỳ đó.
Ở với gia đình sponsor được vài ngày thì tôi và thằng Phước được bà Helen chở đi ghi danh học. Trên đường trở về, bà dừng xe cách nhà chúng tôi ở khoảng hai block, chỉ cái góc đường và dặn: "Sáng thứ hai tuần tới, đúng 7:25 sáng, Tường Quyên ra đây đứng đợi xe bus trường ra đón." Nghe bà nói, tôi rán nhớ nằm lòng, ngã tư có cây Mimosa cao, to, vàng rực cả một góc đường vì đang độ trổ bông. Thằng Phước vào lớp Sáu, năm cuối cùng tiểu học. Trường của nó nằm cách nhà khoảng năm block nên đi bộ được.
Sáng thứ hai, đúng 7:17, tôi có mặt ở trạm xe bus. Ở đấy đã có mấy đứa nhóc tì mắt xanh tóc vàng đang đứng đợi. Ngày đầu khai giảng, đứa nào mặt mày tóc tai, áo quần cũng thẳng tấp, gọn gàng sạch sẽ. Tôi là đứa tóc đen duy nhất trong đám. Lần đầu tiên cảm giác lạc lõng đến với tôi.
Độ mười phút sau, chiếc xe bus trường màu vàng trờ tới. Đám nhóc hò hét leo lên xe, đứa nào cũng muốn ngồi cạnh cửa để nhìn hai bên đường. Tôi là đứa cuối cùng leo lên, chân vừa bước vừa tìm chỗ ngồi mà biết là tất cả những con mắt trên xe (kể cả ông tài xế) đang dõi mắt nhìn chăm vào mình. Hai ống chân tôi như đeo hai tảng đá nặng, đầu cứ lùng bùng...
Suốt quãng đường ngồi trên xe đến trường, tôi ngồi yên, mắt đăm đăm cúi xuống nhìn hai bàn tay của mình mà lo sợ nghĩ, kể từ ngày hôm nay, mình thật sự rẽ sang một con đường mới, con đường hoàn toàn xa lạ, ở đó có một ngôn ngữ mà những danh từ, động từ, cũng như văn phạm, tôi chỉ mới biết được đếm trên đầu ngón tay.
Xe bus dừng, đám Mỹ con lại nhốn nháo nhặng cuội như đàn ong vỡ tổ. Khuôn mặt đứa nào cũng hăm hở, rộn ràng. Ông tài xế miệng cứ nhắc chừng là phải từ từ, cẩn thận.
Và rồi tôi là người cuối cùng bước ra khỏi xe. Ông lái xe nhìn tôi kèm theo câu nói, nhưng tôi cúi đầu im lặng bước xuống. Phần không hiểu ông muốn nói gì, phần cũng không muốn xuống xe bus nhanh như những đứa khác.
Tôi nhìn một vòng quanh trường và bỗng thấy trường sao lạ...Tuần trước bà Helen đưa tôi tới, tôi nhớ phía trước có hàng rào gỗ sơn màu vàng, sao bây giờ không thấy...tim tôi bắt đầu đập mạnh, hai tay nắm chặc vào nhau sợ hãi. Hay là mình leo lộn xe bus?
Tôi muốn gọi điện thoại cho bà Helen, nhưng chẳng nhớ số phone nhà, vả lại cũng chẳng biết cái phone ở đâu và phải gọi như thế nào. Ngày đầu nhập học cũng là ngày thứ mười tôi sống trên đất Mỹ.
Nách tôi ôm cái cặp, cái cặp nhẹ tênh. Tôi đi lần vào bờ tường, đứng dưới gốc cây có tàng lá phủ rậm. Tôi sợ vì không biết hỏi ai và nên làm gì. Trước mặt tôi tất cả building đều giống nhau, đám trẻ chung quanh mặt đứa nào cũng giống đứa nào. Tóc màu vàng, da màu trắng và miệng luôn tươi cười. Chúng chạy chơi nô đùa gọi nhau ơi ới. Có đứa ôm nhau mừng rỡ sau ba tháng hè xa cách nay gặp lại. Biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe...Bỗng dưng tôi thấy tủi thân muốn khóc. Hình ảnh từng con bạn cũ Liên, Thanh Mai, Hằng, Thuỳ Trang...nối đuôi nhau hiện về. Giờ này tụi nó đang làm gì? Ở đâu? Còn tôi đang đứng đây một mình như người đi lộn hành tinh. Mắt tôi bắt đầu cay cay...
Thỉnh thoảng có vài cặp mắt đang chạy, dừng chân đứng lại tò mò nhìn tôi. Chúng hỏi hoặc nói câu gì đó không thấy tôi trả lời liền bỏ đi chỗ khác, có đứa nhìn tôi rồi...cười cười. Tôi nghĩ tới bố, tới thằng Phước, phải chi có nó bên cạnh, chắc đỡ sợ hơn. Rồi nghĩ thương em, chắc ở một ngôi trường khác, nó cũng đang đứng đâu đó mà lòng cũng lo sợ như tôi.
Một hồi chuông vang lên, kèm theo lời nói dài...Đám trẻ chung quanh chạy tán loạn, đứa chạy ngược, đứa chạy xuôi. Trong vòng mười phút, sân trường trống trơn, lác đác còn lại mấy đứa di chuyển chậm chạp từ từ... Tôi lại sợ hơn nữa, tụi nó đã vào hết trong lớp. Tôi bỗng thắc mắc sao không xếp hàng, chào cờ... Lần nầy thì tôi không ngăn được tiếng khóc, tôi đứng khóc oà. Một người đàn ông tiến tới, hai tay ông chắp phía sau. ( Sau này biết tên ông là Stanley, làm giám thị trường và giúp đỡ tôi tận tình nhất) ông lại gần đặt nhẹ tay lên vai tôi hỏi câu gì đó, tôi không trả lời mà cứ rung vai nức nở khóc. Cuối cùng ông đưa tôi tới văn phòng, khi đến cửa văn phòng, nhìn hai chậu xương rồng trụi lá cạnh lối ra vào, tôi mới biết chắc là mình không đi lộn trường. Xe bus thả tôi ở phía sau, còn bà Helen đã đưa tôi đến trước trường.
Phải mất cả tuần lễ tôi mới thuộc hết những lối đi đến sáu building của sáu lớp học khác nhau, đồng thời tên tất cả các thầy cô.
Ba bố con vẫn ở căn nhà nhỏ một phòng ở cuối góc vườn của ông bà bảo lãnh. Mỗi ngày bố rời nhà đến chỗ làm từ sáng sớm và trở về chập choạng tối. Nhiều hôm đi làm về mệt, đêm ngủ bố rên hư hử, tôi nghĩ ban ngày chắc bố đóng ...giường mệt lắm. Có hôm làm về, bố không ăn uống gì. (Trong thời gian này, bố con tôi rất thèm cơm Việt Nam). Còn tôi mỗi buổi chiều sau giờ đi học về, làm xong homework, lên nhà trên chơi và phụ bà Helen coi sóc hai đứa con gái sanh đôi ba tuổi của ông bà. Thằng Phước, cuối tuần phụ ông Henry cắt cỏ làm vườn. Ba bố con, người nào cũng có công việc để làm trong thời gian ở trọ nhà ông bà bảo lãnh.
Một buổi chiều, bố cùng ông Henry đi làm về, trong bữa ăn tôi nghe ông phàn nàn về bố. Ông khuyên bố đừng mang chiếc áo lính cũ đi làm nữa thì thằng David sẽ không có chuyện gì để gây với bố. Bố bảo bố thích chiếc áo lính của bố bởi bố mang nó theo từ Việt Nam. Lúc bố nói, tôi thấy mặt bố buồn buồn... Tối hôm đó, tôi theo gặng hỏi bà Helen chuyện gì đã xảy ra. Bà nói là tại bố hay mang cái áo lính mà thằng David không thích, nó bảo bố: "Mày muốn đời mày khá thì mày nên quẳng cái áo lính của mày đi. Xứ tau đang hoà bình, không muốn thấy bóng dáng chiến tranh." Bố nghe giận run người, định lại bợp cho nó bợp tai, nhưng những người chung quanh chạy đến ngăn cản kịp. Rồi bà tiếp, thằng David đã làm cho ông bà hơn năm năm nay, không được siêng năng như bố, nhưng những việc nặng phải có nó phụ một tay thì xong cả. Trong thời gian này, tôi thấy nụ cười như tắt ngấm trên môi bố.
Sau khoảng sáu tháng ở Mỹ, tôi nhớ một buổi sáng nghỉ học, bố cũng được nghỉ làm. Bố rủ tôi đi xuống phố với bố, bố chở tôi trên chiếc xe đạp cũ của ông Henry. Đến trước cửa tiệm chuyên sản xuất cà chua chín đóng hộp, có tấm bảng nhỏ đề hai chữ "Help Wanted" bố dừng xe lại. Trước khi vào, bố dặn tôi đứng ngoài này coi chiếc xe và đợi bố vào "interview". Trời buổi sáng mùa đông ở Willard lạnh không thể tả. Hai tay và răng tôi đánh vào nhau lập cập. Cứ một chốc, bố sốt ruột đi ra xem chừng tôi, cuối cùng bố bảo tôi lại ngồi cạnh thùng rác lớn, khuất gió cho đỡ lạnh. Tôi ngồi mà lòng cũng hồi hộp, bồn chồn như bố trong kia, bởi lo sợ không biết người ta có mướn bố hay không?
Cuối cùng bố trở ra, hai tay đút trong túi cười cười...nhìn khuôn mặt bố tôi biết bố đã...trượt vỏ chuối. (Mãi sau này lớn lên, tôi nghiệm thấy mình rất bén nhạy, có khả năng đọc được vui buồn trên khuôn mặt những người chung quanh). Lúc ngồi sau xe, áp mặt mình vào lưng bố, hai tay vòng ôm chặc người bố. Tôi cười hỏi: "Người ta nói bố cà chua chưa chín phải không?" Bố nghe rồi cười to. Ngay từ nhỏ, tôi và bố đã có chung một ngôn ngữ.
Một buổi sáng ngủ dậy, thấy bố ở nhà không đi làm như mọi ngày. Tôi đến gần hỏi tại sao bố nghỉ. Bố vuốt nhẹ tóc tôi, im lặng một đỗi rồi nói: "Bố nghỉ luôn rồi". Tôi hỏi "why?" Bố trả lời là hôm qua bố mới "thụi" thằng David một cái tại nó chê bố thi rớt bằng lái xe hai lần với lý do...bố tới từ một nước...không có xe hơi, lạc hậu, kém văn minh, chỉ thích chiến tranh. Nó còn khuyên bố ...rán ở Mỹ mười năm nữa thì may ra mới lấy được bằng lái xe.
Sau gần một năm sống cùng ông bà bảo trợ, bố quyết định dọn ra riêng. Bố không muốn vì mình mà gây rắc rối cho hai ông bà. Những năm sống ở Mỹ, bố đã làm đủ thứ nghề, toàn nghề lao động. Từ đóng giường, nhồi bột bánh pizza, chuyển hàng hoá ban đêm ở siêu thị... Giữa năm 1977, bố bắt liên lạc với một người bạn cũ ngày trước ở cùng đơn vị, và hiện đang ở tiểu bang California, rủ bố qua đó làm nghề điện tử. Một nghề đang lên, hãng mướn không cần kinh nghiệm, lương cao, cộng thêm khí hậu Cali mát mẻ, lại gần bạn bè... Một ngày mùa hè, ba bố con thẳng đường từ Utah lái xe qua California, dừng chân ở thành phố Oakland, cách San Francisco cái cầu mang tên Bay Bridge. Cầu to, dài, mới nhưng không được đẹp như cầu Golden Gate.
Chưa đầy một tháng sau, bố kiếm được việc. Công việc ráp nối những cái chip điện tử lại với nhau qua kính hiển vi. Ban đêm bố học thêm anh văn ở college gần nhà. Lương bố tăng nhanh, đời sống kinh tế của ba bố con có phần thoải mái hơn trước. Nhớ sinh nhật tôi mười sáu tuổi. Bố đưa tôi vào K-Mart (thời gian đó tiệm này đã là...sang lắm đối với ba bố con tôi). Lần đầu tiên bố bảo: "Tường Quyên thích áo lạnh nào cứ chọn, hôm nay bố mới được tăng lương". Lúc ôm và ngửi được áo jacket nỉ vàng mới toanh trong tay, tôi bồi hồi nhớ đến cái ngăn tủ ở trong nhà đó phần nhiều những bộ áo quần được phát xuất từ xứ đạo nhà thờ, tiệm bán đồ củ hoặc garage sales.
Cùng trong khoảng thời gian này, một hôm bố dẫn người đàn bạ lạ về nhà, giới thiệu cùng tôi và thằng Phước. Tên cô là Lan, làm chung hãng điện với bố. Dáng cô Lan đẩy đà, tóc cắt ngắn hợp với khuôn mặt tròn và trắng. Miệng hay cười chúm chím lộ cái lúm đồng tiền ở má bên trái thật xinh. Mắt cô một mí, mới thoạt nhìn tôi tưởng cô là người Đại Hàn hay Nhật. Tôi thấy bố vui hẳn từ ngày bố quen cô Lan. Bố chịu khó chải chuốt áo quần hơn trước. Tôi cũng vui theo bố. Đi tới lui trong nhà bố luôn huýt gió hoặc hát những bản nhạc tình nghe cũng...da diết lắm.
Sau vài tháng, cô Lan từ từ dọn vào ở chung với bố. Ban đầu chỉ cuối tuần, rồi vài ngày, cuối cùng cô ở hẳn như nhân vật thứ tư trong nhà. Từ ngày có cô Lan, tôi cũng mừng là khỏi lo phần cơm nước mỗi buổi chiều. Apartment có hai phòng ngủ, nhưng chỉ một phòng tắm. Nhiều hôm từ phòng tắm ra, trên người cô chỉ quấn ngang chiếc khăn lông lớn, da cô trắng nõn, tay chân đầy đặn, mùa hè trông cô tôi cũng thấy mát mắt, huống chi là...bố.
Có những buổi tối, cô bận chiếc áo ngủ màu hồng nhạt mỏng manh phủ dài đến gót chân, khi cô đứng nghiêng người trước tủ lạnh kiếm đồ ăn vặt, tôi trông cô thật hấp dẫn, gò ngực vun cao lồ lộ, mềm mại, rất đàn bà. Cô được cái tính hay cười, chưa nói cô đã cười, sống cạnh cô không ai có thể bực mình hoặc giận cô được.
Nhiều đêm khó ngủ, nằm nghĩ tới bố cùng cô Lan trên chiếc giường bên cạnh, vọng sang tiếng nói cười khúc khích... Hình ảnh lung linh mờ nhạt của mẹ, khuôn mặt xương xương ít cười, nói nhiều bằng mắt. Cùng cái bóng nhấp nhô in trên vách mùng, tiếng kêu kẽo kẹt của cái giường lẫn hơi thở mạnh đứt quãng trong đêm năm xưa lại trở về.
Niềm vui cô Lan mang đến cho bố cũng thật ngắn ngủi, chưa đầy năm. Một buổi chiều tôi đi học về, ngang qua phòng bố, thấy cánh cửa hé mở, bố ngồi trên chiếc giường hút thuốc liên hồi, dưới chân là mấy chai bia đã cạn nằm lăn lóc. Tôi linh cảm có điều gì không hay xảy ra. Sao hôm nay bố ở nhà ? Cô Lan đâu? Tôi về phòng mà cứ thắc mắc, suy nghĩ. Hay bố và cô Lan giận nhau? Cô Lan đã bỏ đi? Tôi chợt nhớ cả tuần nay bố ít ăn cơm nhà, và cô Lan ít nói cười hơn mọi ngày. Tôi nhẹ nhàng qua phòng bố, ngồi xuống và nhẹ nhàng để tay mình qua vai bố: "bố sao vậy? what's wrong, bố? Cô Lan đâu?" Bố im lặng một lát, rồi nói nhỏ: "cô Lan đã dọn đi". Why? tôi hỏi. "Chồng cũ của cô Lan đã vượt biên đến được bên đảo. Cô Lan phải ..." Đó là lần đầu tiên hai bố con ngồi nói chuyện yêu đương phức tạp của người lớn. Tôi ôm cổ bố mà lòng ước ao mong cho bố hết buồn, và hy vọng cái tin chồng cũ cô Lan vừa đến được đảo là cái tin "vịt".
Rồi thời gian trôi. Tôi xong trung học, lên thẳng đại học ở thành phố Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California cách Oakland khoảng hai giờ đồng hồ lái xe. Ngày tôi được trường nhận, nghe tin bố mừng lắm. Bố xin nghỉ một ngày làm, dẫn hai chị em đi San Francisco chơi, ba bố con dung dăng dung dẻ quanh China Town, chụp hình, ăn đồ biển ở Pier 39. Lần đầu tiên ý niệm của chữ "báo hiếu" đến với tôi. Tôi bước được một bước ngắn trên bậc thang chữ hiếu.
Những ngày đầu xa nhà, đêm ngủ tôi nhớ bố và thằng Phước quá thể. Cứ mong đúng chín giờ tối bố gọi phone vào. Bố dặn đủ điều, từ ăn uống, nghỉ ngơi, đừng ham chơi chểnh mảng việc học hành, và cần gì cứ gọi cho bố. Bao nhiêu nằm bố đóng vai người bố lẫn người mẹ, dạy dỗ, lo lắng cho hai chị em. Từ chuyện ngoài đường đến chuyện trong nhà. Tôi nhớ lần đầu tiên có kinh, mặc dầu trong trường đã dạy qua "chuyện" này rồi, nhưng khi có tôi cũng lúng túng sợ làm sao...và không qua nỗi được cặp mắt tinh ý của bố. Tối hôm đó bố vào phòng tôi, trên tay cầm hộp napskin, loại dành cho teenager nữa chứ! .
Đi chợ, bố chọn loại yaourt tôi thích, xà phòng gội đầu hiệu gì tôi ưa dùng, ngay cả size cũng như loại quần lót 100% cotton tôi hay mặc...Ở bố, cuộc đời có khi mang đến cho bố là mật đắng, đồng thời cũng có khi là mật ngọt. Tuy nhiên bao giờ bố cũng yêu thương, tận tụy với cuộc đời.
Hai năm sau, thằng Phước cũng vào đại học, nó chọn trường còn xa tôi gấp bội, mãi tận Boston. Lớn lên con đủ lông đủ cánh lìa xa bố.
Lên năm thứ ba, tôi chọn ngành psychology, ít về thăm bố hơn trước vì vừa bận học, bận "yêu", và bận làm part-time ở tiệm bán records cũ cuối tuần kiếm thêm tiền tiêu vặt.
Một thứ bảy cuối tuần, bố lái xe lên nơi tôi ở, đi cùng với bố là bà Tâm, nhỏ hơn bố độ vài tuổi. Bố cho biết hai người sẽ sống chính thức với nhau như vợ chồng. Bà Tâm là người đàn bà bình thường trên mọi phương diện. Ở bà không có gì đặc biệt, từ nhan sắc đến cá tính, nhưng được cái bà rất chìu chuộng bố, ngọt ngào nhẹ nhàng với bố. Cạnh bà, bố tìm được sự thoải mái trong tâm hồn ở lứa tuổi không còn...thanh xuân nữa. Mỗi lần gặp bố, tôi hay nói đùa: "ngày xưa con nhổ tóc bạc, bây giờ con nhổ tóc ...đen cho bố nhé!". Hoặc vừa đưa tay thoa thoa cái bụng bắt đầu phát tướng của bố, vừa dở giọng...người lớn: "Mỗi ngày bố phải ráng chạy bộ một tiếng, bớt hút thuốc, uống bia, và..." Bố nghe rồi cười cười. Tôi thấy trong mắt bố bóng dáng hạnh phúc long lanh.
Thằng Phước và tôi, hai chị em nay kẻ ở miền Tây, người ở miền đông, lâu lâu có chuyện gì cần mới gọi phone thăm hỏi. Ba bố con, mỗi người hầu như đã có đời sống riêng tư, ai cũng có công chuyện để lo. Hai chị em tôi, tương lai dệt gấm trước mắt, còn bố, bao nhiêu năm sống tận tụy với cuộc đời, tưởng chừng đã yên...nào ngờ...
Một tối mùa đông, đêm khuya tôi đang ngủ, chuông điện thoại reng, tôi giựt mình tỉnh giấc. Bên kia giọng của bà Tâm báo tin bố tôi bị té xỉu phải đưa vào bệnh viện. Tôi thay vội quần áo, đem theo ít đồ vặt vãnh, lái xe xuống Oak vào thẳng nhà thương. Lúc nhìn thấy bố nằm yên trên giường bệnh, chung quanh trang bị đầy máy móc. Lần đầu tiên hình ảnh bất lực, tuyệt vọng hiện rõ trên khuôn mặt bố. Tôi gạt nước mắt ngồi xuống cạnh giường, vuốt nhẹ những sợi tóc loà trên trán bố mà linh cảm những điều không may lại tìm đến với ba bố con tôi.
Suốt đêm hôm đó tôi thức trắng ngồi ở phòng đợi. Bác sĩ chụp hình thấy trong óc bố có tumor, phải mổ để lấy ra. Nhưng sau khi mổ xong, bác sĩ bảo bố bị ung thư màng óc, last stage, rất nặng, sống không qua khỏi một năm. Lúc ngồi đối diện nghe ông bác sĩ trình bày... Tôi không ngờ mình bình tĩnh đến thế. Tôi còn nhớ rõ khuôn mặt ông bác sĩ như in, nếu là họa sĩ vẽ chân dung, tôi sẽ vẽ mặt ông không sai một nét. Tôi ngó quanh căn phòng ông ta làm việc, bảng tên Allan R, Bernstein mạ vàng đặt ngay ngắn trên bàn. Tôi đoán ông gốc Do Thái, bởi người Do Thái thường có last name đi với - ein, ba mẫu tự cuối. Trên tường, ông treo nhiều tấm hình chụp vợ và hai đứa con của ông. Cũng con gái đầu lòng và con trai kế như gia đình tôi, nhưng chỉ khác là gia đình ông vẫn còn đầy đủ. Một gia đình giàu có, may mắn và hạnh phúc.
Rời phòng ông bác sĩ, tôi ra hành lang ngó xuống dãy parking bên dưới đường. Tôi thấy buổi chiều dài mênh mông bất tận. Tôi đứng yên lặng một hồi lâu, rồi bỗng dưng bật khóc nức nở. Tôi khóc to không có gì ngăn cản được. Những cặp mắt đi qua đi lại nhìn tôi thương hại. Một bà y tá đến dìu tôi vào phòng trong, lấy napskin lau nước mắt cho tôi, rồi vỗ về an ủi: "everything will be okay, dear". Tôi bỗng nhớ thứ năm tuần tới sẽ là sinh nhật thứ hai mươi mốt của mình.
Tôi nghỉ luôn khoá học đó, dọn về ở hẳn với bố để chăm sóc lo lắng cho bố. Bà Tâm bình thường là một người rất dễ mến nếu được che chở, và đâu đó luôn có cái vai sẵn cho bà dựa. Giờ đây bố bệnh, trông bà như cành hoa rũ, buồn và than thở tối ngày. Tôi không trách bà mà chỉ tội nghiệp cho bà.
Bố giờ đây dưới mắt tôi như một đứa bé, và tôi là mẹ phải có bổn phận chăm sóc cho con. Tôi báo tin thằng Phước biết, nó bay qua ở gần bố một tuần, rồi tôi bảo nó về đi học tiếp, tôi lo được. Hai chị em không nói với nhau nhiều, thỉnh thoảng nó ôm vai tôi, thoa nhè nhẹ như dỗ dành an ủi. Trước ngày đi, nó vào phòng chào bố, lúc bước ra tôi thấy nó ngồi ôm mặt khóc. Trong đời tôi, hai lần chứng kiến người đàn ông khóc. Lần đầu là bố của hơn mười năm về trước, sáng rạng ba mươi tết ngồi khóc vợ. Và giờ đây thẳng em trai của tôi, cao to như một tay chơi thể thao nhà nghề, chiều cao
sức nặng không thua gì mấy tay defende trong đội football, cũng đang ngồi khóc vì thấy mình helpless.
Mỗi tuần, tôi chở bố vào nhà thương hai lần khám nghiệm và mỗi chiều đưa bố ra công viên cạnh nhà ngồi...hóng gió. Sáng trưa chiều tối tôi luôn túc trực cạnh bố. Những sinh hoạt của tôi hầu như quên hẳn. Càng ngày, thời gian tỉnh táo của bố càng rút ngắn thay cho thời gian hôn mê kéo dài ra. Thỉnh thoảng lúc tỉnh, bố yếu ớt cầm tay tôi bóp nhè nhẹ, những lúc như thế, tôi biết bố thương tôi lắm, phần thấy mình bất lực trước định mệnh, phần thương đứa con gái từ thuở nhỏ đã long đong bất hạnh về đường...mẹ cha.
Sau đó, tôi đứng ra xốc vác mọi chuyện từ trong ra ngoài. Tiền bạc trong saving của bố cũng cạn dần theo những cái bill gửi về hàng tháng. Tôi phải kiếm việc làm part-time ở một ngân hàng gần nhà, mỗi ngày làm sáu tiếng. Bà Tâm càng ngày khuôn mặt càng héo rũ một cách thảm hại. Thỉnh thoảng tôi tránh ở cạnh bà, bởi thấy bà tôi càng khó chịu.
Những tháng ngày cuối cùng của bố, bố hôn mê hẳn, không biết gì nữa cả. Thức ăn chuyền vào bằng mũi. Nhiều hôm nhìn bố, tôi nghĩ đó chỉ là cái xác, linh hồn đã lìa xa. Bác sĩ giữ bố luôn trong nhà thương. Ngoài giờ làm việc, tôi ở cạnh bố, những sinh hoạt trong phạm vi nhà thương tôi dần dà quen thuộc. Những y tá, nhân công lui tới săn sóc cho bố, tôi nắm giữ thời khoá biểu rõ không thua chi họ. Căn phòng bố nằm, bốn bức tường được dán wallpaper, những đường lằn màu lục, cam và vàng nhạt chạy xuôi theo bức tường, tôi nhìn quá quen mắt đến độ người thợ nào dán không khéo tay nằm chồng lên nhau tôi đều biết. Tượng Chúa chúc đầu trên thập tự giá treo đối diện mặt bố, mỗi lần nhìn tôi không khỏi thắc mắc là Chúa mà còn bị người ta đóng đinh đau đớn thế kia.
Cũng từ khung cửa sổ trong phòng này, mỗi buổi chiều tôi đứng tựa cửa đợi đêm xuống. Mặt đường xe cộ chạy ngược chạy xuôi, cây dâu Tây mỗi ngày rụng lá thưa dần, parking lot phía dưới người tới người đi. Ngày tàn của trời đất bên ngoài lẫn ngày tàn của bố bên trong phòng bệnh. Tôi đứng yên tính chuyện ra đi của bố phải được thực hiện như thế nào. Tìm hiểu đám ma gồm những nghi lễ gì, làm sao cho đúng nghi thức đưa tiễn một người về bên kia thế giới. Như người con gái chuẩn bị sửa soạn đám cưới mình cho thật linh đình. Từ chiếc áo, cái nhẫn, màu sắc cũng như loại hoa nào cầm trên tay, khi bước chân vào cửa nhà thờ cùng với người bạn đời. Quay phim, chụp ảnh, tiệc nhà hàng...còn tôi đang lo cái chết thật chu đáo cho bố. Tôi mua magazines, vào thư viện mượn sách tìm hiểu, rồi coi quảng cáo đặt hoa đâu thì rẻ. Nên đốt hay chôn? Giá cả chênh lệch bao nhiêu? Nhà quàn nào tiện đường nhất? Danh sách những người bạn của bố cần được thông báo. Tôi tự một mình toan tính tất cả. Tôi thản nhiên thi hành công việc như một công nhân làm việc nghiêm túc có lương tâm và tinh thần trách nhiệm cao.
Một hôm đi làm về bụng đau, thân xác mỏi nhừ vì có kinh, uống hai viên midol, tôi vào thẳng phòng nằm nghỉ rồi ngủ thiếp đi... Đêm khuya chuông điện thoại reo vang ( sau này tôi vẫn bị ám ảnh bởi tiếng điện thoại reng trong đêm khuya) giọng bên kia đầu giây báo tin bố đã mất. Hai người sinh thành ra tôi, lúc chết không có tôi bên cạnh để vuốt mắt.
Đám tang của bố cử hành một cách chu đáo, đâu vào đấy. Những người bạn cũ, mới của bố hầu như đều có mặt để chào bố lần cuối. Những lẳng hoa, lời chia buồn, vỗ vai hoặc vòng tay ôm thương hại. Hôm đó tôi bận váy đen, cổ viền lace trắng, dài phủ gối rất đẹp. Tôi biết chung quanh có người nhìn tôi với cặp mắt ngạc nhiên lẫn thán phục bởi không có phần "Tang gia bối rối xin được niệm tình tha thứ".
Lần đầu tiên trong đời, tôi tự biết mình có khả năng tổ chức.
Lúc làm lễ hạ huyệt, tôi đứng lặng yên. Những hình ảnh nối đuôi đến với tôi như cuốn phim quay chậm. Từ chậu Ngọc lan thơm ngát bên hiên nhà cũ ở Qui Nhơn, khuôn mặt xương xương thuôn nhỏ của mẹ, những ngày cuối cùng chạy loạn ở Việt Nam, những năm tháng đầu ở Mỹ, ngày đầu tiên đi học, đi làm ở McDonald's ...những ngày vui cạnh bố. Những người đàn bà bố đã quen. Ngày thằng Phước đánh lộn với thằng Mễ trong trường, tôi phải tìm cách dấu vì sợ bố buồn và thằng Phước bị đòn. Rồi những ngày bố bệnh nằm trong nhà thương đợi chết, cùng khung cửa sổ quen thuộc... Bố ra đi, để lại hai chị em tôi còn ở tuổi chưa đứa nào chính thức bước chân xuống cuộc đời, còn chân trong chân ngoài.
Nhìn ụ đất trước mặt, tôi khẽ nói: "Thế là xong, bố nhé!"
Chìm dưới đất kia
Bàn chân nhỏ bé
Năm xưa, năm xưa
Cũng vui hội hè
Chìm dưới đất kia
Bàn chân nhỏ bé
Năm nay, năm nay
Đã quên đường về
Một thời gian ngắn sau ngày bố mất, bà Tâm dọn về ở với người con gái lớn của bà. Thằng Phước trở qua Boston học tiếp. Căn nhà trả lại cho chủ. Tôi còn phải lo lấy cuộc đời tôi. Bố dặn trong hoàn cảnh nào cũng phải thương em, gắng học cho xong và rán yêu cuộc đời dẫu vui tươi hoặc ngậm ngùi.
Tôi trở lại trường, mượn tiền và làm part-time tiếp tục chuyện học. Hai năm sau tôi ra trường. Ngày ra trường tôi không khăn mũ xênh xang như những bạn cùng lớp. Với số tiền sắm sửa những thứ đó, tôi mua vé máy bay qua chơi với thằng Phước một chuyến. Trước tự thưởng cho mình, kế đến muốn biết lối sống hư thực thằng em ra sao? Ngày còn bé, mẹ mất, tôi tủi thân khi nhìn những đứa bạn chung quanh có mẹ để được vỗ về nũng nịu. Ngày nay, tôi đã lớn, ngày tốt nghiệp ra trường tiếc là không còn bố mẹ để vui như là một báo hiếu.
Bảy năm sau tôi lập gia đình với một người bản xứ. Anh tên Bill, dạy môn văn chương ở trường đại học trong vùng. Anh hơn tôi đúng một con giáp, đã một lần ly dị và chưa có con. Tôi quen Bill trong dịp đi phụ người bạn gái Nhật, tên Tina, tham dự một Flower Show. Tina nhờ tôi trông hộ một lát để đi mua chai nước ngọt. Tina vừa đi thì Bill đến mua bình hoa, anh hỏi cách thức cắm hoa. Tôi thành thật trả lời không biết, phải đợi chủ "nó" trở lại mới được. Trong khi chờ Tina, tôi và Bill trao đổi những mẫu chuyện chẳng lên quan gì đến hoa, Bill nói tôi có đôi mắt đẹp, và nụ cười dễ làm người đối diện thiện cảm. (Sau này đã thành vợ chồng, Bill nói đó là lần đầu tiên anh khen người con gái lạ mới gặp). Giữa trời tháng tám nắng chang chàng Bill mặc T shirt, quần kaki ngắn ngang đầu gối, chân mang đôi dép đã để lộ những ngón chân xương xương, trắng, dài chụm lại với nhau...những ngón chân mới nhìn thoáng qua, tôi đã thấy Bill có bàn chân giống hệt bố mình.
Bill đi nhiều, đọc nhiều, anh hiểu và quý văn hoá Á Đông. Tôi yêu anh một phần vì anh có cái nhìn bén nhạy đối với những vấn đề chung quanh với con tim rung động chân thật và kiến thức sâu rộng như một hành trang cần thiết. Đồng thời gặp anh đúng lúc tôi đang nghĩ nên settle down để có con là vừa.
Trước khi gật đầu chịu về làm vợ Bill, trong những năm dài làm con gái, tôi cũng có những tình nhân đến và đi. Từ Steve, người Tàu Đài Loan qua Mỹ du học, tôi quen trong lớp English, thân hơn một tí, tôi không chịu được "Born-again Christian" nơi Steve, và rồi hai đứa chia tay. Mậu, bác sĩ chuyên về mắt, hiểu rộng biết nhiều nhưng lại yêu tiền hơn yêu nghề, cứ than phiền là đã chọn lầm nghề, phải chi hồi đó làm business, có tiền mua nhà, mua bất động sản thì giờ đã giàu to. Gần anh, nhiều khi tôi nghĩ, nếu anh phải bị đưa tiền và tình bỏ lên bàn cân, tôi nghĩ một là ngang nhau hoặc không thì độ nặng sễ lệch bên tiền. Peter, kỹ sư điện tử, cao to đẹp trai, cặp mắt xanh sáng ngời, ngoài tôi ra, cái computer là bạn chí thân của anh, nhiều giờ ngồi cạnh anh, tôi vẫn không hiểu anh nghĩ gì, muốn gì. Thằng Phước gặp Peter một lần vào đêm giáng sinh, nó bảo "nerd quá, em không hiểu sao chị chịu được."
Người mà thỉnh thoảng nằm cạnh chồng, tôi còn chút lưu luyến là Tuyên. Dáng anh cao, gầy, trông có vẻ...trí thức. Lúc nói chuyện, anh nói bằng miệng, mắt và đồng thời tay anh nắm chặc rồi xoè ra, một, hai, ba...rất rõ ràng y như nói có sách mách có chứng. Tuyên rời Việt Nam năm anh hai mươi ba tuổi. Sau năm năm kinh nghiệm sống với Cộng Sản. Để rồi anh luôn nói "Cộng sản là kẻ thù không đội trời chung, đã đưa tất cả nước Việt Nam xuống tận vực thẳm." Ở anh, như có nam châm cuốn hút lấy tôi. Tuyên có lý tưởng, hăng say nồng nhiệt với trái tim tuổi trẻ chân thật. Tôi kính trọng con đường anh lựa chọn. Tuy nhiên Tuyên yêu tôi và đồng thời cũng quá yêu lý tưởng của anh. Anh luôn nghĩ phải có bổn phận và trách nhiệm với quê hương đồng bào. Rất nhiều lần, tôi "ganh" với lý tưởng của anh, bởi trong tim anh, tôi chỉ là ...nhân vật phụ. Giấc mơ đội đá vá trời quá mãnh liệt. "Em thà như hơi rượu cay... "Có những hôm Tuyên đi mấy ngày liền, tôi mù mịch chẳng biết anh đi đâu, tham dự biểu tình hay lo báo chí, hội họp...Tôi giận dỗi, anh năn nỉ, tôi làm nư, anh để mặc... Có khi hai đứa nằm cạnh nhau, anh vuốt dọc lưng tôi vỗ về: "Mất một cái áo phải làm mấy tiếng để mua lại. Mất một cái xe phải làm ba năm để trả nợ. Mất một căn nhà phải làm đến ba mươi năm huống chi mất cả một đất nước..." Giáng sinh, bạn bè tổ chức nhảy đầm, tôi rủ anh đi, chẳng những anh không đi, còn bảo: "Trong tiếng nhạc disco (nhạc thịnh hành thời đó) anh nghe có tiếng rên siết của sáu mươi triệu đồng bào đang đói khổ bên quê nhà."
Nhiều khi tôi nghĩ anh là một người đại...lãng mạng, bởi anh luôn đi tìm kiếm cái đẹp, hay, tuyệt đối trong cuộc đời...mà cuộc đời...thì (tôi nghĩ) tương đối được cũng đã quá khó.
Nhưng một điều sau khi đã xa Tuyên, mãnh đất có hình cong chữ S bên kia bờ đại dương đậm nét trong tôi hơn. Nơi đó tôi đã ra đời và đã trãi qua những năm thơ ấu mà giờ đây trong tôi còn mù mờ con đường nhỏ từ nhà đến trường. Căn nhà mái ngói đỏ có hàng dâm bụt phía trước và cây Ngọc lan đến mùa hoa nở thơm ngát ở một khoảng sân, cùng dăm ba khuôn mặt con bạn cắt tóc ngắn thuở nhỏ hay bày trò chơi u làng, nhảy dây, u mọi...
Mùa hè năm rồi thằng Phước về lại Việt Nam cùng Mai Thi. (Mai Thi là fiancé của nó). Trước khi đi, thằng Phước gọi phone hỏi tôi muốn quà gì ở Việt Nam không, nó mua cho. Nó nói sẽ đi ra Huế thăm bà ngoại, sẵn dịp dừng lại Qui Nhơn vài ngày. Tôi nói: "Phước à, nếu mày ghé ngang Qui Nhơn, nhớ chụp cho tao cái hình căn nhà cũ ngày trước, và nếu có thể được, chụp luôn cho tao ngôi trường tiểu học mà tao với mày đã học qua..." Nó hứa là sẽ cố gắng.
Hơn một tháng sau thằng Phước trở về, thay vì chụp hình như lời tôi dặn, nó gửi cho tôi một cuốn phim video quay luôn cả hai nơi. Căn nhà tôi đã ở, bậy giờ trông khác xa, hàng dâm bụt phía trước không còn nữa, thay vào đó là những cành cây khô giăng móc để phơi quần áo. Nó nói chỉ được đứng ngoài quay thôi, "chủ mới" không cho vào. Kế đến là ngôi trường tiểu học tôi đã học, giờ đây trông tiêu điều, thảm hại, nghèo nàn làm sao! Sân xi măng phía trước tụi tôi hay ngồi vẽ chơi ô làng, hoặc nhảy dây, lò cò...nay đã bị soi mòn, cát đá lởm chởm, hàng dương liễu bên hông trường giờ đây cây gẫy cây còn. Đám con nít ốm yếu, áo quần tả tơi chạy vòng quanh sân trường, nét ngây thơ hồn nhiên như mờ nhạt trên từng khuôn mặt. Nét suy tư, lo âu, mỏi mệt có phần đậm nét hơn. Thằng Phước đi lần ra phía sau sân trường, tôi nghe tiếng thất thanh của nó kèm theo cái chao nghiêng của máy quay. Hình ảnh một bãi cát vàng lốm đốm những chấm đen. Sân sau giờ đây biến thành cái...cầu tiêu công cộng của đám học trò và dân cư quanh vùng ban đêm lén vào đi.
Ông cai ngày trước vẫn còn, ông già quá tôi nhận không ra nếu không nghe lại giọng "nẫu" thân tình. Ông than cùng thằng Phước là dãy cầu tiêu bốn cái sau trường của lũ học sinh bỗng nhiên bị sụp cách đây một năm. Trường đang đợi tiền nhà nước để sửa lại, nhưng đợi lâu quá, biết đến bao giờ, nên các em đành đi đỡ ở sân sau vậy. Có hôm không mệt thì đi lòng vòng xúc đem chôn, nhưng mấy hôm nay ông mệt nên chưa xúc được.
Cuốn phim thằng Phước mang về làm tôi thức trắng mấy đêm liền. Cuối cùng tôi liên lạc người chú họ. Trước kia chú dạy ở trường sư phạm Qui Nhơn và hiện giờ vẫn còn ở thành phố cũ. Tôi gửi chú một số tiền nhờ chú đứng ra liên lạc với nhà trường để từ bổ lại mấy cái cầu tiêu sau trường, đồng thời xây lại sân xi măng trước cho các em chơi. Số tiền tôi và Bill dự trù đi vacation ở Âu Châu vào dịp Giáng Sinh, nhưng bây giờ thay vì đi Âu Châu như dự định, chúng tôi đi cắm trại ở Yosemity Park cách Oakland 200 miles. Khi tôi "thuyết phục" chồng, điều tôi rất mong muốn là sửa sang lại ngôi trường tiểu học cũ. Tôi nói: "con trai như các anh, đứng... đâu cũng được và cách xa mặt đất, còn con gái như tụi em, vừa nắng vừa nóng mà lỡ bị...thì nó rát, xót và đau đến thế nào".
Chiều hôm nay 29 tết. Tôi nhận được cuốn phim của chú tôi gửi từ Việt Nam sang. Bill đi dạy chưa về, tôi mở cuốn phim coi một mình.
"Ngôi trường phía trước đã có cái nền xi măng mới. Phía sau một dãy bốn cái cầu tiêu vừa được sửa sang xong". Lòng tôi rộn ràng như nở hoa. Tôi gọi phone kể cho thằng Phước mà tự nghe giọng mình ríu rít như tiếng chim kêu.
Tuần tới, cộng đồng Việt Nam ở San Jose sẽ tổ chức hội chợ tết hằng năm, khá qui mô, hàng chục ngàn người tham dự. Tôi định bụng sẽ mặc áo dài gấm đỏ, đeo kiềng vàng đi hội chợ tết đầu năm cùng Bill.
Mùa xuân năm nay, mùa xuân đẹp và ý nghĩa nhất đời tôi, ở lứa tuổi sắp bước vào ba mươi.
Tôi trông thấy mình nhẹ như mây khói, cuộn bay cùng gió lên thấu trời xanh. Lúc đưa tay gõ cửa thiên đường, lòng tôi run lên vì hồi hộp, sung sướng vì sắp được gặp lại hình ảnh mẹ và bố đang âu yếm ngồi cạnh nhau. Thấy tôi, cả hai nở nụ cười. Ôi! Nụ cười ngọt ngào như tia nắng ấm của ngày đẩu xuân.
Lê Thị Thấm Vân
--------------------------------
Nguồn: Văn
Giai phẩm xuân Quý Dậu
Số 126-127, tháng 12-1992 và tháng 1-1993
Thursday, January 12, 2017
MÙA XUÂN Ở TRẦN GIAN
Nguyễn Thị Thanh Bình
Cứ mỗi lần Loan trở lại đó, mùi yêu thương cũ có dịp lảng vảng quay về. Đâu hẳn chỉ có mùi hương, mà chính là cái bóng dáng của người đàn ông đã giữ định mệnh của Loan. Dĩ nhiên không lúc nào ông ta chịu ra khỏi tim óc Loan. Nhưng ở một nơi khác và một thời điểm khác, khuôn mặt của người ấy cũng khác đi. Thường, Loan chỉ bắt gặp ánh mắt nửa van xin nửa trách móc. Cái nhìn này lẫn khuất ngay, khi Loan trở lại đó để thay vào những tia mắt xúc động đến run rẩy và khao khát.
Như một lời giao ước, mỗi năm Loan tìm đủ mọi cách để đến thăm Thiện một lần. Thời gian và không gian không phải bất chợt họ định ra hoặc chọn lựa để phù hợp với hoàn cảnh. Trái lại, họ muốn giữ mãi cái ngày tiền định đầu tiên hai người gặp nhau. Đó là một buổi sáng đầu xuân trời mây xanh ngắt. Ngôi chùa thanh tịnh trên một triền dốc. Phía dưới có con sông nhỏ nằm úp bóng bên những hàng liễu ẻo lả gội nắng. Xa xa là những ghềnh đá xám trắng lô nhô. Lần đầu làm khách phương xa, Loan theo một người bạn thân rủ rê lên chùa xin xăm. Loan không ngờ ở đó Loan đã gặp một vẻ đẹp cô đơn đến tuyệt vời. Loan bị nhận chìm ngay bởi cảnh vật xung quanh, nhất là khi vóc dáng và đôi mắt Thiện ngước lên phủ chụp lấy Loan. Buổi sáng bên ngoài trời và bên trong Loan. Loan thật sự bị những cành hoa trắng cô liêu nở thầm trên góc cao của chiếc bàn thờ nơi Thiện trụ trì quyến dụ. Loan ngõ ý muốn ở lại nghe Thiện nói về ngôi chùa "Từ Bi" chàng vừa thiết lập. Loan đã bằng lòng trãi qua buổi sáng, buổi trưa và thậm chí cả buổi chiều nơi đó với bụng đói và chỉ cần nhâm nhi vài tách trà sen đậm đặc. Cô bạn Loan bỏ về trước, miệng bi bô mắng mỏ, nhưng Loan chẳng nghe gì và cũng chẳng cần để ý đến sự soi mói của bất cứ ai.
Mỗi năm một lần ròng rã ba năm trời như thế, vị chi vỏn vẹn ba lần Loan tìm về ngôi chùa cũ gặp Thiện. Loan thầm nhủ nàng sẽ trở lại cho đến một ngày nào đó Thiện hoàn toàn tan biến trong hư không. Loan muốn trở lại để chính tay nàng đếm rõ vài nếp nhăn mới trên vầng trán hoang vu của Thiện. Loan chỉ muốn mình nàng được độc tôn nhìn ngắm vẻ khắc khổ từ cổ vai, bờ ngực, bàn tay và cả đôi chân ấy. Loan muốn tự tay nàng vào bếp pha chế những món ăn chay đặc biệt cho Thiện. Vào những ngày Tết, Chùa thường có nhiều khách thập phương đến viếng lạy. Thiện cũng có rất nhiều phật tử đến lăng xăng mọi công việc. Thời gian của Thiện dành riêng cho Loan thường rất muộn màng, khi chiều đã phai và mọi người đã ra về. Sự nín câm của một ngày trời gặp gỡ và cả một năm không thấy mặt nhau làm phút giây vắng lặng đó lúc nào cũng đổ ào xuống, rạt rào như một cơn mưa đẹp. Họ đút cho nhau từng muổng xúp nóng và Loan thường đòi thêm một chút nhạc ở cái cassette nhỏ. Thiện vẫn hay nhìn nàng nửa đùa nửa thật: "Gặp nhau để nghe nhạc sao Loan?" Loan cười trêu Thiện : "Nhà sư thì còn biết gì chuyện trần gian nữa mà nói?". Giọng Thiện bỗng chùng xuống trầm và ấm: "Đừng chọc tôi...nghe cô. Đã trót mang thân phận con người, nhà sư cũng khó dứt được lụy trần."
Loan âu yếm nhìn Thiện: "Biết rồi, nói mãi! Ai chứ em dư biết anh là nhà sư vương lụy. Nhưng đặc biệt mỗi năm chỉ vướng bụi trần có một lần thôi à ". "Em là bụi trần chắc làm cay mắt anh lắm thì phải?", Loan hất hàm hỏi. Đôi mắt Thiện bỗng chan chứa cái nhìn dịu dàng chưa từng có: "Khi em đi rồi, anh lại trở về với thế giới tịch mịch của mình. Thời khắc chuyển giao của ngày và đêm lúc đó với anh chẳng có gì thay đổi. Cái lặng lẽ lụn tàn của một buổi chiều cũng giống như buổi tối im vắng tạnh không. Giữa chúng ta dẫu chưa làm một điều gì tội lỗi, nhưng khi em đi rồi, anh vẫn thường đóng cửa tụng liên tu bất tận Kinh Sám Hối. Anh biết lòng mình rất yếu mềm vì em."
Lần đó, Loan chợt rưng rưng nước mắt. "Hay là em chẳng bao giờ nên trở lại đây để phá phách một đấng chân nhân như anh? Em đúng là con quỷ cái đã làm lấm lem tấm áo cà sa trên người anh."
Thiện lau nhẹ những giọt lệ của trần gian trên mắt Loan. "Tội nghiệp em. Em cũng nào muốn thế. Anh cũng không thể hiểu được tại sao rồi lại tìm đến nhau như thế."
Loan hôn lên tay Thiện, trân trọng: "Nghiệp chướng. Vâng, nếu muốn dứt bỏ nghiệp chướng, anh hãy cố gắng dứt bỏ em trước."
Thiện cũng nâng bàn tay Loan lên: "Bàn tay của em đã đan những vòng tình lụy vào cổ anh. Mỗi năm dù chỉ gặp em có một lần, nhưng anh đã phải mất 364 ngày sau đó, lòng anh mới bắt đầu "tịnh" trở lại để có thể ngồi kiết già hay tọa thiền nhập định."
Loan cười rú lên thích chí, tiếng cười man rợ ma quái như muốn vỡ tan cả đất trời núi đồi và vùng không gian có người yêu nàng ngự trị. " Anh là kẻ siêu phàm dày công tu luyện cả năm trời và em là hiện thân của Satan đến để lấy hết thiện duyên ấy."
Rồi như trong ước ao mê muội, Loan nghịch ngợm phả hơi thở xao xuyến của nàng trên cổ Thiện. "Vòng tình lụy đã lỡ dính vào cổ anh. Anh không thể tìm về Niết Bàn được. Nhất là nơi cõi trần gian tử sinh ly hợp này còn có em ở lại."
Trong vệt sáng cuối cùng xanh xao của buổi chiều, Thiện như bị tan biến thật nhanh vào hơi thở ám chướng ấy. Hơi thở phả vào vùng da thịt tưởng đã yên ngủ của Thiện. Hơi thở chạm vào nhân điện thèm thuồng của Thiện lập tức bốc cháy. Họ cùng nhận ra linh hồn và tấm hình hài ô trọc của mình đã tấu lên một bản nhạc đầy rung động nhất. Bằng một thứ nhạc cụ kỳ bí của tình yêu, bàn tay Thiện rạo rực gảy những bản đàn thánh thót trên da thịt người yêu. Nghe như tiếng tơ chiều vỡ tan những ảo ảnh nâng niu.
Thoạt đầu, Loan tròn xoe hai mắt nhìn Thiện. Nàng hơi bỡ ngỡ trước môi hôn không hẹn đã ràn rụa nhớ nhung. Năm ngoái là lần thứ ba họ gặp nhau, nhưng là lần đầu tiên họ hôn nhau. Như trong chiêm bao và tận thế. Đó là lúc cơn mưa đầu mùa rớt xuống ngắn ngủi và bất ngờ ngoài cửa. Họ chẳng buồn lắng nghe tiếng mưa đi qua. Chỉ thấy vòng ôm thi nhau rối tung theo từng tiếng rên siết mơ hồ của gió. Trong bóng tối vừa xuống thật mau, Thiện mĩm cười rất nhẹ để yên Loan vân vê mớ tóc dài vòng quanh qua cổ chàng.
Thiện hỏi, "Sao em thích để tóc dài thế này? Tóc em dài và dầy thế kia, em không sợ mỏi lưng sao?"
Loan đã quấn xong một vòng quanh bờ cổ của tình nhân. "Dù sao, tóc em vẫn chưa đủ dài để quấn chặt toàn người anh kia mà. Khi nào em nuôi tóc mình đủ dài, biết lúc đó..."
Thiện đưa tay che môi Loan lại. Loan nhất định hất tay Thiện, nói tiếp: "Biết lúc đó mình có còn nhân duyên để gặp nhau ?"
Câu nói làm con người còn nhuốm mùi tục lụy của Thiện bừng tỉnh. "Em còn phải lấy chồng. Đường em đi còn nhiều thống khổ rồi cuối cùng mới "ngộ" được, em ạ. Nghe anh một lần, em hãy về ngay bây giờ. Mọi người đang chờ em. Còn anh, con đường mình nguyện lựa chọn suốt đời có nhiều thử thách và không dễ gì tự thắng. Em giúp anh bằng cách hãy về đi."
Loan trố mắt nhìn Thiện, nói qua làn nước mắt. "Làm sao em có thể giúp anh khi em cũng không thể giúp được chính mình. Suốt cuộc đời lớn lên, anh phát nguyện chân tu, ăn chay nằm đất và diệt dục này nọ...Nhưng mà, em biết anh chưa chứng nghiệm được dục là gì, vậy thì điều diệt dục của anh liệu có giá trị không ?"
Thiện khổ sở lắc đầu. "Anh sợ nếu biết dục là gì rồi, anh sẽ phải hoàn tục."
Lần đó, Loan đã thấy những giọt nước mắt không hề báo trước của Thiện vỡ oà. Trong cảm giác xót xa, Loan cũng vừa nhận ra thân phận bé bỏng và hạn hẹp của mình. Xác thân của nàng chỉ là hạt bụi trong thinh không. Thiện cũng không thể thuộc về sở hữu của nàng. Điều quan trọng nàng tự an ủi là thứ cảm nhận trung thực trọn vẹn dành cho nhau một phút giây nào đó.
Điều mâu thuẫn, khi Loan muốn kiếm một khách sạn để ngủ qua đêm thì chính Thiện lại mong mỏi Loan ở lại với ngôi chùa trên triền dốc. Thiện bắt Loan học thuộc lòng bài Kinh Cứu Khổ Cứu Nạn, nhưng chính Thiện lại quên niệm nó khi những ngón tay liêu trai của Loan run chạm đến người chàng.
Sáng hôm sau, Loan bỏ đi thật sớm khi Thiện còn quay mặt vào tường ngủ hoặc biết đâu đã thức ở một mùa xuân địa đàng xa xăm.
Và bây giờ, cũng vào một ngày đầu xuân nắng đẹp. Nắng mùa xuân của tiểu bang Thiện đang ở thật dễ mường tượng với nắng mùa xuân ở quê nhà. Một thứ nắng xuân, nhả ra làn hơi ấm vàng nhạt dịu dàng. Không như thứ nắng xuân lạnh lùng gờn gợn nơi Loan ở. Lần đầu tiên, lòng Loan chợt dấy lên một ước muốn được dọn về đây để ấm áp cùng nắng. Cảm giác khao khát gần gủi một âm hơi đầm ấm làm hai mắt nàng vụt cay nồng. Dù sao lần này Loan nhất định sẽ đòi Thiện rủ áo. Chiếc áo cà sa trên người Thiện không thể làm khổ nàng thêm nữa. Thiện đang giết chết dần mòn một người thì phúc đức ở chỗ nào. Loan tưởng tượng đến đôi mắt thoát tục và nét mặt hân hoan như được giải thoát của Thiện lúc thiền định mà hậm hực vô cớ.
Có điều Loan không thể ngờ rằng bàn tay nàng không bao giờ còn cơ hội chạm đến nếp áo cà sa của Thiện, nói gì đến những ước nguyện gắn bó kia. Loan lùi dần, lùi về một chiếc ghế gần đó vì hai chân nàng sắp khuỵu xuống. Nàng vừa chưa kịp thở với quãng đường dài ngoằn ngoèo leo dốc, đã phải đụng ngay đám người lô nhô với nước mắt ràn rụa. Họ nói lao xao xung quanh, mà nàng tưởng như nghe kể chuyện huyền sử. "Ai dè thầy Thiện tự thiêu hôm qua, đang quàng ở nhà đòn. Cái chết của thầy cũng can đảm như lần tẩm xăng mà Thượng tọa Thích Trí Đức đã tranh đấu để bảo vệ chánh pháp ấy. Nghe đâu thư tuyệt mạng của thầy để lại, thầy chết cho quê hương Việt Nam, cho những thân phận con người mà lại không được sống như giống người. Những bắt bớ, những giam cầm, những tu sĩ và muôn loài chúng sinh đang khổ ải ở quê nhà. Đó là những tiếng kêu cứu tắt nghẹn trong bể khổ trầm luân nên thầy ra đi. Thầy muốn được hỏa táng, rải hài cốt mình dọc theo bờ biển Thái Bình Dương để quay tìm về quê hương. Tội nghiệp thầy quá!".
Không ai để ý Loan bỗng nhiên quỳ sụp xuống trước bàn thờ. Loan biết chắc lòng Thiện lúc đó rất thanh thản như một kẻ đã tu thành chánh giác. Nếu không, chàng nhất định sẽ không tẩm xăng thiêu hủy xác thân mình. Nhất là chàng đã rất tỉnh táo để lại bức thư tuyệt mạng. Kỳ thực vẫn còn một điều có lẽ không quan trọng mấy, đó là nghìn năm sau câu chuyện tình của nàng với Thiện cũng không một ai biết đến. Loan muốn trả ơn sự đồng loã này với Thiện vì riêng chỉ nàng biết, chàng đã âm thầm chọn ngày nàng có mặt để được tiễn đưa người yêu lần cuối. Vả lại Loan nghĩ, thà cứ chôn giấu như thế để cái chết của Thiện được nhìn ngắm như một mặt trời rực rỡ. Nói ra ích lợi gì và có ai thèm tin nàng đâu.
Với mắt nhìn trần gian của Loan, Thiện vẫn là vầng mặt trời cao ngạo nhất. Thứ mặt trời mọc lên một tình yêu tinh khôi và vĩnh viễn soi sáng trái tim nàng, đầy bóng tối.
Nguyễn Thị Thanh Bình
-------------------
Nguồn: Văn, giai phẩm xuân Tân Mùi
Số 102-103, tháng 12-1990 và tháng 01-1991
Friday, November 18, 2016
TRĂNG MẬT BẾN SÔNG CẦU
Nguyễn Tấn Hưng
Đêm đã khuya, tiệc đã gần tàn. Hoàng nghĩ mình đãi bửa nay cũng không đến nỗi tệ lắm. Bạn bè có mặt đầy đủ. Mình không quý người ta ai quý mình. Cũng có lý. Ở cái thành phố nặng mùi thuốc lá này, Winston Salem, North Carolina, số gia đình Tar-Heel gốc Giao Chỉ của mình cũng không có mấy. Đếm đầu ngón tay. Số ít nhưng tình nhiều. Chiều thứ sáu mà không có điện thoại của bạn bè, thấy như thiếu một cái gì. Mình muốn quên hãng xưởng, quên làm lụng để thấy weekend còn dài. Chiều thứ bảy vẫn là những mục tiêu lớn. Và chiều chủ nhật là những gì còn sót lại, những gì khẩn cấp cần thiết, ngày mai còn phải đi làm. Ba chiều phải có một chiều, một chiều cho đồng hương, cho quê hương. Ba chiều có đủ ba chiều thì càng hay. Lắm khi liên tiếp ba chiều được Việt ngữ hoá, sáng thứ hai vào sở phát ngôn tiếng Mỹ đầu ngày như bị ngọng.
Buổi họp về việc tổ chức văn nghệ gây quỹ bửa nay cũng thành công. Còn dợt nhạc, còn gặp nhau dài dài...
- Anh cũng ở Sông Cầu nữa hả. Mà sao anh biết Nghề ở Sông Cầu?
Hoàng cũng không hiểu câu chuyện đầu đuôi ra sao mà bây giờ dẫn tới màn này, câu hỏi này. Hoàng trả lời đại:
- Thì nghe thằng Thành mới nói.
Nghề ra vẻ trầm ngâm suy nghĩ.
- Từ hồi qua Mỹ đến giờ em chưa bao giờ nói với ai là em ở Sông Cầu.
Hoàng cắt ngang:
- Sao vậy. Quê hương của mình mà, làm gì lại chối bỏ.
- Em chỉ muốn sống với quê hương cho riêng mình mà thôi. Hình như trên đất Mỹ này không còn ai biết Sông Cầu, cái quận xa xôi hẻo lánh miền Trung. Cả thằng Thành nữa, nó chỉ biết em ở đó thôi chứ nó đâu có biết Sông Cầu về cái gì đâu...
Mà anh còn nhớ trường trung học Sông Cầu ở hướng nào không?
- Nhớ cái gì. Anh chỉ nói sơ sơ ...từ chiếc tàu chìm trong vịnh, cái sân banh ngó vô dinh quận, những buổi chợ phiên có bạn hàng xuống từ trên núi, và những con heo nái dẫn con dạo phố cùng đường...là đủ diễn tả Sông Cầu, cần gì cái trường trung học.
- Trời đất ơi, vậy là anh rành quá rồi. Không ngờ em gặp lại anh.
Nghề đưa tay ra bắt tay Hoàng, xiết thật mạnh như tỏ lòng kính mến đàn anh. Hoàng lâng lâng thả hồn về một thời xa xưa, những ngày tháng nên thơ tại cái thành phố nhỏ nhoi miền biển này. Kỷ niệm như có đối tượng để được khơi lại, để được bộc phát, để được thấm thía một lần.
Hoàng bắt đầu kể chuyện.
***
Phục vụ trên Hải Vận Hạm 405 mới được hơn năm thì tôi được lệnh đổi lên bờ. Tôi là một trong những thằng cùng khoá bị đổi về bờ sớm nhất. Không khá được. Tất cả bạn bè đều còn ở hạm đội mà mình phải lên bờ. Lẻ loi, bơ vơ, lạc đàn. Thiệt tình lúc đó đang ở với ông hạm trưởng lé của tôi, hải quân Việt Nam duy nhất chỉ có một hạm trưởng lé, và tôi đang bị trù giống như thời tôi còn ở trong trường. Thuở đời nay, dưới tàu mà cũng bị cấm trại dài hạn, cho đến khi có lệnh mới. Nhưng tôi vẫn còn thích đi tàu, đi tàu như đi du lịch khỏi tốn tiền. Tàu cặp bến lúc nào cũng có bạn bè, vì chiếc nào cũng có bạn bè cùng khoá, pont cũng như cơ khí. Vả lại hồi xưa mình đâu có khí phách anh hùng, đâu có chọn tàu tuần dương miệt mài biển khơi, thì đâu gì phải lo. Tàu vận chuyển có hải hành nhiều lắm là bốn ngày bốn đêm liền, Sài Gòn- Đà Nẵng chẳng hạn, thì cũng cặp bến, có dịp ngắm nhìn người đẹp, có dịp say sưa.
Cầm cái công điện thuyên chuyển đã thấy bất mãn, mà lại thuyên chuyển về Tây Kết, Nha Trang, thì lại càng bất mãn hơn. Huấn luyện ở đó hai năm, hai năm tung tăng khắp phố phường, hang cùng ngõ hẻm đã nhàm chán rồi. Vậy mà bị đưa trả về đây. Lúc ra trường tất cả đã bàn giao cho khoá đàn em, cho con cái cháu chắt hết rồi, bây giờ đâu có đòi lại được. Hơn nữa tôi cũng sắp sửa hết còn độc thân, Lan và tôi đã làm lễ hỏi năm sáu tháng nay, sau chuyến chở hàng về Cần Thơ. Bởi vậy lúc vác sac marin vào Tây Kết tôi tự hứa không trở ra phố Nha Trang nữa. Rồi tôi được thảy xuống làm sĩ quan trực trung tâm hành quân. Chán chưa. Sĩ quan trưởng phiên trên tàu có lý hơn nhiều. Xung quanh mình còn có trời, mây, trăng, nước. Còn được ra lệnh, còn được làm hạm trưởng tạm thời. Trong "ca" có súp, hết "ca" có đồ nhai, sẵn trong carré sĩ quan. Trực trung tâm hành quân chỉ thấy bốn bức tường và khói thuốc. Lên "ca" mì gói, xuống "ca" vô câu lạc bộ và...cờ tướng, bi da. Cờ tướng và bi da như là nghề phụ của hầu hết sĩ quan trực trung tâm hành quân. Nhờ vậy tôi lại ăn chịu và quen thân với đại uý Biên, trưởng Phòng Một, một tay cầm cờ có hạng.
- Đại uý làm sao đưa tôi đi khỏi chỗ này. Tôi chán ở đây quá!
- Mày đi mất tay chơi sao? Còn mấy chỗ thiên hạ chê đó mày muốn đi thì đi. Deji, Sông Cầu chẳng hạn.
- Còn mấy duyên đoàn ở phía nam chi cha nội. Cam Ranh, Thanh Hải gì đó.
- Không dễ gì đổi vô đó đâu, tao đề nghị tư lệnh cũng bác, mày mới tới có mấy tháng.
Rốt cuộc rồi cũng có ngày tôi khăn gói lên đường đi Sông Cầu, Duyên Đoàn 23. Còn đỡ hơn Deji, Duyên Đoàn 21, duyên đoàn địa đầu Vùng 2 Duyên Hải.
Hồi ở đây ngày nào cũng mong đi, đến lúc đi lại thấy buồn buồn, tiếc tiếc. Chiếc fibro-ciment, loại ghe chỉ được chế tạo tại Hải Quân Công Xưởng Việt Nam, của duyên đoàn gửi về sửa chữa ở Cầu Đá đã xong và sẵn sàng chờ tôi tách bến. Ngày ra đi tôi đến từ giã đại uý Biên, ông ta còn gửi tôi một câu thòng:
- Hoàng, mày muốn được đổi về Sài Gòn không ? Nếu muốn thì ký tên vô đây để tao đề nghị mày về học tình báo. Ở đây cóc có tên nào chịu đi.
Tôi ký tên đại vào chỗ trống có đánh dấu. Đúng ra tôi chỉ muốn trở về Sài Gòn thôi. Học một khoá sáu tháng, mình như được đi phép sáu tháng, học một năm mình đi phép một năm. Chứ học tình báo thì tôi chưa biết có thích hay không. Chẳng lẽ lại đổi nghề à, nghề hải quân của mình nó cao đẹp nên thơ lắm, bỏ sao được. Thây kệ, tới đâu hay tới đó.
Tôi xuống ghe Duyên Đoàn 23 đi về Duyên Đoàn 23. Thủy thủ đoàn biết tôi mới đổi về đơn vị săn sóc tôi rất chu đáo, không như mấy đứa đoàn viên ở trung tâm hành quân, công việc ai nấy làm, mì gói ai nấy ăn, mình như quan không có lính.
Hai ngày một đêm thì ghe về đến bến. Vịnh Sông Cầu rộng lớn, sóng nước nhấp nhô trông như một mặt hồ hơn là mặt biển. Tôi ngạc nhiên thấy chiếc tàu chìm trong sông chứ tàu đâu chìm ngoài vịnh. Ống khói, cột cờ đài chỉ huy in bóng dài trong nắng chiều. Chỗ này như là chỗ đi câu lý tưởng, mà sao không thấy ghe tàu đánh cá, xứ gì lạ vậy. Tất cả như im lặng, không hoạt động.
Ghe cặp cầu, tôi ngạc nhiên thấy người đón tôi là trung uý Tám, em của thằng bạn cùng khoá, thằng Kiết. Tôi chào trung uý Tám, qua lại vài câu xã giao rồi lang thang theo hắn về trại. Duyên Đoàn nằm dọc theo Sông Cầu, từ cửa sông đổ ra vịnh có cái miếu thổ thần cho đến cây cầu sắt bắt ngang sông của quốc lộ 1. Một bãi cát dài chỉ thấy một nhà kho, và một nhà tiền chế trống trơn không có vách. Nhiều lô cốt phòng thủ vòng đai dọc theo bờ sông có kéo mấy lớp kẽm gai tròn.
Lội cát một khoảng đừ người mới đến câu lạc bộ, cư xá hạ sĩ quan và đoàn viên, rồi đến khu sĩ quan và cố vấn Mỹ. Tôi bỏ đồ đạc vào phòng rồi xuống câu lạc bộ sĩ quan, Hội Trùng Dương, một cái nhà sàn ngó ra dòng sông. Trung uý Định cùng khoá với ông Tám, khoá 15, làm chỉ huy phó. Ông Tuấn, cũng trung uý, khoá 14, làm chỉ huy trưởng. Ai cũng trung uý hết, chỉ có tôi là thiếu uý, khoá 17. Mà sao không có đại uý? Tôi đến đúng vào giờ cơm nên nhảy vô nhập tiệc luôn. Tất cả đều độc thân, chỉ có ông Định là có gia đình, vợ mới cưới, chưa con cái và có nhà riêng ở ngoài phố. Cơm nước xong xuôi còn lại tôi và ông Tám, ông nói nhỏ cho tôi biết chỉ huy trưởng của mình là em của một ông tướng ở Sài Gòn. Vậy sao, hèn chi ổng mới trung uý đã nắm chỉ huy trưởng rồi. Tôi thấy mình như Tôn Tẩn bắt được cây Hạnh Huỳnh Kỳ. Bảo đảm lần thuyên chuyển này sẽ không đến đỗi.
Sĩ quan ăn uống khỏi tốn tiền lại có đầu bếp giỏi, trung sĩ Ngô. Dọn đẹp phòng ốc, giường nệm và giặt ủi quần áo có hạ sĩ Nhánh. Còn đòi hỏi gì nữa. Tôi được chỉ định làm sĩ quan kỹ thuật, coi việc bảo trì sữa chữa máy móc tàu bè, kiêm sĩ quan chiến tranh chính trị, lo việc phát thực phẩm, áo quần cũ, thuốc men, quà tâm lý chiến nói chung cho dân nghèo.
Việc hành quân tuần tiễu do mấy ông lớn lo hết vì tôi chưa có kinh nghiệm chiến trường. Còn gì phải đòi hỏi. Cố vấn Mỹ có đại uý Pine, trung úy Alexander, và trung sĩ Mập, hắn ta mập và thích được kêu như vậy. Đại uý Pine và trung sĩ Mập nói tiếng Việt khá lắm. Biết chửi thề văng tục. Không biết ai dạy, thâu băng cho tụi nó, tối ngày cứ nghe tape, thực tập rồi phát ngôn bừa bãi, rồi cười.
Tôi ở được ba tuần, chân ướt chân ráo thì đến ngày xin phép về Mỹ Tho cưới vợ.
Ông bà già vợ nghe nói phải đi ra tận miền trung thì ngại lắm. Nhưng con gái lấy chồng thì phải theo chồng, đâu có cản được. Ngày ra đi bà giả khóc sướt mướt làm như tôi đưa con bà đi tới chỗ chó ăn đá gà ăn muối, làm công lên chuyện xuống gì nhọc nhằn lắm vậy. Tôi phải trấn an Lan vì Lan cũng chưa lần nào ra trung. Ngoài ấy sống được lắm em khỏi phải lo gì ráo trọi, tôi nói như thế. Đây cũng có lẽ là lần đầu tiên Lan có dịp đi Air Việt Nam. Đáp xuống phi trường Tuy Hoà xong, hai đứa tôi đón xe về Sông Cầu.
Đây cũng là dịp đầu tiên cho tôi được đi đường bộ vùng này, thường hải quân phải đi đường sông đường biển, nhưng mấy ai dẫn vợ đi tàu, vừa lâu vừa bất tiện. Đường miền trung lên đèo xuống vịnh, ngoằn ngoèo trong núi, mù tít trong rừng. Nhiều đoạn di chuyển thật chậm, theo toán rà mìn của lính Mỹ, lính Đại Hàn. Mệt mỏi rồi cũng đến nơi. Phòng ở độc thân của tôi thành phòng có gia đình. Cũng không sao, kéo thêm tấm rideau cho kín đáo một chút. Bên mặt là ông Tuấn, bên trái là ông Tám, ai cũng muốn giành căn bìa, hai đứa tôi phải ở căn giữa. Lan cũng nhảy vô carré sĩ quan ăn chùa, tạo thêm đề tài cho ông Tám, ông Tuấn. Bữa ăn nào cũng vậy, ít khi kết thúc sớm.
- Rồi, bữa nay ông Hoàng chọn ngồi phía này đặng để dễ dàng ngó qua phía đầu cầu bên kia rồi.
- Ngó qua bên đó rồi sao?
- Bà này làm bộ ngây thơ nữa. Bà không biết bên đó có cái quán nước hả. Cô chủ quán coi cũng được lắm nghe, hồi bà chưa ra cổ để ý ông Hoàng dữ lắm đó.
- Không biết để ý ông Hoàng hay ông Tám đây, cái gì cũng đổ cho ông Hoàng hết chắc có ngày nồi cơm bị bể.
- Chỉ huy trưởng nói vừa vừa thôi.
- Cái bà này hiền khô, tui chịu cái tánh bà bình dân. Người đẹp phải đẹp cả thể xác lẫn tâm hồn. Tui không ưa cái thứ son phấn ỏng ẹo.
Khỏi cần giải thích tụi tôi cũng biết ông Tám muốn nói xiên nói xỏ bà Định, và cũng có lẽ tại vì ông Định là bạn cùng khoá mà lại trên quyền. Cơm nước sẵn ngày ba bữa sáng trưa chiều, còn bữa tối đôi khi tụi tôi phải làm lấy khi trung sĩ Ngô không ở trong trại. Gà vịt thì nuôi sẵn bên chuồng, cá cua, tôm hùm thì rộng sẵn dưới sông muốn ăn lúc nào cũng có. Đặc biệt tôm hùm, mấy đứa có nghề lặn được giao nhiệm vụ đi bắt tôm hùm cho chỉ huy trưởng. Mỗi ngày. Vậy mà lớp ăn lớp cho cũng hết. Không lần nào về Nhà Trang họp mà ông Tuấn không mang theo tôm hùm. Tôm hùm vừa cỡ ăn mới ngon, nhiều con lớn quá, "tôm biết nói" bằng bắp đùi trở lên thì bị chê, không ai thèm ăn. Trung sĩ Ngô nấu mấy món ăn kiểu Tây thì hết sẩy, có điều ai cũng phàn nàn là bánh mì Sông Cầu sao mà cứng quá, hình như chỉ làm toàn bột gạo.
Vài tuần sau ông Định tổ chức đi biển. Hải quân tổ chức đi biển thì chỉ có đi đảo hoang, bãi hoang chưa người đặt chân tới. Vậy mới thú, vậy mới thần tiên tưởng như mình là chúa đảo. Rau sống bánh tráng làm sẵn ở nhà mang theo, bia lạnh đã vô thùng đá. Mấy thằng em thì quá rành với việc đánh cá bằng chất nổ, bởi vậy phải kiếm chỗ hoang vắng. Phải lựa bầy cá thật nhiều thật to mới làm một phát. Một trái lựu đạn MK3 là cá chết ngập mắc cá chân, cá đuôi đỏ. Xúc lên ghe vài thùng nướng liền tại chỗ, cá tươi ngọt làm sao! Lần này đi có thêm vợ chồng đại uý Be, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo binh, vợ chồng ông Thân, trưởng chi quan thuế.
Tháng sau ông Định bỗng nhiên được lệnh đổi về Nha Trang. Tôi mới tới, ông Định lại đổi đi, rồi sẽ có sĩ quan thay thế, hình như ở trong hải quân không ai được ở yên một chỗ. Ông Tám lên làm chỉ huy phó, tôi làm sĩ quan đệ tam tuy nhiên công việc của tôi cũng không có gì thay đổi, tôi cũng chưa có kinh nghiệm chiến trường. Vợ chồng ông Định đi, nhường lại vợ chồng tôi căn nhà ngoài phố. Tưởng là thuê là mướn gì ai dè cũng ở không. Cư xá của quan thuế, cư xá của ông bà Thân, một dãy nhà gạch năm căn. Nhân viên quan thuế không ai thiếu chỗ ở nên cư xá được nhường cho các quân binh chủng bạn, hải quân, cảnh sát, pháo binh...ông bà Thân ở cái nhà giữa lớn như cái dinh, có sân cờ, có cổng vào hẳn hòi. Đối diện với khu quan thuế bên kia đường là nhà của ông bà đại uý Be, Lan có thêm bạn để trò chuyện, đi qua đi lại cũng gần.
Lúc này vào dạo hè, dân miền núi hay xuống miền biển nghỉ mát. Cô Bộ, em bà Be cũng từ Kontum xuống Sông Cầu thăm chị, ở chơi vài tuần trước khi nhập học. Lan lại có thêm bạn bè nữa để trò chuyện. Ngang ngang tuổi, cô Bộ và Lan thân nhau ngay. Đặc biệt hơn, sau mấy lần tiệc tùng tại nhà ông bà Be, ông Tuấn lại có cảm tình với cô Bộ. Phen này anh chàng hết dám chọc mình rồi, chọc mình mình chọc lại. Nói vậy chứ ổng là chỉ huy trưởng của một đơn vị, chuyện tình cảm lúc nào cũng kín đáo, dè dặt. Ông Tuấn không bị chọc mà ông Tám lại bị kẹt làm đề tài:
- Ông Tuấn bây giờ có nơi có chỗ rồi, giờ chỉ còn mình ông thôi, kiếm một người nào gần đây, khỏi phải đi Tuy Hoà chi cho xa...Cô bán gạo dưới chợ coi cũng được lắm đó, trung uý.
- Thôi đi ông bà ơi, để tôi chịu khó đi xa một chút. Ở đây không được đâu, mang tiếng chết. Chỗ này nhỏ, có gì một chút thiên hạ đồn rùm beng lên, khó làm việc lắm.
- Rồi chừng nào cho ăn đám cưới đây. Lúc này thấy ông đi Tuy Hoà đều đều, đi hai ba bữa mới về.
- Đi như " đi giải độc " vậy thôi, vợ con gì, cưới hỏi gì.
Rồi cô Bộ và ông Tuấn càng lúc càng khắn khít. Nhanh thiệt. Cô Bộ muốn ông Tuấn về Kontum một lần cho biết nhà, biết gia đình. Nhưng chưa biết làm sao ngõ lời. Ngày về cũng gần, không thể bỏ lỡ dịp may. Rồi không biết ai đề nghị, cô Bộ và Lan về Kontum trước, ông Tuấn và tôi hai tuần nữa sẽ lên sau. Gặp lúc đi họp, ông Tuấn đưa cô Bộ và Lan đi Qui Nhơn ở một đêm rồi sáng hôm sau mới ra bến xe đò về Kontum. Tôi có bàn với Lan, đi như vậy em có làm cản trở tay chân người ta không. Lan bảo cô Bộ không muốn đi một mình với ông Tuấn, mà ông Tuấn cũng không muốn như vậy. Cũng được, mình có dịp đi phép về miền núi. Đến chừng đi họp về, ông Tuấn đổi ý không đi Kontum vì bận lo công vụ, nhiều kế hoạch hành quân mới của vùng vừa đưa ra, phải chuẩn bị thi hành. Sẽ có thêm sĩ quan bổ nhiệm về đây. Tôi phải đi Quy Nhơn rồi Kontum một mình để đón Lan về. Lần đầu tiên qua đèo An Khê, lần đầu tiên đi qua Pleiku, lầu tiên đến Kontum. Cũng may, ba của cô Bộ làm xếp ở văn phòng Air Việt Nam nên tôi cũng dễ tìm một chút. Cô Bộ cũng buồn, khóc, trách ông Tuấn quá chừng khi thấy tôi đến có một mình. Chẳng làm sao khác hơn. Lan và tôi được dịp đi thăm thành phố có cái nắng chang chang nhưng lạnh lạnh nầy. Còn nhớ chợ Kontum, còn nhớ dòng sông Đáp La, còn nhớ ký túc xá Bok Kiom, và còn nhớ những làng thượng và những mồ mả có hàng rào cây tạc hình đầu người. Rồi phút chia tay cũng đến, ai muốn gửi lời thăm, lời nhắn nhủ, lời dặn dò. Hẹn rồi sẽ có ngày gặp nhau. Hẹn rồi sẽ thư từ qua lại. Chúc tụng nhau những gì thật ân cần, thật tốt đẹp...Đến Quy Nhơn thì trời cũng về chiều. Còn chuyến xe lam cuối cùng về Sông Cầu. Tôi hỏi lại cho chắc:
- Liệu có về kịp không bác tài ?
- Kịp mà.
Không ngờ gặp chiếc xe chạy như rùa bò, chạy hoài không thấy tới đâu hết. Mặt trời chếch bóng, rồi mặt trời lặn. Vài ánh nắng chiếu thoi thóp. Không cách gì về kịp, phải chiếc xe khác thì chắc đã tới mất tiêu rồi. Hành khách đã xuống hết dọc đường, chỉ còn hai đứa tôi ngồi bó gối, chẳng biết làm gì hơn. Trời một lúc một tối thêm, xe bật đèn, chạy được một lúc thì ngừng lại cạnh cái quán cóc bên đường.
- Mời cô bác xuống xe.
- Sao vậy? Chưa tới mà.
- Không đi được nữa, đi đêm đoạn này nguy hiểm lắm. Ngủ lại đây.
- Ngủ chỗ này sao được, tụi này đâu có quen ai ở đây. Đây là đâu rồi?
- Tuy Luật Hoà.
Chưa từng nghe qua, chưa từng biết tới. Sao có chuyện này được, bác tài này ác vừa vừa thôi chứ. Tụi tôi chần chờ chưa chịu xuống, thì hắn ta tiếp luôn:
- Muốn đi theo tôi thì đi, ở đây thị tứ còn đỡ chứ theo tôi thì càng nguy hơn.
Chẳng lẽ thằng cha này là Việt Cộng nằm vùng, là giao liên thành phố cũng không chừng. Chúm được mình thì lập công to với bác và đảng rồi. Không được, tôi kéo Lan xuống xe, vào quán kêu nước uống nghỉ trước và hỏi thăm tình hình sau. Tuy Luật Hoà, Tuy Luật Hoà là đâu? Chiếc xe lam chạy theo quốc lộ 1 một đỗi rồi quẹo về phía biển mất dạng. Gặp thằng Mỹ làm hãng thầu RMK, hắn hiểu hoàn cảnh và mời hai đứa tôi về chỗ nó ở, ngủ qua đêm. Đâu có được, cũng đâu có tin thằng Mỹ này được. Cám ơn lòng tốt của nó, tôi còn Lan, còn vợ con phải bảo vệ. Phải nhờ bà chủ quán chỉ đường vô văn phòng xã. Khỏi phải lo, chờ một chút, chờ thằng Mỹ về, đóng cửa quán rồi đi luôn.
Từ quốc lộ vô xã cũng xa, băng qua mấy nhà kho của Mỹ và một đơn vị Đại Hàn. Tại văn phòng xã anh em Nhân Dân Tự Vệ súng ống hẳn hoi, đang tập họp để chuẩn bị phân toán đi canh, đi kích. Ai cũng từ chối khéo. Nước cùng tôi vọt miệng nói với người trưởng toán:
- Thôi, làm ơn cho tụi tui ngủ tại văn phòng xã này đi.
- Không được đâu, tôi khoá cửa và về ngay bây giờ. À, đâu để tôi dẫn chú em lại nhà thím Ba coi.
Bây giờ đi đâu cũng được, tới đâu tính tới đó, hy vọng gặp hên. Thêm một đỗi quanh quanh quẹo quẹo trong xóm, chúng tôi đến một dãy nhà lá cất rời nhau từng cái một, nhưng cái này khít khít cái kia như thiếu đất.
- Thím Ba ơi!
- Ai đó.
- Tui đây.
Nghe tiếng người quen thím Ba mở cửa, cánh cửa bằng lá được đẩy lên trần, cửa mở như kiểu mở cửa garage. Người đàn ông phân trần hoàn cảnh thay cho hai đứa tôi. Thím Ba hiểu ý trả lời:
- Cũng được.
Ngọn đèn dầu không đủ sáng, leo loét soi mờ khắp căn nhà như có một phòng. Phòng khách có cái bàn và mấy cái ghế, phòng ngủ có cái giường phía bên kia, phòng ăn nhà bếp thì cũng có mấy ông táo nằm đó. Vậy rồi phòng khách đâu, mình ngủ ở đâu. Thím Ba chỉ cho cái ghế bố để dựa bên vách. Mới bước vào nhà là đã nghe mùi đàn bà đẻ rồi nhưng chưa dám chắc, đến lúc thấy bộ đi đứng của thím Ba như học trò lễ mới biết là mới sanh, non ngày non tháng. Tôi nhảy lại bê cái ghế bố trải ra gọn gàng như của mình. Cái ghế bố nặng quá chừng mà không thấy gì mệt nhọc. Thím Ba lấy đưa cho tôi một cái mền rồi chun vô mùng với đứa nhỏ chẳng nói tiếng nào.
- Chị muốn tắt đèn hay để đèn.
- Chú muốn tắt cũng được.
Đàn bà ở một mình, chắc thím Ba để đèn sáng đêm, bữa nay có khách khỏi phải lo. Tôi thổi đèn, bóng đêm chợt phủ trùm, đen như mực. Mò mẫm lại ghế bố nằm, tôi tung mền đắp bít chân bít đầu cho cả hai. Tôi biết Lan muốn trách tôi tại sao không ở lại đêm ở Qui Nhơn để khỏi phải gặp cảnh trắc trở như vầy, nhưng nàng không nói được. Bây giờ phải im lặng và ngủ thôi, làm ồn ào con thím Ba thức thì lại càng không ổn. Nói vậy mà nửa đêm thức giấc hai đứa thì thào và làm đủ trò trong chăn mà chẳng thấy thằng nhỏ giật mình.
Tờ mờ sáng thức dậy, không cần đánh răng rửa mặt, cám ơn thím Ba rối rít đặng đi về. Thím Ba cũng ừ hử ở trong mùng mà không thèm bước xuống đất. Cửa không khoá, mở lên xập xuống là hai đứa đã bước vào với thiên nhiên, không khí trong lành của buổi sáng. Cứ theo con đường duy nhất của xóm mà đi thì gặp đường cái, rồi theo đường cái ra quốc lộ 1. Bây giờ mới có dịp nhìn lại cảnh vật hai bên đường đêm rồi mình đã đi qua. Tất cả như khác lạ. Ra đến quán thì thấy mấy chiếc xe lam chạy sớm đã đậu thành hàng. Chỗ này lại là bến xe. Hai đứa nhảy lên chiếc đậu đằng trước. Bác tài chờ khoảng mười phút không thấy ai nữa thì rồ máy chạy. Không ngờ từ Luật Tuy Hoà xuống Sông Cầu đâu có xa, gặp chiếc xe chạy như gió. Về ngang duyên đoàn chưa đến tám giờ, chưa đến giờ làm việc, Lan và tôi về nhà tiếp tục ngủ. Chuyện " báo cáo tình hình Kontum" cho ông Tuấn hạ hồi phân giải, thiếu chút nữa bị thiên hạ bắt cóc rồi.
Một tháng sau chuẩn uý Tâm đổi tới đơn vị. Tâm còn trẻ, ít nói, lại không ưa hải quân, bảo là bị hải quân bạc đãi. Từ Thủ Đức chuyển sang, không được mang danh hiệu hải quân trung uý, hải quân thiếu uý như các sĩ quan xuất thân từ trường hải quân, mà gọi là chuẩn uý chiến binh. Tôi có trách nhiệm hướng dẫn và bàn giao chức vụ sĩ quan kỹ thuật và chiến tranh chính trị cho Tâm.
Tôi làm một lần phát quà lớn và dẫn Tâm đi theo. Khu phát quà nằm dưới miệt Gành Đỏ, khu nổi tiếng có nhiều Việt Cộng. Nhân viên Ban Hai cũng thừa cơ hội này đi theo để dò la tin tức. Sĩ quan có trung uý Alexander, Tâm, và tôi, hạ sĩ quan có trung sĩ nhất Dương, phụ tá ban chiến tranh chính trị, trung sĩ Ninh y tá, và một số thủy thủ đoàn.
Quà cáp chuyến này mang theo gấp đôi số lượng. Tất cả dồn lên chiếc "chủ lực" , loại ghe lớn của hải quân. Vừa vào vịnh đã thấy một bãi cát thật dài, rồi cát và rau muống biển xen lẫn nhau trông như một đồng cỏ xanh bao là, xa tít. Đến bìa rừng mới có tàn cây bóng mát, có lẽ vì vậy mà không ai cất nhà ngoài bãi trống này. Dương và tôi đến trụ ấp trước tiên, một ngôi nhà lá lụp xụp vừng ba phía vách để trống mặt tiền, bên trong kê một cái bàn và mấy cái ghế lỏng chỏng. Nhân viên Ban Hai mới lên đã phân tán mỏng vào xóm, hình như tụi nó đã từng ăn dầm nằm dề ở đây. Đường ngang đường dọc, hẻm hóc chằng chịt trong buội lá rừng cây.
Dân chúng tề tựu về trụ sở ấp càng lúc càng đông. Quà tâm lý chiến cất lên xong thì ông trưởng ấp cũng chỉ thị ông "tà la", mang ống loa đi phát động khắp vùng. Ông tà la đi theo đường mòn lên xóm trên, vừa khuất dạng được một lúc thì nghe một loạt đạn nổ, tôi hỏi:
- Cái gì vậy Dương, ai nổ súng mà chưa có lệnh vậy?
- Dạ, chắc không có gì lạ đâu.
- AK nổ đó thiếu uý, không phải mấy thằng em mình đâu.
Tôi cũng chưa rõ tiếng súng AK khác với tiếng súng M16 của mình ra sao. Chưa nghe loạt thứ hai, chưa biết được, tôi bảo:
- Sao chỗ này kỳ vậy Dương. Anh kêu gọi anh em tập họp hết về đây cho tôi ngay.
Nhìn đi nhìn lại chỉ có Dương, Ninh, và ba thủy thủ lẫn lộn trong đám dân, còn bao nhiêu đi đâu mất hết. Tôi có linh tính như đi chuyến này không yên. Hai lần trước phát quà vùng Từ Nham, Cù Mông thật là tốt đẹp. Xong việc rồi còn tiệc tùng với dân trong ấp. Còn nhớ món gỏi cá đặc biệt, những ngôi nhà xây bằng đá ong và người dân hiền lành chất phác...
Ông tà la chạy như chạy cà nhắc trở về trụ sở ấp, không phải chân mà tay, cánh tay trái ôm cánh tay phải xụi lơ, không cử động. Máu me thắm đỏ lằn vải đen, nhăn nhó:
- Du kích về nữa rồi, tôi bị bắn sẻ.
Ninh để ông tà la ngồi xuống ghế, băng bó vết thương, đạn đi giữa bắp tay trên, chắc trúng xương. Mấy thằng em nghe tiếng nổ cũng đã tự động quy tụ về, M16 lên đạn nghe lách cách. Tôi cũng rút khẩu Colt 45 lên đạn.
- Còn chuẩn uý Tâm và trung uý Mỹ đâu?
- Chưa thấy lên, chắc đang đi giữa đường.
- Dương, kêu anh em rút ra bãi thôi. Mình không rành địa thế, ở đây bất lợi.
- Thiếu uý đi trước, tôi cho tụi nó sắp xếp đồ đạc rồi tôi đi sau.
Ông tà la, Ninh, và vài ba đứa nữa theo tôi, còn phần đông ở lại với Dương. Gần đến bãi mới gặp Tâm và Alexander. Alexander thấy ông tà la bị thương, mặt mày tái dần. Hắn im lặng rút khẩu Colt 45 lên đạn sẵn rồi để vô bao trở lại. Tôi yêu cầu nó gọi trực thăng tải thương. Nó làm nhiệm vụ và cho biết trực thăng sẽ đến trong vòng hai mươi phút. Bây giờ mình phải chọn bãi đáp và bảo vệ bãi đáp. Bãi cát trống này đáp đâu chẳng được, tầm đạn Việt Cộng trong bìa rừng cũng bắn không tới. Chuyện này dễ. Ông tà la được để lên băng ca lúc nào tôi không hay, sắc mặt biến đổi, mất hết thần khí. Dương và đám nhân viên còn lại khệ nệ khiêng mấy bao bột mì, mấy bành quần áo cũ trở ra bãi. Tôi cằn nhằn:
- Bỏ cha nó trong đó cho rồi, khiêng tới khiêng lui chi cho mệt.
- Để dành cho chuyến tới thiếu uý, khỏi phải báo cáo tổn thất.
Tôi kêu Dương sắp xếp nhân viên làm vòng đai phòng thủ cho bãi đáp. Hơn hai mươi phút rồi không thấy máy bay. Alexander check lại mới biết hai mươi phút nữa, tình trạng này chỉ nằm ưu tiên hai. Hai mươi phút nữa rồi cũng đến. Khói màu thả lên làm hiệu. Trực thăng lượn một Voòng rồi đáp xuống, băng ca đưa vào, bốc lên bay đi lập tức. Trong khoảnh khắc dồn dập này tôi bất thần nhìn ra biển thấy ghe duyên đoàn xuất hiện chạy ào ào vào vịnh, một chiếc, hai chiếc, năm chiếc. Rồi hình như cả hải đội của duyên đoàn. Sao có chuyện gì kỳ lạ vậy. Phút chốc đoàn chiến đỉnh vào tới nơi. Quan, lính nhảy xuống nước, súng dơ ngang đỉnh đầu lội vào, đổ bộ. Đổ bộ như trong phim The longest Day. Tôi lội ra tiếp ông Tuấn và đại uý Pine.
- Sao commandant xuống đây?
- Thì chuẩn uý Tâm báo cáo anh đang đụng Việt Cộng, đang kẹt giữa đường, tiến vô đất liền không được mà rút ra bãi cũng không xong.
Bây giờ tôi mới để ý là không thấy chuẩn uý Tâm ở đâu hết. Không ngờ nó lội ra ghe còn lên máy báo cáo bậy bạ. Đến giờ cũng chưa thấy ló đầu ra. Tôi giận:
- Tôi đâu có ra lệnh cho nó làm cái gì đâu. Cái thằng ..này.
Tôi tường thuật mọi sự cho ông Tuấn, chuyện cũng chẳng có gì là quan trọng. Ông Tuấn cũng đã hiểu rồi, thằng Tâm đã báo cáo lại nhưng lỡ đi rồi nên xuống đây luôn. Đại uý Pine, trước khi đi lại tiếp chuyện với Alexander, rồi đến bắt tay tôi mĩm cười:
- Đây là một kinh nghiệm tốt cho thiếu uý.
Tôi mím môi gật đầu, gật đầu.
Chuẩn uý Tâm bắt đầu đảm nhiệm chức vụ sĩ quan kỹ thuật và chiến tranh chính trị, còn tôi bắt đầu tham gia vấn đề hành quân tuần tiễu. Một vài lần kích đêm trong vịnh khi có tin tình báo cho biết Việt Cộng bè vũ khí từ biển lên núi. Đại uý Pine cũng thích đi kích với tôi, hắn lại thích trực ca khuya để nhìn starlight-scope, vũ khí mới, mới trang bị cho duyên đoàn. Chưa có lần nào tôi bắt được bè.
Phần hành quân của tôi không gì trở ngại lắm, chỉ thỉnh thoảng bỏ Lan ngủ một mình. Nhưng phần chiến tranh chính trị của Tâm thì không ổn chút nào. Chuyện gì thằng Dương cũng lên báo cáo với tôi mà coi chuẩn uý Tâm như không có. Tôi rầy hoài cũng vậy. Tôi như đứng giữa giải thích cho hai đứa biết thế nào là truyền thống, là trách nhiệm bổn phận. Và có lần tôi đề nghị với ông Tuấn cho hai đứa làm hai ngành khác nhau. Ông Tuấn nói để coi lại, rồi chần chờ cũng chưa có gì thay đổi.
Cho đến tối Thanksgiving, trong lúc ông Tuấn và đại uý Pine đi họp, ông Tám đi chơi ở Tuy Hoà, Lan và tôi trên đường vào trại vì tình hình lúc rày hơi động, không dám ngủ ngoài. Vừa bước ngang cửa câu lạc bộ hạ sĩ quan và đoàn viên thì nghe mấy tiếng súng nổ chát chúa bên trong. Tôi bảo Lan về phòng trước để tôi bước vào xem sao. Thằng Tâm bắn thằng Dương, có ba phát trúng vô người. Một vô bụng, một vô bắp đùi, và một vô bắp chân. Dễ sợ chưa. Thẳng Tâm chạy biến đâu mất, đám hạ sĩ quan nóng lòng bạn, đòi kiếm thằng Tâm trả thù. Tôi hết hồn kêu ông thượng sĩ quản đội trưởng tập họp tất cả nhân viên ra tuốt ngoài nhà tiền chế chờ lệnh. Vợ thằng Dương và mấy bà trong cư xá hạ sĩ quan túa ra, lớp khóc, lớp la, lớp chửi. Alexander có mặt tại đó chạy đi kêu trực thăng.
Tôi hỏi Ninh câu chuyện đầu đuôi ra sao, Ninh trả lời:
- Tụi tôi đang nhậu thì chuẩn uý Tâm và trung uý Mỹ đến cho biết sẽ chiếu phim cho anh chị em coi. Thằng Dương phản đối chuẩn uý Tâm nói đi chỗ khác chiếu phim, chỗ này là chỗ nhậu. Tắt đèn đổ rượu vào lổ mũi sao. Chuẩn uý Tâm bỏ đi, không ngờ một lúc sau ổng trở lại với cây Colt và bảo thằng Dương, tôi ra lệnh cho anh đi chỗ khác nhậu, chỗ này là chỗ chiếu phim. Thằng Dương đứng dậy nói, chuẩn uý muốn bắn tôi hả, rồi dang hai tay banh ngực, nè chuẩn uý bắn tôi đi. Chuẩn uý Tâm lên đạn nói, anh bước thêm một bước nữa là tôi bắn. Thằng Dương bước tới là ổng bắn.
Tôi bước lại băng ca kéo mền coi vết thương rồi đắp lại cho Dương. Máu ra nhiều quá, Dương run rẩy thì thào:
- Tôi lạnh quá thiếu uý.
Trực thăng tới tức thì và anh em phụ đưa băng ca ra ngay. Vợ thằng Dương trao thằng nhỏ trên tay cho bà đứng kế bên, leo lên trực thăng theo chồng. Viên đạn vô bụng thấp quá, sợ trúng bọng đái, khó sống.
Tôi trở về khu sĩ quan tìm thằng Tâm, chẳng thấy nó trong phòng. Chạy qua khu cố vấn Mỹ thấy nó trong phòng trung sĩ Mập. Tôi chưa có câu nào thuận tiện để nói. Tôi im lặng thì Tâm mở lời:
- Thiếu uý, tôi không hiểu làm sao tôi lại hành động ngu dại như vậy. Cuộc đời tôi coi như đã tàn.
Chuyện lỡ xảy ra rồi, không thể kéo lại được. Hãy nghĩ chuyện sắp đến thôi. Hy vọng thằng Dương không sao. Mình lo trấn an tụi lính và chờ chỉ huy trưởng về mới tính được.
Tâm bỗng nhiên nhảy lại chụp cây M16 treo trên vách ôm vào lòng. Tôi vọt miệng:
- Tâm, anh làm gì vậy ?
- Tôi phải có cây súng mới được, thiếu uý. Tôi phải bảo vệ tôi.
- Anh ở đây là an toàn rồi. Tôi không để ai hại anh đâu.
Trung sĩ Mập tiến lại từ tốn:
- Đưa nó cho tôi, làm ơn.
Tâm biết mình không thể giữ súng của người khác được, trù trừ một lúc rồi đưa súng cho thằng Mập, rồi ôm mặt khóc. Cũng may lúc đó ông Tám ở đâu bang bang về. Tôi mừng hết sức, nói cho ông biết sơ sơ câu chuyện và điều quan trọng là đám lính vẫn còn tập họp ngoài nhà tiền chế.
- Được rồi, để tôi lo.
Đêm đó ai cũng ngủ một đêm phập phồng. Sáng sớm hôm sau ông Tuấn và đại uý Pine về đơn vị. Tôi để ông Tám báo cáo hết mọi việc xảy ra. Tôi chuẩn bị đi Qui Nhơn thăm thằng Dương. Không ngờ nó còn sống, còn nói đùa với tôi vài câu. Bác sĩ giải phẩu cũng lẹ, chai nước biển vẫn còn treo, dây nhợ chằng chịt. Tôi mừng cho nó, cho gia đình vợ con nó. Tôi bảo tôi sẽ còn ra thăm nó nữa và tôi phải trở về Sông Cầu trong ngày.
Tôi lại đi thăm thằng Tâm, đang bị nhốt ở nhà giam của ban quân cảnh tư pháp. Tôi cho nó biết thằng Dương chưa chết. Nó nhắn tôi làm sao cho gia đình nó hay và biên cho tôi địa chỉ ở khu Hàng Xanh, Gia Định. Tôi hứa tôi sẽ làm điều này cho nó.
Tuần sau, thêm một vụ làm chấn động dư luận nữa. Một nhân viên của duyên đoàn đi ngủ đêm với gái điếm, không hiểu vì tư thù hay vì Việt Cộng, bị ném lựu đạn vô phòng nổ banh xác. Đâu ngờ cái quận lỵ nhỏ nhoi này cũng có gái điếm. Rồi vợ con nó từ Sài Gòn cơm ghe bè bạn ra hốt xương chồng, khóc kể đủ điều. Ông Tuấn cũng rầu thúi ruột.
Hai vụ khủng hoảng liên tiếp làm tinh thần binh sĩ trong duyên đoàn xuống dốc. Đi đâu cũng thấy tụm năm tụm ba bàn tán, không ai muốn làm việc. Cái thời vàng son như đã qua, những ngày êm đềm như đã mất. Ông Tuấn có ý định xin đổi đi chỗ khác. Nhưng tôi lại đi trước ông Tuấn, tôi có lệnh đổi về trường Cây Mai học lớp tình báo. Tôi mừng, Lan cũng mừng. Mình ra đi cũng vừa đúng lúc.
Tiệc tiễn đưa tụi tôi cũng đủ mặt bạn bè. Ai cũng chúc may mắn, thành công. Còn nhớ ông Tuấn cho tiền mua vé máy bay, ông bà Thân cho ba cái áo len, một cho Lan, một cho tôi, và một cho đứa bé trong bụng. Lan có bầu ba tháng. Ngày đi Lan và tôi còn ra Miếu Thổ Thần cúng vái giã từ, cũng như hồi tụi tôi mới tới. Cầu nguyện cho Duyên Đoàn, cho những người ở lại được bình yên.
Hai đứa đi xe đò về Nha Trang rồi mới đáp Air Việt Nam về Sài Gòn. Phải cho Lan biết Nha Trang, nơi mà hầu hết sĩ quan hải quân truyền thống đã được đào tạo. Cứ nghĩ như không còn dịp nào để trở lại miền trung. Mà thật đúng như vậy. Mấy năm trước 75 còn gặp thiếu tá Tuấn, cũng còn độc thân, đổi về làm trưởng phòng Tâm Lý Chiến ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Rồi nghe đâu ông đổi về làm chỉ huy trưởng "chấm" một Task-Force thuộc lực lượng trung ương, trong vùng Tuyên Nhơn, Đồng Tháp Mười. Còn gặp vợ chồng đại uý Định và ba bốn con nhỏ ở Bình Thủy, Cần Thơ trên đường thuyên chuyển về lực lượng thủy bộ, Năm Căn, Cà Mau. Còn gặp lại ông Tám, một nhóc tì và vợ mang bụng bầu ở trại Fort Chaffee, Arkansas. Có lẽ không bao giờ gặp lại thằng Tâm, cô Bộ, ông bà Be, ông bà Thân. Cũng không bao giờ gặp lại đám cố vấn Mỹ...
Cho Lan, cho tôi, sáu tháng Sông Cầu như hai mươi bốn tuần trăng mật. Tình nào đẹp cho bằng tình mới cưới...
***
- Đáng lý ra em phải gọi anh bằng chú, ba em, ông Thân như anh kể đó, bây giờ sa sút lắm rồi. Ba em phải xuống ghe đi đánh cá mà sống qua ngày.
Hoàng nhìn Nghề, trố mắt, con của ông bà Thân ? Không lẽ thằng nhóc chạy lững cững đó bây giờ lớn như vầy. Hoàng chợt nói như đang mơ:
- Phải thật em là con của anh chị Thân không ? Ở Sông Cầu chỉ có một ông Thân quan thuế thôi.
- Ba em đó.
- Có hai đứa con, một trai một gái.
- Bốn đứa lận, hai trai hai gái. Hai đứa nữa chắc anh không biết đâu.
Chuông điện thoại bỗng reo vang. Nghề vội vã tiếp:
- Vợ em kêu nữa rồi. Anh nói là em mới rời đây chừng năm phút. Thôi em về, dịp nào em sẽ mời anh chị lại nhà chơi. Trời, bốn giờ sáng rồi.
Nguyễn Tấn Hưng
1988
-----------------
Nguồn: Văn
Số 71, tháng 5-1988
Friday, October 28, 2016
NGỌC AN
Nguyễn Thị Ngọc Lan
Chuyện của em bắt đầu từ một mùa Thu nào đó rất xa xôi, mùa Thu, tôi nhớ rõ ràng, vì đó là mùa nhập học em bắt đầu vào Đệ Thất.
Tôi dạy môn Pháp Văn cho lớp em, em ngồi bàn đầu ngay cửa ra vào cho nên thỉnh thoảng tôi vẫn sai em xuống văn phòng xin thêm phấn, giặt khăn lau bảng, em có vẻ hớn hở, hãnh diện được thầy sai.
Ở bàn cuối bên - nam sinh có bốn cậu, bốn ông tướng, có vẻ phá phách nghịch ngợm nhất lớp, cho nên tôi phải ra lệnh giải tán bốn cậu lên bàn trên, ngồi xen lẫn vào bàn con gái. Có ba cậu ngượng ngập xấu hổ, nhưng có một cậu bé choắt nhất đám, nhanh nhẹn chạy về phía bàn của em, dùng cùi tay ra dấu em xích vào và ngồi vào chỗ của em. Hai người cười hớn hở với nhau và bắt đầu nói chuyện. Tưởng cho các cậu bị giam bên cạnh các cô thì sẽ hết nghịch ngợm đùa giỡn, nhưng thấy em và cậu bạn tương đắc hớn hở nói chuyện tôi biết mình đã lầm. Một cậu nghịch ngợm và một cô hay nói, xáp lại với nhau, thế nào cũng bày trò phá phách hay rúc rích nói chuyện, chứ chả lo học hành gì đâu, nhưng lỡ rồi, thôi kệ. Tôi chỉ dọa hờ một câu: "Hễ ngồi đó mà các cậu còn nghịch nữa, tôi sẽ cho mỗi người một "góc". Cậu bạn của em hơi ngán, làm bộ nghiêm trang cúi xuống tô tô sửa sửa lên trang giấy.
Và như thế những giờ Pháp Văn trôi qua trong êm đềm thân ái, chắc em không biết được tôi yêu các em chừng nào. Thực tình từ ngày ra trường đến giờ, tôi chỉ dạy môn Pháp Văn cho các lớp đệ nhị cấp, tôi chỉ tiếp xúc với các cô cậu lớn hơn, ở lứa tuổi đó các cô cậu đã biết làm dáng, đã biết e thẹn, dầu vẫn ngây thơ thứ ngây thơ của tuổi bắt đầu lớn, không còn cái thơ dại, ngây ngô như em.
Những giờ ra chơi, tôi thích ngồi lại lớp chấm bài, để nhìn các em chơi đùa với nhau, hay trò chuyện với các em. Các em thường là các cô xúm quanh bàn tôi, dành nhau kể cho tôi nghe chuyện này chuyện nọ, có khi các cô mè nheo xin xỏ.
- Mai thầy ra bài kiểm soát dễ thôi nhe thầy!
- Từ nay thầy cho học mười chữ vocabulaire thôi nhe thầy, hai mươi chữ nhiều quá!
- Bài tập tuần trước thầy cho mỗi đứa thêm hai điểm nhe thầy.
Thấy tôi dễ dãi, có nhiều cô đề nghị táo bạo hơn:
- Từ nay thầy cho ăn quà vặt trong lớp đi thầy, thầy nghĩ coi trời mưa lâm râm vừa ăn bắp rang, cóc, xoài chùm ruột vừa học, mau tấn tới biết chừng nào.
Tôi cười, xoa đầu các cô:
- Ăn trong lớp thì không được, nhưng mỗi tuần cô cậu nào học đủ một trăm chữ vocabulaire, cuối tuần tới nhà tôi, tôi đãi ăn đủ thứ.
Các cô la ó, em phản đối mãnh liệt.
- Một trăm chữ nhiều quá, hai mươi chữ thì được, hai mươi thôi nhe thầy.
Chuông vào lớp vừa reng, tôi vừa cười vừa nói vừa bước ra khỏi lớp.
- Một trăm chữ không kèo nài thêm bớt.
Tiếng cười la ó đuổi theo tôi ra tận hành lang.
Tôi vẫn nhớ em có một loạt áo đầm giống nhau, nhưng đủ màu, kiểu áo đầm cổ vuông, một hàng nút cài từ trên xuống dưới ngay ở giữa, ở vạt áo đầm có in những hình thù ngộ nghĩnh, củ cà rốt đội mũ thắt nơ, củ khoai tây có tay có chân kéo một chiếc xe hai bánh, trên xe có những con gấu đủ màu, những con mèo, con cáo, con chồn cầm tay nhau khiêu vũ. Hình như tôi rất ít khi thấy em đi, em thường chạy lúp xúp, hay nhảy chân sáo, làm những con chồn, con gấu, củ cà rốt củ khoai nơi tay áo cũng nhún nhảy theo bước chân em. Những khi nói chuyện với tôi hay với bạn bè, miệng em tươi như đang cười, đôi khi thích chí em cười vang làm hai lúm đồng tiền hai bên má lún sâu. Có lần giờ ra chơi em không xúm lại trên bàn tôi nữa, mà em theo đám bạn chơi ù mọi.
Tôi không hiểu trò chơi ra sao, nhưng bất chợt nhìn ra sân thấy những cô cậu phe bên kia nhào vô ôm em, em vùng vẫy, và nguyên một dãy nút trên áo em bung ra hết, em la lên "khoan, để tao cài nút lại đã" em nhẩn nha cài từng hột nút, cậu Ngọc, bạn em, coi bộ sốt ruột vì sắp hết giờ ra chơi nên phải nhào tới phụ em cài cho xong dãy nút mấy chục hột. Cả thân thể em bày phơi ra nhưng em không một chút mắc cở, em chưa có ngực có eo, phải rồi em còn bé quá nên chưa biết xấu hổ, em ngây thơ như một thiên thần.
Ôi tôi yêu em, yêu các em làm sao! Tôi rất ghét những người bạn đồng nghiệp của tôi đánh học trò, làm sao họ có thể nhẫn tâm làm đau một thân thể non nớt dễ thương như thế, và tôi nguyện tôi sẽ không bao giờ đánh học trò của tôi, thế mà, trời ạ! Có một lần tôi đã đánh một thước kẻ lên bàn tay múp rụp của cô học trò tôi, cô bạn của em, tên Hạnh, vì tôi đã phát cáu khi một bài văn phạm tôi giảng đến lần thứ ba mà Hạnh vẫn làm sai. Thước kẻ của tôi giáng xuống, một vết bầm dài trên lưng bàn tay bạn em nổi lên rướm máu, và tôi xót xa hối hận ngay tức khắc. Cô bạn em về chỗ thút thít khóc. Tôi buồn rầu bỏ lớp đi ra ngoài mua một gói kẹo, giờ ra chơi gọi Hạnh lên bàn cho gói kẹo, dịu dàng giảng bài một lần nữa rồi thoa dầu cho Hạnh hỏi "Thầy đánh Hạnh có đau không ?" Cô bạn em cười tươi lắc đầu " Không, con không đau".
Một thước kẻ của tôi in hằn một vết đỏ bầm lên bàn tay múp rụp của Hạnh, bạn em, chỉ làm Hạnh đau mấy phút rồi lại cười tươi với tôi, nhưng một trừng phạt của tôi đã làm em đau đớn mất mấy ngày, và em đã giận tôi mấy tuần lễ. Lần đó giờ văn phạm, tôi đang dạy về verbe avoir, tôi đọc qua rồi cả lớp đọc lại. Chỉ riêng em không chịu đọc, đầu em cúi xuống và hai tay để dưới hộc bàn, say sưa làm một việc gì đó. Tôi hơi giận, lớn tiếng: "An, đứng dậy đọc". Tôi chỉ vào chữ đầu tiên, em ngượng nghịu đứng yên. Cậu Ngọc bạn em vờ đưa tay che miệng nhắc. Tôi chỉ tiếp chữ khác, miệng Ngọc lại nhóp nhép. Tôi ném một cái nhìn nghiêm nghị về cậu Ngọc, Ngọc khoanh tay ngồi yên, và em cũng im luôn. Tôi lại giận dữ lớn tiếng: "Đang làm gì dưới hộc bàn đem lên tôi xem". Em ngượng ngập xấu hổ, đem lên trình tôi một cái kéo con, và một hình con gấu bông đang cắt dở từ miếng giấy nhản hiệu của một búp len. Tôi quát lên: "Quỳ vào góc tường cho tôi, lần sau không được chơi trong giờ học".
Em quỳ xuống góc tường, và tôi chợt thấy ray rức khi nhìn thấy bờ vai em rung lên theo những dòng nước mắt. Đến giờ chép bài, tôi cho em về chỗ. Em vẫn ngồi cúi đầu khóc. Những giọt nước mắt của em nhạt nhoà cả trang vỡ. Giờ ra chơi, cả lớp ùa ra ngoài em vẫn ngồi khóc, cậu Ngọc bạn em ngồi thẩn thờ buồn thiu sau lưng.
Tôi ân hận biết mấy, tôi muốn đến dỗ dành em quá đỗi, nhưng tôi thấy chưa tiện, nên thôi, chỉ đến trả cho em cái kéo con, và tôi giữ lại con gấu bằng giấy, làm ra vẽ như giữ một tang vật để phạt em, nhưng thực ra...tôi đã bất chợt thấy yêu con gấu bé nhỏ ấy.
Trong khi cả lớp ngồi chép bài, em ngồi khóc, và tôi ngồi ray rứt ngắm con gấu bằng giấy, con gấu màu hồng, chỉ bé bằng ngón tay cái của em, đang tươi cười ngây thơ nhìn tôi, phải rồi, tôi tưởng tượng ra câu chuyện; Buổi sáng vào lớp cô bạn nào đó, hay cậu Ngọc bạn em không chừng, đã cho em miếng giấy nhản hiệu có hình con gấu con, con gấu hồng bé bé xinh xinh, tươi cười nhìn em, em chợt thấy dào dạt yêu thương con gấu đến độ không dằn được chờ về tới nhà, em đã cắt con gấu ra khỏi tờ giấy ngay trong giờ học của tôi để bỏ vào bìa quyển vở nhìn cho đã mắt. Em chỉ vì yêu con gấu quá đỗi mà tôi phạt em. Tôi cũng không biết hình phạt của tôi có nặng nề quá không mà em đã tủi hờn xấu hổ đến như thế.
Qua tuần lễ sau, tới giờ Pháp Văn của tôi, tôi giảng bài chấm bài mà vẫn để ý nhìn em. Em ngồi yên lặng lẽ, không quay qua bên này bên kia nói cười vài câu, chồm lui bàn sau mượn cục gôm cây thước kẻ. Không rúc rích cười, không nhai nhóp nhép cây kẹo hay hột ô mai. Em ngồi như một người lớn, và tôi bỗng thấy buồn.
Đến chiều thứ Tư lại có giờ của tôi, trời mưa dầm và em đi học trễ, em che chiếc dù đen to tướng, chắc là của ba hay của ông em. Đến giờ cả lớp làm bài tập, tôi chắp tay đi lui đi tới, đi ngang qua em, tôi lên tiếng đùa để làm hoà. "Chà ! trong lớp mình cụ già nào có cây dù đen đẹp quá nhỉ?" Cả lớp cười ồ, em vẫn cúi đầu viết nhất định không cười. Em giận tôi. Đến ba bốn tuần lễ sau đã thấy em cười nói lại với bạn bè nhưng nhất định không nói với tôi một câu. Giờ ra chơi em không còn lên bàn tôi chuyện vãn hay mè nheo xin cái này cái nọ. Em tránh đi ngang qua tôi, tôi không buồn nữa, mà chỉ buồn cười con bé giận dai. Và tôi nghĩ ra một kế, tôi nói với em "Này An, nhà thầy có một cây cóc, nghe nói em trèo cây giỏi lắm, chiều ghé về nhà thầy, hái dùm thầy một ít được không ?". Em trúng kế, mắt em sáng lên, mau mắn nói: " Được chứ, được chứ, chiều không có giờ học, em với thằng Ngọc ghé hái cóc dùm thầy".
Buổi trưa đi dạy về, tôi đã gặp Quế Chi, người bạn gái, vị hôn thê của tôi tới thăm. Tôi rủ Quế Chi đi ăn tiệm. Ngồi trong quán vắng bên bờ sông, Quế Chi kể tôi nghe đủ thứ chuyện. Tôi cũng kể cho nàng những buồn vui chung quanh sinh hoạt của tôi. Tôi cũng kể chuyện em và con gấu nhỏ. Tôi tưởng nàng sẽ cười ngất vì chuyện em giận dai, nhưng nàng trừng mắt nhìn tôi:"Anh ác ! Sao lại phạt con bé dữ thế, tội nghiệp nó khóc suốt cả buổi cơ à ?"
- Ừ, anh cũng thấy thương thương con bé, nên anh rủ nó tới nhà chiều nay, tính mua một con gấu bông đền cho nó.
- Phải đó, ăn xong mình đi, để em lựa cho
Buổi chiều em và cậu Ngọc bạn em đến, hai đứa đèo nhau trên một chiếc xe đạp người lớn. Quế Chi ngồi trong nhà cười rúc rích chỉ cho tôi:
- Hai đứa học trò của anh đó phải không? Anh coi thằng bé, bé choắt mà đạp chiếc xe đạp thật lớn, đạp không tròn vòng, nó đạp vào "bi đan", chờ cho "bi đan" bên kia chạm vào chân, nó lại đạp xuống. Con bé ngồi sau sợ chân vướng vào tăm phải bỏ cả hai chân lên yên, trông ngộ quá đi thôi.
Xuống xe, em chạy ào tới đập rầm rầm vào cửa nhà tôi vừa gọi:
- Thầy ơi! Thầy ơi!
Tôi mở cửa, em ào vào, nhoẻn miệng cười.
- Thưa thầy, thưa ...chị.
Bạn em vào sau, lý nhí chào rồi ngồi yên lặng, tôi cũng yên lặng cười cười nhìn em và Quế Chi tíu tít nói chuyện. Quế Chi ôm đầu em, nhìn tôi.
- An đây phải không anh, còn đây Ngọc hở ?
Đây đây có quà của thầy cho hai em đây. Quế Chi chia cho Ngọc mấy quyển truyện Tuổi Hoa Đỏ, Tuổi Hoa Xanh và cho em con gấu bông trắng toát. Em hớp hở tròn mắt nhìn con gấu quên cả nói cám ơn. Quế Chi nói nhỏ với tôi:
- Con bé xinh ghê anh ơi! Mắt nó, coi kìa tròn vo, đen nháy, hai má bầu bầu hai đồng tiền nho nhỏ.
Tôi đùa với em:
- Hai con gấu, một con trong nhản hiệu búp len, một con chị Quế Chi chọn, em thích con nào nói thầy nghe coi.
Em ôm Quế Chi cười cười. Em thích chị.
Quế Chi và tôi cười vang. Tôi đùa:
- Chỉ thích chị Quế Chi thôi, không thích hai con gấu lẫn tôi phải không, thật bạc phước cho tôi.
Nói chuyện đồng tan vui vẻ một hồi rồi em cũng không quên được cây cóc.
- Em với Ngọc đi hái cóc nha thầy.
Em ôm con gấu trắngvới bạn em ra vườn.
Quế Chi ôm tôi vòi vĩnh:
- Anh ạ! Em muốn có con, một đứa con gái xinh như bé An.
- Bộ em tưởng đẻ ra là được vậy liền hả, em phải mang nặng đẻ đau, phải nuôi cực khổ từng ngày cả chục năm mới được một con bé như vậy chứ bộ.
Em đã bắt đầu vui vẻ cười đùa trở lại. Trong giờ học của tôi, em cười, em nói, em chạy nhảy lăng xăng, em nhõng nhẽo với tôi đôi khi. Em và cậu bạn chuyên môn ăn quà trong lớp, và chắc hai người khoái chí lắm vì tưởng qua mặt được tôi. Có lần hai người ăn chung một trái ổi to tướng, em để trái ổi gói muối ớt dưới hộc bàn, cậu bạn em thò tay lấy trái ổi chấm muối ớt đưa lên miệng cắn một miếng, rồi đến phiên em. Hai đứa chuyền nhau trái ổi đến khi tôi gọi em lên trả bài, một hột ổi còn dính nơi miệng, tôi đưa tay gở xuống hỏi cái gì dính miệng em thế này.
Em nói dối tỉnh bơ em không biết. Tôi cười lờ đi và rộng rãi cho điểm em.
Rồi mùa Đông đến. Mùa Đông ở đây mưa dầm dề rét mướt. Tôi thật là ái ngại mỗi lần đi dạy, bố trí bao nhiêu là áo mưa tới lớp vẫn ướt như thường. Em cũng thế, tới lớp người em ướt dầm. Môi thâm tím vì lạnh, vậy mà em vẫn hớn hở với tôi:
- Thầy biết không, em thích mưa hoài mưa quanh năm.
- Trời ơi, mưa gió thế này mà thích cái gì.
Cậu Ngọc bạn em tố em:
- Thầy, hai rưởi vô học mà nó rủ em đi học từ mười hai giờ. Nó bắt em đi lội nước với nó.
- Mày cũng thích lội nước thí mồ, chứ bộ tao thích không thôi sao.
Chị người làm tố khổ:
- Các cô các cậu ấy phá quá thầy ạ! Ngày nào tôi cũng dọn đến mệt luôn.
Mà tụi em phá thật, tôi đã chứng kiến một lần, thay vì tập văn nghệ tụi em rủ nhau chơi trốn tìm. Một khi phải chạy đi trốn, trốn thật kỹ để khỏi bị bắt là cả một chuyện thật là "sanh tử" đối với tụi em. Mặt mày em căng thẳng, hăm hở. Em chạy ùa vô phòng tôi khi tôi đang chấm bài, em cuống quít hối:
- Thầy xích qua một bên để em chui vô dưới bua rô, không thôi tụi nó bắt em.
Không đợi tôi trả lời, em chui tọt dưới bàn viết. Tôi chưa kịp mắng thì em đã lên tiếng:
- Suỵt! Thầy im kẻo tụi nó bắt em.
Rồi một lát sau, ba bốn cô cậu lại hối hả chạy vào phòng tôi. Một cô chui vô tủ quần áo, em leo lên giường xốc nguyên đống chăn mền chiếu gối phủ lên người, rồi xúi cậu kia chui xuống gầm bàn tôi trốn.
Chị người làm được dịp phân bua:
- Thầy thấy chưa, các cô cậu ấy phá quá chừng.
Tôi cười xuề xoà. Được rồi, được rồi để tôi dọn phụ với chị.
Buổi chiều Quế Chi đến và phụ tôi dọn đẹp nhà cửa. Nàng cứ cười rúc rích khi tôi kể tội các em. Quế Chi và em có vẻ thân nhau quá đỗi. Mỗi lần nàng đến nhà tôi, hình như có hẹn trước, một lát là thấy em đến. Nàng vừa nấu nướng vừa nghe em và tôi trò chuyện. Rồi đến phiên tôi vừa rửa bát vừa nghe nàng và em trò chuyện hay ăn vặt cóc ổi xoài xanh.
Những ngày tháng đó tôi hạnh phúc vô cùng. Tôi không tin và không thể ngờ rằng có một ngày tôi sẽ mất, mất hết. Ngây thơ hồn nhiên của em và Quế Chi dấu yêu của tôi.
Cuối năm đó, tôi quyết định đi tu nghiệp ở ngoại quốc. Tôi nghĩ sau hai năm trở về tôi sẽ gặp lại em và Quế Chi lúc đó sẽ là vợ của tôi. Tôi sẽ có một người vợ hiền bên cạnh, một cô học trò hồn nhiên nhí nhảnh trong lớp học.
Nhưng tôi quên mất rằng thời gian là một sự tàn phá mãnh liệt nhất, nó đốt hết ngây thơ, làm tàn phai mất lòng chung thủy.
Vì khi tôi trở về, niềm đau khốc liệt đến với tôi như một cơn lốc là tin Quế Chi đi lấy chồng. Tôi thẩn thờ đau khổ, tôi khép lòng lại và sống khắc khoải như một người thất chí.
Đến đầu niên học, tôi nhận dạy ba bốn lớp của em, bây giờ đã là Đệ Tứ. Các bạn của em đã chững chạc hơn. Các cậu hết lấc cấc nghịch ngợm. Các cô nghiêm trang thuỳ mị hẳn ra trong chiếc áo dài trắng, với nón lá, với tóc thề.
Em không còn trong lớp nữa. Nghe nói em đã vào nội trú trong một trường Dòng. Không có sự hiện diện của em, tôi thấy mất mác thêm một chút nữa chất sống của tôi. Tôi vẫn nhìn các cô bạn của em để hình dung ra em. Có lẽ bây giờ em đã hết chạy nhảy reo vui. Những củ cà rốt củ khoai tây nơi vạt áo đầm của em chắc đã tàn phải theo ngày tháng để thế vào đó một chiếc áo dài tha thướt. Mái tóc ngắn kiểu "bum bê" của em chắc đã dài ra liêu trai như tóc Quế Chi. Không phải ngày xưa em vẫn nói với tôi, hồi nào lớn lên em sẽ mang toàn...áo dài lụa trắng như chị Quế Chi. Em sẽ để tóc thật dài, ngày nào em cũng gội bằng chanh với bồ kết cho tóc thơm mát như tóc chị Quế Chi sao.
Cậu Ngọc, bạn em, có đến thăm tôi. Có cho tôi một vài tin tức về em. Tôi có dò hỏi về tình cảm của Ngọc, Ngọc tâm sự: "An giận em mấy năm nay, em không biết tại sao, nhưng có một điều em biết chắc là em yêu An ghê gớm. Không biết yêu tự lúc nào và yêu đến bao giờ. Bây giờ em không thể cặp bồ với ai được hết, hình ảnh An đầy ắp trong em."
Tôi ôm vai Ngọc thông cảm, mắt Ngọc rưng rưng nhìn quanh căn phòng, chắc Ngọc cũng như tôi, đang lắng nghe tiếng cười rộn rã của em trong quá khứ. Trong căn phòng này, dưới gầm bàn, trong đống chăn mền đó, trong chiếc tủ kia, hình ảnh em co quắp tròn cho khỏi bị bắt, nhưng khi đã bị bắt, em giật thót người một giây, rồi lại cười toe toét, khoe hàm răng trắng ngời, khoe hai đồng tiền duyên dáng.
Ngọc thẩn thờ chào tôi ra về. Tôi ngồi lại trong căn phòng cũng thẩn thờ nhớ em và Quế Chi. Hình ảnh em quá đậm nét trong lòng Ngọc, cũng như hình ảnh Quế Chi quá đậm nét trong lòng tôi, khiến hai ba năm sau đó tôi cũng không thể yêu được ai.
Cho đến một lần, tôi có một người bạn làm hiệu trưởng cho một trường nữ, nhờ tôi dạy dùm mấy giờ Pháp Văn cho một lớp Đệ Nhất, tôi miễn cưỡng nhận lời.
Giờ học đầu tiên tôi điểm danh để nhận diện từng người, đọc đến cái tên quen thuộc Nguyễn Thị Ngọc An, tôi giật mình. Em nhìn và cười bằng mắt với tôi. Tôi bồi hồi mấy giây mới đọc tiếp tên người khác.
Chờ đến giờ ra chơi, tôi đến bên em trò chuyện. Tôi hỏi em về những diễn biến, về những thay đổi từ ngày tôi ra đi. Tôi hỏi em về người này người nọ. Em dịu dàng nói chuyện với tôi, một chút bối rối, một chút e dè. Và tôi khám phá ra là em đã thành người lớn mất rồi, em không còn nhí nhảnh hồn nhiên như ngày nào nữa. Rồi em nhỏ nhẹ hỏi thăm tôi về Quế Chi, tôi nói với em Quế Chi đã lập gia đình, sau khi tôi đi ngoại quốc. Và tôi kể cho em nghe về những gặp gỡ giữa tôi và Ngọc, người bạn của em. Em hơi đỏ mặt cúi đầu vân vê tờ giấy. Và tôi biết thêm một chút nữa, là không phải hình ảnh Ngọc hoàn toàn không có trong em, em có cho tôi biết thêm một vài điều mà tôi chưa biết là Ngọc đã đi lính và thỉnh thoảng vẫn viết thư cho em.
Những giờ học kế tiếp, không khí trong lớp đã rộn ràng hơn, có lẽ vì thầy trò đã quen biết nhau hơn. Giờ học đầu tiên hình như các cô chưa biết thầy mới ra sao nên còn ngần ngại, giờ chắc các cô đã bắt mạchđược thầy hiền, nên tha hồ giỡn phá. Nhưng cái nghịch của các cô lớp Đệ Nhất không phải là thứ nghịch ngợm như các cô lớp Đệ Thất, nên nhiều lúc cũng làm tôi "ớn lạnh". Các cô phá tôi tận tình, trong túi quần tôi, thỉnh thoảng về nhà tôi vẫn nhặt được những mãnh giấy của một cô nào đó ném đá giấu tay, viết bằng chữ in, không ký tên, đại khái như là "Yêu thầy rồi đó, đứa nào nói láo trời sập" hoặc là "Thầy đẹp trai dễ sợ, yêu cầu thầy ngày nào cũng mặc áo sport và để tóc bồng bềnh như sáng nay". Từ đó, tôi không dám mặc chiếc áo sport lần thứ hai, và dù vội vàng đến đâu trước giờ đi dạy, tôi cũng chảy đầu tém tóc lại bằng dầu cho gọn gàng, không dám để tóc bồng bềnh nữa.
Trước giờ Pháp Văn sáng thứ hai của tôi là giờ Vật Lý của cô Thanh Tịnh. Thường thường cô Thanh Tịnh đi ra khỏi lớp là tôi bước vào, cho nên thỉnh thoảng gặp nhau ở cửa lớp. Và chúng tôi thường nói chuyện với nhau dăm ba câu, là các cô cười tủm tỉm chọc ghẹo. Hôm nào không gặp cô Thanh Tịnh ở cửa, vào lớp các cô cũng có cách chọc ghẹo tôi.
- Hôm nay trông thầy u sầu quá, thôi để lần sau, hết giờ của cô, tụi em làm bộ hỏi dăm ba thắc mắc để cô ra trễ, thầy sẽ được gặp cô ở cửa lớp nghe thầy.
Khổ tôi quá, cương vị tôi là một thầy giáo, tôi không phải ngang hàng với các em để có thể đính chính hay cãi cọ với các em khi các em chọc ghẹo tôi quá đáng, nên chỉ cười khi các em phá tôi, có lần đề tài về cô Thanh Tịnh sôi nỗi quá, tôi phải làm bộ gắt lên.
- Các cô lạ quá, cô Thanh Tịnh là cô Thanh Tịnh, tôi là tôi, tại sao các cô cứ ghép bậy như thế.
- Thưa thầy không bậy đâu ạ, cô Thanh Tịnh trẻ đẹp nhất trường, thầy cũng đẹp giai nhất trường, thầy và cô là hai giáo sư độc thân duy nhất trong trường, hơn nữa tụi em bắt gặp rõ ràng, cô Thanh Tịnh cuống quít vân vê tà áo mỗi khi nói chuyện với thầy.
Cả lớp cười ồ, giọng cười em nỗi bật nhất. Em cũng phá phách lắm chứ không vừa. Thời trang của tụi em thời đó là áo dài lụa, các cô đua nhau mặc áo dài lụa, mỗi áo lụa, có một loại hoa, loại chữ, rồng rắn khác nhau. Và các cô thường dùng viết nguyên tử tô đậm những chữ, những hoa hoè rồng rắn nỗi trên vạt áo. Cho nên giờ ra chơi, những con rồng, chữ vạn, hoa cúc, hoa lan, xanh đen tím đỏ nơi vạt áo dài lụa trắng nhún nhẩy theo tà áo phất phơ của các em, làm tôi cứ liên tưởng đến những củ cà rốt khoai tây con gấu con chim nơi vạt áo đầm của em năm nào. Một lần trong giờ học, em bắt vạt áo của cô bạn ngồi phía trước tô đậm những con rồng nỗi, cô bạn phía sau bắt vạt áo em tô lên những chữ vạn chữ thọ. Tôi đi ngang nói nhỏ bên tai em:
- Có muốn bị quỳ nơi góc lớp không, cứ chơi trong lớp, hồi nhỏ cũng chơi, lớn rồi cũng chơi.
Em chỉ cười, nhưng giờ ra chơi, em chạy lên bàn tôi bất chợt hỏi:
- Thầy có muốn em ca cho thầy nghe bài "Hận Đồ Bàn" không?
- Cái gì? Hận đồ bàn nào?
- Hận đồ bàn là một mối hận thiên thu, ngày xưa em chỉ cắt mỗi con gấu trong lớp mà thầy phạt em, "đau khổ xấu hổ" cả tháng, lâu quá em cũng quên. Bây giờ thầy nhắc em mới nhớ, nếu thầy không năn nỉ em, em sẽ làm thầy "đau khổ xấu hổ" cả năm.
- Cô làm gì tôi nào ?
- Mỗi chúa nhật em sẽ mạo chữ thầy viết một lá thư cho cô Thanh Tịnh, nói mời cô đến nhà thầy chơi, rồi em sẽ thông báo giờ hẹn cho mấy đứa trong lớp, cho tụi nó phá thầy tận tình.
Tôi hơi hoảng, sợ em làm thật.
- Này, đừng có giỡn bậy.
- Em làm thật mà, vậy thầy có năn nỉ em không nào?
- Ừ, thì năn nỉ.
Em cười đắc thắng.
***
Tôi phải công nhận vào thời kỳ đó em thật xinh, có cả vài chục cô xinh xinh như em trong đám học trò của tôi, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn độc đoán nghĩ rằng, cái mơn mởn xinh tươi của em là một phần nào sở hữu chủ của tôi. Như một cây hoa trong vườn hoa, tôi đã trồng, hay ai đó đã trồng từ nhỏ, nhưng tôi đã nhìn, đã ngắm, từng cành non lộc biếc từ lúc mới ươm trồng. Cho nên tôi cảm thấy cây hoa gần gũi với tôi hơn hết. Tôi vẫn kín đáo chăm sóc em, như thỉnh thoảng cho em vài cuốn sách cuốn truyện về giáo dục, tôi kèm thêm Pháp Văn cho em. Em cũng biết tôi thương và chiều em nên em cũng vòi vĩnh tôi ghê gớm.
Có một lần, buổi sáng, trời mưa lâm râm, tôi đi dạy, và các em đi học như thường lệ. Một lúc sau trời bỗng nỗi cơn mưa gió sấm sét, rồi bão lớn cả trường được nghỉ. Nhưng phải ở lại trong trường chờ hết cơn bão, tôi từ văn phòng tính đến lớp em chuyện vãn, đến đầu cầu thang tôi đã nghe tiếng cười rúc rích của em và một cô bạn. Hình như tụi em đang rượt nhau để dành nhau một vật gì đó, em vẫn rúc rích cười chạy xuống cầu thang, đến khúc quẹo, không biết vì trượt chân hay vì chạy nhanh em không nhìn thấy nên đã đâm đầu vào người tôi, tôi đưa tay đỡ, và em nằm gọn trong tay tôi, em ngượng ngùng mất mấy giây, nhưng tôi đã run rẩy mất mấy phút, mất hồn nguyên cả buổi chiều, cả đêm hôm đó, và cả những ngày sau, tôi vẫn tê cứng từng tế bào, từng sợi thần kinh, mỗi khi nhớ đến cái cảm giác có em nằm gọn trong vòng tay.
Từ đó tôi hơi thẩn thờ, và bỗng dưng mất tự nhiên. Tôi không dám nhìn thẳng vào mặt em như trước nữa. Trong lớp học thỉnh thoảng lén nhìn em, có khi em bắt gặp, và em vội cúi đầu xuống trang vỡ, vân vê cây bút máy. Tôi không biết trong hồn em có một chút nào hình bóng của tôi không, nhưng riêng tôi, tôi đã điên lên vì em mất rồi. Không phải là một "coup de foudre". Có lẽ cái tình cảm của tôi đã có với em từ lâu lắm rồi, từ khi em là một con bé lớp Đệ Thất, mắt tròn má phính, miệng tươi tung tăng ca hát chạy nhảy. Tôi đã yêu em như yêu một đứa con gái nhỏ, một đứa em của tôi. Tôi đã yêu em như yêu một con chó nhỏ, một con búp bê xinh xinh.
Rồi bây giờ em lớn vụt, mơn mởn như một nụ hoa sớm, như một trái táo thơm. Và tôi vẫn là một tên độc thân, tâm hồn tôi vẫn là tâm hồn của một người con trai, và tôi đã yêu em như một người con trai yêu một người con gái, có gì lạ, đó là một chuyện rất bình thường trên thế gian phải không em, nhưng với tôi, vẫn có một cái gì ray rứt. Hình như tôi hơi thiếu tự tin, đúng thế, vì em chưa đầy mười tám tuổi, mơn mởn đào tơ, trong khi tôi đã gần bốn mươi. Hơn nữa trong hồn em đã ít nhiều có hình bóng Ngọc, người bạn trai thuở thiếu thời, biết có còn chỗ cho tôi. Mà dù có còn, cũng làm tôi đau đớn, tôi ở chung với một người khác trong ngăn tim em. Và trời ơi, khốn nạn cho tôi, tôi đã yêu người trong mộng của một cậu học trò của mình, có gì bỉ ổi hơn tranh giành tình yêu với học trò? Ngọc ơi! nếu em về đây, em hiện diện trước mặt tôi, cho tôi nhìn thấy Ngọc An trong mắt em, trong hồn em, tôi sẽ bóp nát tim tôi, rồi bỏ thành phố này ra đi. Nhưng em ở đâu, vời vợi xa xôi, mà Ngọc An ở đây, trước mặt tôi đi đứng nói cười e thẹn. Nàng đang đi dần, đi dần lún sâu trong tim tôi. Và một lần, một tình cờ, với tôi là một thiên thu rung động, nàng đã nằm gọn trong tay tôi, nàng đã đánh thức cả trăm ngàn tế bào đã ngủ quên trong tôi bừng dậy. Và tôi đang chết ngất trong hình ảnh nàng đây, em có biết không? Thôi Ngọc hãy tha thứ cho tôi.
Và Ngọc An, em có biết không, tôi đã bỏ lỡ bao nhiêu dịp để nói với em một câu, một câu rất đơn giản, mà tất cả mọi người đều nói với người mình yêu. Tôi đã mời em đến nhà, để trong cái không khí riêng tư đó, tôi sẽ nói với em, nhưng rồi, em đến, em tự nhiên ăn uống nói cười trong nhà tôi, em kể ngày xưa chơi trốn tìm, em cuống quít chạy vấp trúng góc bàn này, đau cả buổi, những rể cây chẳng chịt trong góc vườn kia cũng làm em té một lần, giờ vẫn còn sẹo, và em xích tới gần tôi, chỉ cho tôi coi cái sẹo mờ mờ nơi đầu gối. Tôi nín thở. Rồi em hồn nhiên co hai chân lên, ngồi thu người lại trong một góc ghế bành đọc báo, chiếc ghế bành rộng thênh thang, tôi muốn ghé ngồi vào đó cầm tay em nói với em một câu, nhưng tôi không dám.
Trời chuyển mưa, em đòi về, tôi chở em về, rồi trở về một mình dưới cơn mưa nhớ em.
Một lần nữa, tôi rủ em lên đồi Vọng Cảnh, ngọn đồi trơ trọi, có lẽ chỉ có hai sinh vật duy nhất là em với tôi, là tôi với em, tôi nao nao trong lòng khi em níu vai tôi đòi dẫn xuống chân đồi hái hoa. Tôi chỉ muốn em ở đây, hai đứa trên đỉnh đồi này để tôi nói với em một câu mà tôi định nói, nên tôi dọa có rắn rít ở dưới nhiều lắm, em hoảng hốt đòi về, tôi dỗ em, còn sớm mà, em coi đồng hồ thấy còn sớm thật, nên bắt tôi chở qua tu viện Thiên An.
Ở đó rải rác dăm ba cặp tình nhân tình tự dưới gốc thông, tôi lại thấy nao nao, tôi dẫn em đi dưới từng con đường dốc nhỏ, có những tàng cây lớn che phủ hai bên, lên tới đầu dốc gió lồng lộng, gió làm vạt áo dài lụa trắng của em ôm lấy chân tôi. Em đứng gần tôi quá làm những sợi tóc dài của em bay bay, đôi khi vướng vào mắt tôi, cổ tôi. Tôi không dám bước đi, sợ tan vỡ cái giây phút phù du thiên thu, có vạt áo dài em quấn quít chân tôi, có những sợi tóc em tình tự nơi má tôi. Nhưng rồi gió đổi hướng, tóc em, vạt áo em bay về hướng khác, bỏ chân tôi, mặt tôi bơ vơ.
Em bỏ tôi ở đó, tới trốn nắng dưới một góc thông. Em dựa vào gốc thông ngưỡng đầu lên nhìn những lá thông đang reo vui trên ngọn cây, tôi cảm thấy gốc thông có phúc hơn tôi, em bất chợt hỏi:
- Tại sao có những tiếng vì vu ở đây, tại sao người ta gọi là thông reo thầy nhỉ.
Tôi muốn tới thật gần em, nhìn vào mắt em, cầm tay em, hay can đảm hơn ôm lấy bờ vai em nói với em:
- Tại thông nó vui vì có em ở gần.
Nhưng tôi không dám, tôi lại giải thích cho em cụ thể, đúng như một ông giáo giảng cho học trò, là gió thổi, làm những lá thông đập vào nhau, trăm ngàn lá thông đập vào nhau tạo thành những tiếng kêu vi vút mà người ta gọi là thông reo.
Rồi tôi dẫn em đi bộ tới một vườn cam, tôi xin ông lão làm vườn một trái cam, bóc cho em ăn. Em đứng ăn rồi bỏ tôi ở đó chạy theo những con công, con gà tây đang uốn éo trong vườn. Coi chán em rủ tôi đi hái sim, cả đồi sim xanh xanh xen lẫn những cánh hoa sim mong manh tím nhạt, em hái một bó ôm vào lòng, tôi ngắt một bông hoa đẹp nhất cài lên tóc em, em cười, nụ cười làm xiêu lạc cả hồn tôi. Bên kia đồi là một đám hoa dại vàng, những bông hoa vàng nhỏ ly ty như cúc áo, em lại cười, lại ngắt hoa, lại bắt tôi cài lên tóc, em hồn nhiên hát nhỏ nhỏ.
Rằng xưa có gã từ quan...lên non tìm động hoa vàng ngủ say...thôi thì thôi...chỉ là phù vân, thôi thì thôi nhé...có ngần ấy thôi...
Tôi hát tiếp.
Nhớ xưa em chửa theo chồng...mùa xuân may áo...áo hồng đào rơi. Mùa thu em mặc áo đã trời...sang đông lại khoát lên người áo hoa...mai ta chết dưới cội đào...khóc ta...xin nhỏ lệ vào thiên thu.
Em cười hỏi tôi đố thầy bài chi.
Không hiểu sao tôi can đảm đến thế, tôi quay người đứng đối diện với em, đặt hai tay lên vai và nhìn sâu vào mắt em nói nhẹ như gió:
Đưa em tìm động hoa vàng.
Em cười lớn tiếng, rồi kêu đói bụng bắt tôi chở đi ăn. Không biết em vô tình, hay em hiểu tình tôi nhưng cười đánh trống lãng.
Ngày tháng trôi qua, tạm gọi là êm đềm, mỗi tuần vài lần tôi gặp em trong lớp học. Cuối tuần thỉnh thoảng tôi rủ em tới nhà kèm thêm bài vở cho em. Vì là năm thi, tôi không muốn em xao động. Tôi muốn em để hết tâm trí học hành. Sau khi thi xong, tôi sẽ nói với em, một câu, mà tôi vẫn ao ước nói.
Thế rồi một đêm ngủ dậy cả thành phố xôn xao, có tin đồn Đông Hà, Quảng Trị đã mất. Tôi bán tín bán nghi, đến trưa, cậu em họ không quân đến nhà tôi, vừa nói vừa la vừa ra lệnh cho tôi:
- Đi, đi gấp!
- Đi đâu?
- Vào Sài Gòn rồi tính, những tỉnh lân cận Việt cộng chiếm hết rồi.
- Từ từ nào, để anh suy nghĩ đã.
- Suy nghĩ gì, ra xe em chở lên phi trường gấp. V.C. mà vào đây, nó giết hết, anh nhớ Tết Mậu Thân không?
Cậu em vừa nói vừa đẩy tôi ra xe jeep, rồi leo lên phóng vun vút. Tôi như cái máy hết biết suy nghĩ, chỉ biết làm theo lời cậu em họ. Đến chiều tôi đã thấy mình ngồi trên trực thăng với đám người lao xao, xác tôi trên mây mà hồn tôi cũng trên mây. Tôi hoảng hốt, tôi lo cho em, tôi trách mình sao không đến rủ em đi theo, rồi tôi tự an ủi mình, có rủ em cũng không đi. Đời nào em dám bỏ ngôi nhà kín cổng cao tường, có cả một đại gia đình em trong đó để đi với tôi.
Buổi chiều tôi đã có mặt ở Sài Gòn, rồi tôi xoay vù vù như cơn lốc theo với cậu em, hai hôm sau, tôi lại thấy mình lênh đênh trên một hạm đội Hải Quân.
Rồi đến đảo Goam, rồi đến Mỹ. Rồi trôi dạt từ tiểu bang này đến tiểu bang khác. Và tôi tự nói với tôi: Cứ coi như em là một phần đời tôi, đã chết, ở bên kia bờ đại dương. Bây giờ tôi sống như một người nào đó mang tên tôi.
Và như thế, cuộc đời tôi trôi qua, không ồn ào vui nhộn, mà cũng không bi thảm lạnh lùng. Bình thản đến độ tôi không ngờ, tôi có thể giải thích được sự bình thản về tôi mỗi khi nghĩ tới em, là tôi nghĩ rằng em đã mất hẳn ngoài vòng tay tôi. Từ khi cảm nhận được điều đó tôi thấy dễ chịu hơn là khi có em, nhìn em, nói cười với em, có thể dang tay là ôm trọn em vào lòng mà vẫn thấy em thật vời vợi xa xôi. Hơn nữa từ khi qua đây, một xã hội quá đầy đù về tiện nghi vật chất. Có một thứ, tôi ham muốn mà ở xứ tôi, tôi không tìm thấy đầy đủ: là sách, tôi yêu sách ghê gớm, tôi có thể thả trôi từng ngày từng tháng từng năm trên những trang sách mà tôi không bao giờ biết chán. Mà những rừng sách trong trăm ngàn thư viện ở đây đã nuôi tôi, nuôi hồn tôi khỏi trống trãi, nuôi thân tôi một cách dễ dàng thoải mái. Nói đúng ra sống bằng một nghề mà tôi thích. Đó là điều mà tôi rất bằng lòng trong cuộc sống, là dịch sách. Những cuốn truyện hay sách hay, tôi đọc say sưa từng lời từng chữ, rồi tôi say mê dịch lại.
Bất cứ một sự say mê nào cũng tìm được ít nhiều hạnh phúc trong đó. Đã có một chút hạnh phúc trong cuộc đời, tôi cũng không cảm thấy cần thiết lắm phải có một người đàn bà bên cạnh cuộc đời. Nên tôi không hề vận dụng một chút năng lực của tôi để đi kiếm một người yêu, một người vợ, mà tôi thả hoang cho con tim và tình cảm, nếu một ngày nào đó con tim tôi rung lên thổn thức trước một người đàn bà, như tim tôi rung lên êm đềm khi gặp Quế Chi, rung lên rạo rực, cuồng nhiệt khi yêu em thì lúc đó tôi sẽ nghĩ đến chuyện gắn bó.
Thế rồi cũng có một ngày tim tôi rung lên trở lại. Đó là ngày tôi gặp một người con gái, nàng gõ cửa nhà tôi, tôi mở cửa, nàng reo vui ùa vào, và tim tôi reo vui rung rung mở hội.
Người con gái đó, tôi đã yêu ba lần. Một lần cách đây gần hai mươi năm. Lúc đó tôi yêu nàng như yêu một đứa con, xinh xinh, hồn nhiên nhõng nhẽo.
Lần thứ hai cách đây gần mười năm. Tôi yêu nàng chất ngất say sưa như tình yêu của một người con trai mới lớn.
Và lần thứ ba, khi đời tôi đã xế chiều. Đó là lúc tôi gặp lại, và được hàn huyên trò chuyện, được thong dong rong chơi với nàng những sáng hồng, trưa ấm. Những chiều, những đêm mưa, có nàng với tôi cười reo dòn dả, bên lò sưởi trong một căn nhà lạ nơi xứ người. Đó là lúc tôi yêu nàng đằm thắm nhất.
Nhưng rồi cả ba lần yêu tôi đều mất nàng, và có một điều là hình như gần hai mươi năm trời, nàng chưa bao giờ lường được cái tình cảm tôi đã cho nàng.
Ngọc An, em có biết không, người con gái đó chính là em.
---------------------
Nguồn: VĂN, số 88
Tháng 10-1989
Subscribe to:
Posts (Atom)