Friday, September 16, 2016

NHỮNG CHIM BÁO BÃO





                                                                          Nguyễn Mộng Giác




Năm ngoái, trên tạp chí Văn Học số xuân 1991, tôi có ghi nhận tình trạng sáng tác và xuất bản nhẩn nha uể oải trong sinh hoạt văn chương ở hải ngoại và thử đưa ra  một số nguyên nhân giải thích tình trạng đó. Bài viết được nhiều người trong giới cầm bút chú ý, và cũng như bất cứ đề tài nào, có người đồng ý với tôi, có người không. Một năm sau, đọc lại bài "Góp ý về một cách nhìn...", tôi vẫn giữ lại các ghi nhận và lối giải thích cũ, nhưng thấy thiếu sót nhiều điều quan trọng.
Thấy thiếu sót nhờ đọc được một số tạp chí văn chương và sách văn chương xuất bản trong nước gần đây. Sinh hoạt sáng tác và xuất bản  ở quốc nội  hiện có khá hơn ở hải ngoại không? Xin trả lời ngay: chẳng những không khá hơn, mà còn tệ hơn!

Trên tuần báo Văn Nghệ (của hội Nhà văn Việt Nam, xuất bản ở Hà Nội) số 28 ra ngày 13-7-1991, ông Thi Nguyễn viết trong mụcTin Sách:
"Trước cái biển chữ nghĩa được dịch tùm lum, những cuốn sách có giá trị thực sự, được tính đủ "Đầu vào Đầu ra" đang bị một sự cạnh tranh ghê gớm - sức mua bị giảm nghiêm trọng! Bộ ba tập "Anh em nhà Karamazôp của Dôtxtôiepski ra rải vào ba thời kỳ tiêu biểu cho sự suy giảm đó: tập 1 in 10.000 cuốn, đến tập 2 hạ xuống còn 3.000, chả nhẽ lại không ra trọn bộ nhưng tập 3 chỉ dám in 1.000. Vậy là có nhiều đọc giả chỉ mua tập 1, cùng lắm mua tập 2 rồi thôi. Giá sách đắt lên không đủ tiền mua, hay số tiền ít ỏi dành mua sách lại phải mua cuốn khác hấp dẫn hơn ? Đọc cụ Đốt nặng quá, không hấp dẫn! Thì sang lãnh vực hấp dẫn vậy! Ba tập đầu của bộ Thuỷ Hử, nhà xuất bản dám in tới 1000.000 bản vẫn bán được. Đến Hậu Thuỷ Hử chỉ dám in 7.000 cuốn mà vẫn trầy trật cả năm 1990 đến giờ." Tổng cộng ty phát hành (sách) chỉ nhận từ 30 đến 50 cuốn. Tất nhiên phải trông vào phát hành tư nhân".

Các nhà phát hành tư nhân? Trong một nước cộng sản chủ trương độc quyền chân lý, kiểm soát chặc chẻ sinh hoạt sáng tác,  nghiên cứu và xuất bản như Việt Nam hiện nay mà lại có các nhà phát hành ư? Họ là ai vậy? Cũng báo Văn Nghệ, với một giọng ngậm ngùi nhẫn nhục pha lẫn ganh tỵ mỉa mai, gọi họ là các "đầu nậu" các "lái sách".
Chỉ nửa tháng sau, ban biên tập báo Văn Nghệ dành riêng số 30 (ra ngày 27-7-1991) để đăng nhiều bài về nạn sách ế ẩm. Trong bài "Nạn loạn thư. Hay là..." Trần Nhân Ảnh làm bảng tổng kết tình hình xuất bản trong nước như sau:

"Đợt một: khoảng từ 1986 qua 1988 là sách vụ án (tức sách trinh thám), mà khởi thủy của nó là từ Lâm Đồng. Các nhà xuất bản ở trung ương thời điểm này chưa nhập cuộc; nhưng nhiều địa phương và nhất là ở các ngành có tư liệu  nhiều về các vụ án (ý nói ngành công an) đã xuất bản ào ạt.
Vụ án ư, thì đã làm sao? Ông Đốt viết "Tội ác và Hình phạt", "Anh em nhà Ca-ra-ma-dốp", rồi cả ông Lép Tôn-xtôi, Xây Pu-skin, ông Si-mơ-nông, ông Mác-két, ông Nam Cao...ông nào chả có chuyện trọng án trong tác phẩm?

Đợt hai: 1988-1990 là nạn sách dịch. Không ít những cuốn ở chính nước họ đã bị dư luận rộng rãi đào thải, căm giận bởi chính những yếu tố sa đọa của nó, thì đến ta lại thành trúng quả và ăn khách! Có cuốn dịch rồi, nay được đổi tên dịch giả, đổi cả tên sách để xuất bản lại- y như mới!

Đợt ba: chậm đôi chút, nhưng cũng có thể coi như song hành với đợt hai, là việc tái bản ào ạt không chọn lọc sách tiền chiến và sách thời Mỹ Nguỵ. Đặc biệt sách thời Mỹ Nguỵ được đổi đầu đề và cả ...phóng tác lại. Nhất là loại sách ba tình: Tình báo, Tình yêu, Tình dục. Người ta còn ghi chép lại cốt chuyện, thậm chí đối thoại ở những phim vi-đê-ô rồi chắp vá thành những "thiên tiểu thuyết mới", đến mức thành ngữ "người cầm bút" để chỉ nhà văn đã biến thành "người cầm nút" (nút bấm vi-đê-ô).

Đợt bốn: xem ra cả ba "tình" đều không mặn mà lắm nữa, "văn" không ăn thì đã có "võ"! Ấy là hàng loạt những sách võ hiệp kỳ tình, dã sử lâm ly...Đợt này bắt đầu từ khoảng 1989 và cho đến nay vẫn còn ra chiều tấp nập trên khắp các vỉa hè, quán xá... Ấy là chưa kể đến hàng trăm đầu sách bói toán, tử vi áo bí đủ loại của các bậc "Quỷ cốc tiên sinh" hiện đại...

Sau khi ta thán  nạn "loạn thư", báo Văn Nghệ trang trọng nêu lên những gương tốt. Một tủ sách (đúng ra phải gọi là nhà xuất bản) dũng cảm. Nhà xuất bản địa phương Khánh Hoà cho ra một tủ sách phê bình văn học tuyển chọn và trích dẫn các bài phê bình bình luận văn học của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam và thế giới về từng chuyên đề, từng tác giả quan trọng, như Aragon, Molière, Schiller, Frank Kafka, Cervantes, Hemingway, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu, La Quán Trung, Homère, Sử Thi Ấn Độ, Thơ Tagore, Shakespeare, Balzac, Victor Hugo, Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Đam San, Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu, Huy Cận, Ca Dao, Truyện Cười, Nguyễn Đình Chiểu...

Chuyên đề và tác giả được đề cập tới có vẻ nghiêm chỉnh, thuần văn hoá, né tránh chính trị. Loại  sách đó có  bán chạy như các loại văn khác  bìa "tiêu chuẩn" có đủ "Một cậu một cô một  ô tô một nhà lầu" không ?
Hãy nghe Thuý Toàn, tác giả bài "Một tủ sách...dũng cảm " trong Văn nghệ số 30 trả lời:
"Tôi hỏi cô bán sách xem loại sách này tiêu thụ ra sao ? Ít người hỏi đến. Bán chậm lắm! Tôi được trả lời như vậy. Câu trả lời đó không đáng ngạc nhiên trong lúc này, nhưng dù sao cũng thật đáng tiếc! Có cái gì đó còn đáng buồn nữa! Có những người nhiệt tình làm ra loại sách như thế, rõ ràng là cần thiết và có ích. Số lượng chỉ 3000 bản một đầu sách. Vậy mà có cơ sẽ lại chịu số phận của không ít sách nghiêm túc khác: bán giá hạ rồi đưa vào kho đắp chiếu để ít lâu sau đem bán cân!"

Một trong những cuốn sách nghiêm túc từng bị đem bán sale trước khi chịu đắp chiếu và bán ra thị trường ve chai là bộ tuyển tập thơ văn Pasternak dày trên 1000 trang, giá chỉ 6000 đồng (trong đó có cả tiểu thuyết Bác sĩ Jivago được giải Nobel năm 1957). Các biên tập viên báo Văn Nghệ cung cấp cho chúng ta biết một vài con số: tập 3 bộ "Anh em nhà Karamazôp " in 1000 cuốn, sách nghiên cứu văn chương cổ điển  in 3000 bản bán ế. Nhà Tổng phát hành trung ương (cơ quan nhà nước trên danh nghĩa độc quyền phát hành sách báo) chỉ nhận mỗi nhan sách (loại xuất bản trong vòng kiểm soát được của chính quyền) từ 35 đến 50 cuốn.

Những con số ít ỏi này quả thực làm cho tôi vô cùng ngạc nhiên. Không kể làm chi số ấn bản 200.000, 100.000 của những "Thơ Tố Hữu", "Thơ Hồ Chí Minh", "Dưới lá cờ vẻ vang..." của  thời kỳ Đảng và nhà nước còn tóm thâu hết mọi quyền sinh sát, phải trái. Chỉ mới bốn năm trước đây thôi, cuốn tiểu thuyết "Thời xa vắng " của Lê Lựu còn in được tới 30.000 bản, nhờ đề tài truyện là những trăn trở khó khăn của người bộ đội thời hậu chiến. Bốn năm sau, cũng với đề tài đó nhưng được viết sâu hơn, bi thảm hơn, tàn bạo khốc liệt hơn, cuốn "Thân phận của tình yêu" ( vừa được giải thưởng Hội Nhà văn VN cùng với cuốn "Bến không chồng " của Dương Hướng và "Mãnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc Trường) của Bảo Ninh chỉ in 2000 bản.

Theo một người cầm bút am tường sinh hoạt báo chí và xuất bản  ở Việt Nam mới đến Hoa Kỳ gần đây cho biết, thì một cuốn sách in được 2000 bản ở quốc nội được xem là ăn khách, bán chạy.

Số ấn bản ngày càng ít ỏi của sách đi ngược với số ấn bản ngày càng tăng của các loại báo đáp đúng thị hiếu bình thường của đại chúng. Cũng theo lời người bạn vừa mới tới Hoa Kỳ nói trên cho biết, thì tờ "Công an thành phố Hồ Chí Minh" nhờ chuyên khai thác các vụ án  và thủ tục xuất cảnh mà có thời in đến nửa triệu số mỗi kỳ. Các " lái báo" hiện sống như những ông hoàng đầy quyền uy ở Sài Gòn. Loại báo như "Kiến Thức Ngày Nay" ra hàng tháng mỗi kỳ in 100.000 số, và ở Sài Gòn  có đến 40 tên báo cùng thuộc loại đó, tức là một tuyển tập gồm  nhiều bài ngắn có hình ảnh hấp dẫn pha trộn một tí sex, một tí tình, một tí bạo lực, một tí chuyện lạ phương xa gợi óc tò mò, một tí mê tín dị đoan.... nghĩa là những kiến thức bình thường cho những cuộc sống bình thường. Không có những suy tưởng đau đầu hỏng kiểu, lại càng không có những lời kêu gọi, những bài hịch xuống đường...

Thuý Toàn than tình trạng đó "thật đáng tiếc", "thật đáng buồn" dù "không đáng ngạc nhiên trong lúc này". Tôi chưa biết rõ Thuý Toàn là ai, nên tạm suy diễn theo hai lối: tiếc và buồn vì cái thời Đảng độc quyền tuyên truyền không còn nữa, hoặc tiếc và buồn vì cụ Dostoievsky cụ Tagore không đủ sức cạnh tranh với La Lan, Từ Tốc. Thuý Toàn không ngạc nhiên vì biết rõ các hiện tượng đáng tiếc, đáng buồn ấy là sản phẩm tất nhiên của một xã hội bắt đầu nền kinh tế thị trường sau một thời kỳ dài thất bại, khốn cùng, và nghẹt thở  vì chính sách độc quyền kinh tế và tư tưởng.

Những hiện tượng hỗn loạn trên thị trường truyền thông ở Việt Nam chắc chắn không khác gì với các nước Đông Âu, Liên Xô, và cả Trung Quốc hiện nay. Báo chí nhà nước ở Bắc Kinh không ngớt than phiền về nạn sách báo video kích thích tình dục và bạo động cùng tiểu thuyết diễm tình từ Hongkong tràn vào Hoa lục - Cùng với công cuộc đổi mới - sản phẩm "tự do" dân Moscow được hưởng sớm sủa hơn hết là những loại  tạp chí như Playboy, Penthouse, Hustler... Đó là cái giá bắt buộc phải trả của một nền kinh tế thị trường, của một nền văn minh tiêu thụ dựa trên thị hiếu đại chúng mà làm đòn bẩy phát triển kinh tế. Trên thế giới, có lẽ chỉ có Singapore là quốc gia duy nhất vừa áp dụng chính sách tự do kinh doanh, vừa áp dụng chính sách kiểm soát văn hoá, cố duy trì một thứ luân lý Khổng Mạnh trong một xã hội kỹ nghệ hoá - nhưng liệu Lý Quang Diệu  duy trì được tình trạng ấy được bao lâu ?

Còn ở các nước kỹ nghệ hoá khác, hễ chấp nhận kinh tế thị trường thì đồng thời phải chấp nhận những hậu quả khó ưa của loại sách báo phim ảnh chạy theo thị hiếu của giới tiêu thụ.

Đáng tiếc, đáng buồn? Mặc! Việt Nam không thể ở ngoài thông lệ, khi nhà nước còn độc quyền tư tưởng, kiểm soát chặc chẻ việc sáng tạo, sản xuất và phân phối văn hoá phẩm theo nhu cầu chính trị, độc quyền ban phát ân huệ cho những người ngoan ngoãn và trừng trị cô lập đàn áp những ai chống đối, thì thơ Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, thơ Lê Đức Thọ, thơ Sông Hồng in vài trăm nghìn bản là chuyện tất nhiên. Quần chúng không được quyền chọn lựa, chỉ được quyền nhận sách và giả vờ ca tụng cho đẹp lòng bề trên. Nhưng khi nguồn ngoại viện chấm dứt, công khố trống rỗng, quản lý kinh tế và tài chánh tồi tệ gây thâm thũng lạm phát khủng khiếp, chế độ bao cấp phải ngưng thì những người ngoan ngoãn  phải đứng trước một lựa chọn: hoặc phải chịu nghèo đói để vừa lòng bề trên, hoặc phải chạy theo thị hiếu giới tiêu thụ.

 Thế giới chuyển biến từng ngày, chủ nghĩa Cộng Sản không còn chút hào quang nào, thần tượng giả hiệu sụp đổ - thì bề trên hết còn là kẻ đáng sợ. Ngược lại là khác. Vậy thì tại sao không chạy theo thị hiếu đám đông để sống còn trong thời buổi khó khăn này ?

Những gì giới cầm bút ở Việt Nam đang trải  qua, kẻ nô nức chộp cơ hội làm giàu, kẻ ngỡ ngàng luyến tiếc, thì giới cầm bút khắp nơi (nhất là ở các quốc gia tự do dân chủ về tư tưởng và cạnh tranh kinh tế theo luật cung cầu thị trường) đều đã từng trải  qua. Văn nghệ sĩ thay vì chỉ lo làm sao làm vừa lòng bề trên để hưởng bỗng lộc, phải diện đối diện với lương tâm của mình, diện đối diện với quần chúng thưởng ngoạn. "Sức mua"  của giới tiêu thụ là thước đo chính xác để biết người viết thỏa mãn  được yêu cầu của người đọc đến mức độ nào. Thị hiếu của đại chúng không có tốt xấu vì đó là luật đời, là dòng sống. Người xuôi theo dòng bao giờ cũng thuận chiều mát mái hơn kẻ bơi ngược dòng.

Một câu hỏi: Thế thì cái dòng sống của 68 triệu người Việt không "nuốt" nổi 1000 cuốn "Anh em nhà Karamazov" mà lại "ngốn" trọn 100.000 cuốn báo "Kiến thức ngày nay", để đắp chiếu "Bác sĩ Jivago" mà lại nâng niu sách vụ án, là cái dòng sống gì? Trong hay đục? Êm ả bình yên hay chứa đầy sóng ngầm? Nếu cứ lấy theo lẽ bình thường mà xét, thì trong một xã hội hỗn loạn, kinh tế suy sụp, đạo đức xuống dốc, trật tự tan rã như thế thì những tiếng nói của Dostoievsky, của Pasternak, hoặc những lời cảnh tỉnh can đảm của Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Bảo Ninh...phải  được 68 triệu đọc giả đón nhận nồng nhiệt - sách của họ, kịch của họ phải bán chạy như tôm tươi, phải giành giật nhau mà mua mới phải.

Tôi dò hỏi những người mới qua, được biết cả những sách tố cáo chủ nghĩa Cộng Sản, chống đối chính quyền Việt Nam cũng bị thờ ơ. Thế là thế nào? Những tuyệt phẩm của văn chương cổ điển thế giới bị thờ ơ còn hiểu được, vì nó xa vời quá, tinh hoa của nhân loại chắc chắn vẫn còn đó, không lúc này đọc thì lúc khác, chờ no đủ hơn, tâm trí thanh thản hơn ta hãy thưởng thức. Nhưng chuyện nóng hổi trước mắt là cái chủ nghĩa lỗi  thời, cái guồng máy chính quyền rệu rã bất lực trực tiếp gây ra cái nghèo cái khổ cái nhục cho ta, tại sao lại thờ ơ?

 Căn cứ theo số in, thị hiếu của đa số giới thưởng ngoạn Việt Nam  là tìm những món giải trí dễ dãi hấp dẫn chứ không tìm  những món chính trị đau đầu. Một thị hiếu của xã hội tiêu thụ trên một đất nước đang trăn trở về chính trị. Điều đó không bình thường. Điều đó chứng tỏ 68 triệu người Việt ở trong nước (kể cả những người từng một thời bị choáng ngợp vì lá cờ giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội) đang sống trong một cuộc khủng hoảng niềm tin tột độ. Họ không tin vào bất cứ điều gì nữa, họ khổ sở với những lúng túng trăn trở quá nhiều  nên quyết định buông trôi, phó mặc cho bản  năng và dòng sống bên ngoài đưa đến đâu thì đưa. Tình trạng đó chẳng những có hại cho những vận động cứu vãn Việt Nam trong hiện tại, mà còn di hại cho những vận động xây dựng tổ quốc trong tương lai. Người muốn duy trì chế độ Cộng sản than "đáng buồn, đáng tiếc" đã đành, người muốn chế độ đó tan rã để phục hồi tự do, dân chủ và thịnh vượng cho dân tộc cũng không nên mừng.

Những suy nghĩ trên đưa đến câu hỏi thứ hai: Trong tình trạng thị hiếu đám đông gặp khủng hoảng bất thường như thế, người cầm bút nên xuôi dòng hay nên lội ngược?
 Câu hỏi dễ khiến những người đang vùng vẫy cố ngoi lên khỏi dòng cuốn của đời sống khắc nghiệt tại Việt Nam nổi giận, câu hỏi của khán giả đứng an toàn trên bờ. Vâng, thì tôi xin đặt câu hỏi cho những người cầm bút nói chung, khi họ băn khoăn trước một câu hỏi cũng chung chung không kém: Viết cho ai? Biết luồn lách lúc nào cho hợp thời hợp thị hiếu thì lúc nào cũng được đám đông đón rước nồng hậu, danh vọng tiền bạc lúc nào cũng thừa mứa. Chạy theo sau đám đông thì phải an toàn, chẳng những không cô đơn mà còn đông vui náo nhiệt. Người viết theo thị hiếu của  đám đông phải có cái nhạy bén nắm bắt cho được bản năng muôn thuở của con người và ý thích trái chứng thay đổi bất thường của từng giai đoạn. Lại phải nhạy bén chộp đúng thời cơ để với tài năng, thúc đẩy thị hiếu ấy thành thời thượng, thành phong trào. Phải nhạy về thị trường như một nhà kinh doanh lão luyện. Phải có máu con buôn trong huyết quản.

Giới nghệ sĩ mẫn cảm dễ bị cảm xúc lôi cuốn, sống bằng trái tim hơn bằng đầu óc tính toán  nên ít người thành công trong lãnh vực kinh doanh này, may mắn lắm họ chỉ nhận được một phần nhỏ trong  khối lợi to tát do các tay con buôn văn nghệ chuyên nghiệp nhín cho. Vì không có óc kinh doanh nên đa số văn nghệ sĩ đành chọn con đường cô đơn hơn: viết cho mình để hy vọng những lời tâm sự riêng tư mang lại những hồi âm đồng điệu; hoặc tách ra khỏi đám đông, tách ra khỏi dòng sống, quan sát ghi nhận phê  phán nó để hy vọng trở thành "Chim báo bão". Sự lựa chọn đó là kết quả của nhiều khuyết tật: đam mê, thơ ngây, thiếu khả năng hội nhập, thiếu khả năng tác động lên cái dòng sống phức tạp trước mắt. Nói như Bertrand Russell, họ không đủ sức áp đặt quyền lực lên xã hội hiện tại như các chính trị gia, nên đặt hy vọng  quyền lực vào một môi trường ít gay go hơn là đời sống tinh thần và vị lai.

Người cầm bút làm "Chim Báo Bão" ? Chế Lan Viên là một tay phù thủy ngôn ngữ khi dùng hình ảnh đó để vuốt ve tự ái giới cầm bút, để quên đi thân phận "cỏ nội hoa hèn". Cơn bão đã tới, từ lâu, Chế Lan Viên vẫn không hề làm nhiệm vụ người dự báo thời tiết. Cho đến lúc lìa đời, ông chỉ dùng tài thơ và trí tuệ uyên bác của mình khua lên những lời báo động giả. Nhiều người cầm bút khác ở Việt Nam tuy tài  ba và kiến thức kém hơn Chế Lan Viên nhưng họ dám báo động thật. Họ đã xuôi dòng cho an thân, rồi đến một lúc nào đó, giật mình, trăn trở, họ quyết định bơi ngược, làm "Chim Báo Bão" đúng nghĩa.

Có một thời họ được đón nhận nồng nhiệt nhờ họ nói hộ cho đám đông những điều đám đông âm thầm ấp ủ trong lòng không dám nói ra. Thiên hạ đua nhau mua vé xem kịch Lưu Quang Vũ, phim Trần Văn Thuỷ, mua sách của Nguyễn Huy Thiệp, chuyền tay nhau những bản sao bài phát biểu của Dương Thu Hương. Cái thời những lời báo bão tuy còn rụt rè nhưng đã được in thành vài chục nghìn bản, diễn thành vài nghìn xuất trình diễn chiếu phim. Cái thời đó dường như đã qua, dành chỗ cho những cuốn sách tiêu chuẩn "Một cậu một cô một ô tô một nhà lầu". Giấc mơ no đủ giàu sang thay thế được những thao thức muốn xoá bỏ bất công nghèo đói để thực hiện giấc mơ thịnh vượng ?

Đỗ hết tội lỗi lên "thị hiếu" chẳng những không giải quyết được vấn đề, mà còn bất công. Thị hiếu không có tốt xấu, vì nó tự nhiên. Ngược lại, chính những người cầm bút mơ làm "Chim báo bão" phải tự nhìn lại mình, rà lại xem khả năng dự báo thời tiết đã chính xác chưa, tác phẩm của mình bị đám đông thờ ơ vì đâu?
Sẽ có người hỏi lại: Đám đông nào? Câu hỏi hợp lý! Có những đọc giả sẵn sàng bỏ tiền ra mua hàng lô sách vụ án đọc ngấu nghiến giữa hai cuộc thậm thụt làm ăn nhưng nhất định không thèm tò mò tìm biết cái ông râu rậm mắt nhìn lờ đờ điên dại trên bìa sách "Anh em nhà Karamazov" là ai - Sách của Dostoievsky không hợp khẩu vị của họ, và họ có quyền lựa chọn chứ! Họ là dân chợ trời ư? Thì đã sao! Không có dân chợ trời, không có những người cơ hội, không có những "lái" này "lái" nọ, dân Việt sẽ còn khốn khổ đến đâu  trong cái  guồng máy kinh tế tồi tệ mà  nhà nước cố nắm độc quyền. Họ có "Sứ mệnh lịch sử" của họ.

Cũng có những đọc giả gốc miền Nam (Việt Nam Cộng Hoà cũ) ôm nặng nỗi nhục nhằn bại trận, không còn tha thiết gì nữa, không còn tin ai nữa (nhất là những lời của kẻ thắng). Một người bạn của tôi năm 1989 về Sài Gòn hỏi ý kiến một bạn văn khác (còn ở lại) về tiểu thuyết những cây bút như Trần Mạnh Hảo, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp. Người bạn đó trả lời gắt gỏng: "Việc chúng nó cấu xé nhau, mày để ý làm gì!"
"Chúng ta" , "Chúng nó"... dường như đây là vấn đề chính, là mắc mứu quan trọng, khiến ngay những người cầm bút muốn làm "Chim Báo Bão" cũng lúng túng, nghĩ nửa vời, viết nửa vời. Tôi có cảm tưởng đó khi đọc những bài thơ, những ký, những truyện ngắn truyện dài nhiều ít có tính chân thực, tính phản kháng được xuất bản ở Việt Nam mấy năm gần đây. Không ai phủ nhận được thiện chí và lòng thảnh thực của những người "báo bão" ấy. Sự  giả dối không lọt vào được  nghệ thuật. Họ muốn " giải ảo" khi phát biểu về văn nghệ "phải đạo", cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tàn nhẫn, kể cả những bạo hành điên loạn của cuộc chiến tranh vừa qua.

Nhưng rõ ràng là họ vẫn hãnh diện là kẻ thắng, và không hề muốn nhường cho ai cái quyền của kẻ thắng. Mười sáu năm đã trôi qua từ ngày Nam Bắc trở thành một nước, nhưng thử đọc hầu hết sách văn chương được xuất bản ở Việt Nam, chúng ta thấy tâm tình của người miền Nam, đời sống của người miền Nam hoàn toàn mờ nhạt, đôi khi méo mó dị hình. Sân khấu vẫn do kẻ thắng độc quyền, dù trên đó diễn hài kịch tô hồng hay diễn bi kịch giải  ảo. Tôi có cảm tưởng những "Chim báo bão" ấy đang nghĩ: "Công nhận chúng ông sai, nhưng chỉ có chúng ông mới được quyền sửa sai. Xê ra, cho chúng ông cứu nước!"

Vì thế văn  chương "báo bão" chỉ phản ảnh được tâm trạng của những người miền Bắc, xã hội miền Bắc trong cuộc khủng hoảng niềm tin trầm trọng này - Người  bạn văn ở Sài Gòn gắt gỏng nói chuyện "chúng ta chúng nó",  vì ngay cả những bạn đồng nghiệp chịu "giải ảo" nhất cũng còn đặt ra ranh giới "chúng ta chúng nó". Văn chương phản kháng chỉ mới là vấn đề của "chúng ta, kẻ thắng trên chiến trường nhưng thất bại thảm hại trong thời bình". Còn kẻ thua trận còn sống nhan nhản  quanh đây, tuy ngày thường gặp nhau vẫn mày tao cà phê thuốc lá, nhưng chỉ là phy  diễn, hoặc  là cái bị bông để đấm khi tức giận vu vơ. Do đó mới có một quy luật bất thành văn: "Điều này chúng ông nói được, nhưng tụi bây không được phép nói". Nguyễn Huy Thiệp viết thế thì được, Doãn Quốc Sỹ viết thế thì đi tù. Phạm Thị Hoài viết thế thì được, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ viết thế là "nọc độc Mỹ Nguỵ " , Nguyễn Duy làm thơ như thế thì không sao, Tô Thuỳ Yên viết thế thì lại đi cải tạo.

Có cái gì đưa đẩy tới niềm kiêu hãnh mặc nhiên và lòng khinh thị đáng ghét đó? Tờ Văn Nghệ của Hội Nhà Văn Việt Nam vẫn còn in trang trọng hàng chữ đầu trang bìa  khẩu hiệu: "Vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội". Bài vở trên Văn Nghệ chứng tỏ vế sau "vì chủ nghĩa xã hội" đã gượng gạo, bất đắc dĩ lắm rồi. Còn vế đầu "vì tổ quốc" thì vẫn dõng dạc như xưa!

Bất cứ người Việt Nam nào, dù khác nhau về quá khứ, chính kiến,  giai tầng xã hội, dù hiện sống trên quê hương hay phải lưu lạc tha phương cầu thực, đều có chung một nỗi đau khi quê hương lầm than, đồng bào của mình bị đánh đập khinh bỉ nơi xứ người, đều vui mừng khi dân tộc được no ấm, hạnh phúc. Ai cũng thành thực vui buồn theo vận nước, "vì tổ quốc". Không  ai được tự xem chỉ có mình mới độc quyền yêu nước, chỉ có mình (kể cả những lầm lẫn thất bại) mới "vì tổ quốc". Khi đã  chấp nhận được  điều đơn giản ấy, thì không còn những sự thực nửa vời, những giải ảo nửa vời, những báo bão nửa  vời.
Và biết đâu được, số in mỗi tác phẩm văn chương chẳng những tăng gấp đôi, mà còn gấp mười, gấp trăm!



Nguyễn Mộng Giác






------------------------
Nguồn: Văn, Giai phẩm xuân Nhâm Thân
Số 114-115 tháng 12-1991 và tháng 1-1992











Sunday, September 11, 2016

NGƯỜI ĐÀN BÀ MÙ Ở BẮC KINH




                                                                            Nguyễn Hữu Trí

 

Như cái máy, tôi đưa tờ báo lên che đầu. Tôi chạy một mạch băng qua đường vào cái quán nước bình dân ở đầu con hẽm. Mưa đổ thình lình khiến mọi người nhốn nháo tìm nơi trú ẩn. Tôi đưa mắt liếc nhanh một vòng chừng một chục chiếc bàn chật ních khách ăn. Chỉ còn lại một chiếc ghế trống nơi cái bàn nhỏ trong góc phòng. Từ đàng xa, một phần vì ánh đèn không đủ sáng  của quán ăn, một phần vì mắt kiếng nhoè nhoẹt hơi nước, tôi chỉ thấy lờ mờ hai người đang ngồi ở đó. Tiến lại gần hơn một chút, tôi nhận ra đó là một phụ nữ và một đứa bé trai chừng sáu bảy tuổi. Cả hai ngồi im lặng giữa khung cảnh ồn ào của quán ăn. Đứa bé đôi mắt lim dim có vẻ mệt mỏi. Người đàn bà thì nhìn thẳng vào khoảng trống không trước mặt. Gương mặt hơi rám nắng của bà an lành và bình thản như một kẻ đang tham thiền. Lối phục sức của họ khá chừng mực, không sang không hèn. Tôi đến xin phép ngồi xuống chiếc ghế còn trống. Người đàn bà giựt mình nhưng mắt vẫn nhìn xa vắng. Bà nói rất nhanh, giọng trong trẻo khác thường:
-Xin ông cứ tự nhiên.

Tôi cũng hơi sửng sốt khi nhận ra cặp mắt trắng dã của người phụ nữ. Cố tật suy nghĩ vẫn vơ nhanh tay túm lấy tôi. Những ý nghĩ thầm kín đó như đang chất vấn đấng cao xanh: Tại sao có thể như vậy được ? Tại sao một gương mặt xinh xắn như vậy lại phải chịu cảnh mù loà ? Cặp mắt to tròn kia nếu sáng láng chắc chắn sẽ thu hút cả vũ trụ và càn khôn.

Tôi ngồi xuống ghế, xoay người lại làm dấu gọi người phổ ky đang nhìn tôi từ đàng xa. Tôi cần ăn một chút gì để làm dịu cái đói đang cồn cào trong bụng. Tôi đi lang thang từ sáng đến giờ quên cả tiếng kêu thảm  thiết của cái bao tử xẹp lép của mình. Ngồi chờ thức ăn, tôi định giở tờ báo ra xem tiếp. Cùng lúc ấy, giọng nói trong như pha lê của người phụ nữ mù lại vang lên. Bà ấy bắt chuyện với tôi tuy đôi mắt vô minh vẫn nhìn xa xôi vào quãng không gian nhỏ hẹp trước mắt.

-Tôi thành thật xin lỗi ông, nhưng ông đã làm cho tôi suýt gọi tên anh ấy. Thật khó có hai người giống nhau đến như vậy. Người phụ nữ ngừng lại có vẻ đang chờ đợi một câu đáp lễ nào đó.

Nhưng tôi đang ngạc nhiên không hiểu nổi làm cách nào bà có thể nhận được diện mạo của tôi. Dĩ nhiên tôi bắt buộc phải hỏi:
- Xin lỗi bà. Nhưng bà làm sao trông thấy tôi cho được ?
- Tôi biết, đối với những người còn đôi mắt nguyên vẹn thì đây là một điều khó hiểu. Nhưng đối với những kẻ mù loà như tôi thì được cái Trời thương ban cho tôi một giác quan thứ sáu rất bén nhạy. Chỉ cần nghe giọng nói và cảm nhận những cử chỉ của ông, tôi có thể "thấy" ngay là ông rất giống anh ấy.

Chỉ một phút qua, người phụ nữ đã lập lại hai chữ "anh ấy" đến hai lần rồi. Điều đó khơi dậy óc tò mò nơi tôi. Tôi chưa kịp định bụng có nên hỏi thêm hay không thì người phụ nữ đã e dè hỏi tiếp:
- Nếu tôi không lầm thì ông là khách từ phương xa đến ?

Người phụ nữ đưa tay sờ soạn  kéo chiếc ghế của đứa bé lại gần bà. Thằng bé dúi đầu vào lòng người phụ nữ và rơi nhanh vào một giấc ngủ hồn nhiên. Sự dè dặt nơi người đàn bà trước mặt tôi hình như cũng vừa biến mất. Đầu cúi hơi thấp và đôi mắt hướng xuống mặt bàn, bà bắt đầu kể mà không cần một lời giáo đầu nào. Bà cũng không cần biết người đối diện có muốn nghe câu chuyện của bà hay không. Hình như bà đã chờ đợi cơ hội này từ lâu lắm vì đã dấu kín tâm tư cho tới ngày hôm nay.
Hoặc giả bà đã đọc được những câu hỏi đang lởn vởn trong đầu óc tôi.

Từ bao giờ bà đã bị mất ánh sáng ? Bà cư ngụ ở đâu ? Bà làm gì để sinh sống ? Đứa bé này có phải là con của bà hay không và cha nó ở đâu ? Có thật là cái giác quan mãnh liệt kia đã giúp bà "nghe" được tất cả những câu hỏi chưa thốt ra đó hay không. Riêng đối với tôi, ở nơi xa lạ này, tự dưng được nghe một câu chuyện "tâm tình trao gởi" quả thật là một dịp may khó tìm. Bà kể không chút ngại ngùng như cho một cố tri vừa gặp lại sau một thời gian dài vắng bóng.


Anh ấy ra đời ở Hương Cảng và đã trãi qua một thời thơ ấu vô cùng buồn thảm. 
Cha anh làm nghề tài xế lam lũ đầu tắt mặt tối nhưng vẫn không nuôi nổi bảy tám miệng ăn trong gia đình. Sống trong cảnh đói lạnh là chuyện thường tình đối với họ. Điểm đặc biệt là ngay từ khi mới biết đi biết nói, anh là người thương yêu anh chị em mình một cách khác thường. Anh sẵn sàng nhường nhịn mọi thứ cho những người xung quanh. Vậy mà trớ trêu thay ! Khi muốn bớt một miệng ăn trong gia đình, anh lại là đứa bé bị cha mẹ chọn đem cho một người cô giàu có.  Người cô này hiếm muộn nên đã xin một đứa cháu làm con nuôi. Mới ba bốn tuổi đầu, anh ấy đã phải rời xa những 
người thân yêu nhất đời. Đau đớn nhất là phải chịu dứt tình mẫu tử, thiếu vắng hơi hướm nồng nàn của mẹ từ ngày chưa hưởng trọn niềm vui gần mẹ.

 Anh đã úp mặt xuống đất khóc than xin ở lại nhà. Cha mẹ anh cũng đau lòng không ít nhưng trước đó họ đã mất một đứa con chỉ vì thiếu ăn và thiếu thuốc chữa chạy khi đứa bé ấy lâm trọng bệnh. Họ không muốn "tử biệt" thêm một đứa thứ hai nên đành bấm bụng chọn cảnh "sinh ly" với hy vọng một ngày nào đó sẽ gặp lại con. Cuối cùng anh ấy phải khăn gói lên đường về ở với người cô tận bên Đài Bắc.

Mười mấy năm lớn lên xa cha mẹ và anh em, anh ấy chỉ được theo cô về thăm nhà một đôi lần. Dù được người cô tận tình nuôi nấng và dạy bảo, cái tâm trạng lạc lõng đơn côi lúc nào cũng đeo đuổi theo anh suốt thời thơ ấu và thanh niên. Đến khi vào đại học thì đó là lúc anh không còn thuận thảo với cha mẹ nuôi nữa. Tuy không bao giờ quên ơn dưỡng dục của cha mẹ nuôi, anh cũng không thể chiều ý hai ông bà. Số là cô dượng anh ấy có một công ty xuất nhập cảng đồ sộ  và muốn anh theo học ngành kinh doanh để sau này trông coi cơ nghiệp đó và giúp họ trở thành những người giàu có nhất nước, hoặc nhất nhì thế giới càng hay.

Ngược với ý muốn của họ, anh ấy lại mê văn chương thi phú trên hết mọi thứ. Anh ấy là người biết rõ  số phận của lớp cùng đinh trong xã hội này hẫm  hiu đến độ nào. Vậy mà tiền của bạc vàng đối với ảnh chỉ là những vật phù phiếm đứng hàng thứ yếu trong đời. Thật ra, cha mẹ nuôi  của anh ấy đã bắt đầu thất vọng ngay từ khi thấy những bài thơ  đầu tiên của anh ấy xuất hiện trên những tờ báo học trò. Rồi sau đó, khi anh ấy sắp từ giả ghế nhà trường trung học, một vị giáo sư yêu thơ của anh đã tận tình giúp anh xuất bản tập thơ đầu tay. Từ đó nhanh như chớp mắt, tên tuổi anh đã vang lừng khắp nước. Và cũng chẳng mấy chốc, thơ của anh được phát hành ở Hương Cảng,  đưa lén vào Hoa Lục, rồi dần dà được dịch ra nhiều thứ tiếng. Người ta chiêm ngưỡng thơ anh vì những tư tưởng lạ 
lùng trong đó. Người ta phổ nhạc những bài thơ tình vượt thời gian và không gian của anh. 

Có điều đáng ngại (hay đáng buồn ?) là danh tiếng của một nhà thơ siêu đẳng trên thực tế chẳng đem lại cho anh giàu sang phú quý gì. Sau khi không thuyết phục được anh, cô dượng anh không tiếp tục nuôi anh ăn học nữa. Vậy là anh ấy kéo lê cuộc sống của một sinh viên nghèo ở bậc đại học cho đến ngày giật lấy  mãnh bằng cử nhân văn chương. Sau đó anh dứt khoát ra đời làm nghề dạy học. Lúc ấy, cha mẹ nuôi của anh tìm anh và bắt buộc anh hằng tháng phải đưa cho ông bà  một số tiền kiếm được  mặc dầu nó chẳng nhiều nhỏi  gì đối với họ. Phải chăng họ còn tức giận anh  và chỉ muốn  trừng phạt anh  vì đã cãi lời họ. Anh kính cẩn đền đáp công đức  cù lao của họ, không một tiếng kêu than. Anh tiếp tục sống đạm bạc để gửi số tiền dành dụm còn lại về cho cha mẹ ruột nuôi nấng đàn em.

Anh đi dạy được mấy năm, nhưng sau một vụ hè nọ người ta không thấy anh trở lại trường. Và cũng từ đó, tại khắp Đài Bắc và nhiều nơi khác tin tức cho hay nhà thơ yêu dấu của họ mất tích. Nhưng rồi một thời gian sau thiên hạ cũng quên lãng dần  và không còn bận tâm  tới vụ này nữa. Và dĩ nhiên người ta không còn thấy xuất hiện những bài thơ ký tên anh. Sự thật là anh ấy đã cùng một người bạn con nhà giàu rủ nhau sang Hoa Lục với một mục đích được dấu kín. Họ đã phải nhọc công  từ Hương Cảng tìm đường xin giấy tờ vào Thượng Hải.

Lúc bấy giờ tôi là một thành viên trong đoàn văn công của thành phố Thượng Hải, là nơi tôi đã ra đời và lớn lên. Chắc ông không tài nào đoán được tôi đã từng giữ vai tuồng nào trong đoàn văn nghệ đó đâu. Tôi không dám hợm mình tự khoe nhưng sự thật tôi là một nghệ sĩ cột trụ của đoàn. Tôi rất trội  trong tất cả các bộ môn ca, vũ, kịch và biểu diễn  nhào lộn. Chắc ông cũng từng được xem cái màn cả chục người  cùng đi trên  một chiếc xe đạp chạy trên sân khấu chứ ? Tôi nắm một địa vị chủ chốt trong màn biểu diễn đó. Nhà nước rất cưng tôi và số người mến  mộ tôi nhiều  không kể xiết. 
Đặc biệt tôi đã đóng vai  một phụ nữ mù kéo lê cuộc sống gian truân dưới thời phong kiến trước kia.
Nhờ Trời thương ban cho tôi biệt tài diễn xuất cho nên vai tuồng nọ đã làm nhiều lớp khán giả phẩn uất và xúc động đến rơi lệ. Tôi đương nhiên trở thành "Người  đàn bà mù của Thượng Hải" .

Tôi đã phải giả làm người phụ nữ mù ấy suốt mấy năm trời. Một đêm nọ, sau khi tấm màn nhung hạ xuống lần cuối cùng, tôi bước ra sân khấu chào tạm biệt khán giả. Tôi nghe tiếng vỗ tay tán thưởng  rầm trời,  nhưng thình lình mắt tôi hoa lên rồi mờ hẳn đi và cảnh tượng trước mắt tôi cũng lui dần vào bóng tối. Người ta đưa tôi vào bệnh viện và tìm cho tôi các bậc danh y,  nhưng sau nhiều cố gắng, tất  cả đều bỏ cuộc đành trao cho tôi bóng tối miên trường. Thế giới mù loà của tôi kể từ đó chẳng khác nào chiếc sân khấu trống lạnh  đằng sau tấm màn nhung không một ánh đèn hiu hắt.

À...nhưng tôi quên kể cho ông nghe là chúng tôi đã gặp nhau hơn hai năm trước khi xảy ra vụ này. Thật ra, khi tai nạn khủng khiếp đó đến với tôi, anh ấy đã rời xa Thượng Hải rồi. Đêm cuối cùng gần nhau anh ấy có hứa sẽ trở lại tìm tôi. Những tiếng thì thầm nọ tôi còn nhớ rõ như vừa mới nghe hôm qua: "Em nên nhớ rằng em là người yêu duy nhất của anh. Anh sẽ tìm cách tiến thân trong một thời gian ngắn nhất và sẽ trở về với em". 

Anh ấy ra đi rồi tôi mới biết  mình đã cấn thai  đứa nhỏ này. Nghĩa là anh ấy đã lao vào đời tôi  như một mũi tên, để lại trong tôi một giọt máu đào, rồi vụt bay đi như một cánh chim của bốn phương trời. Tôi tin anh ấy yêu tôi bằng cả tấm lòng nên tôi quyết tâm chờ đợi. Ở một phương trời xa lạ nào đó, người yêu của tôi nào biết rằng anh ấy có một đứa con khôi ngô  và ngoan ngoãn như thế này, phải không ông ? Anh ấy cũng chẳng biết là tôi đã phấn đấu cùng quẫn như thế nào đứa bé này  mới có mặt  trên cõi đời hôm nay. Tôi chẳng màng chi tiếng đời dị nghị nhưng lệnh của nhà nước mới là điều khiến tôi bận tâm. Họ buộc tôi phải phá thai  vì đoàn ca kịch nọ  không thể thiếu tôi đóng vai người đàn bà mù.

Tôi kịch liệt phản đối đề nghị của ban quản đốc. Cuối cùng họ đã nhượng bộ và cho tôi nghỉ phép nửa năm. Sau khi sinh cháu bé này tôi trở lại làm việc nhưng chẳng mấy vui. Số là trong thời gian tôi nghỉ phép, đoàn ca kịch đã tìm được một thiếu nữ khác thay thế tôi. Cô ấy hao hao giống tôi nhưng dĩ nhiên là trẻ trung và mạnh khỏe hơn nhiều. Phải công nhận người thiếu nữ nọ là một nghệ sĩ tài ba nên chẳng mấy chốc cô đã tiến lên ngôi vị khá cao. Các giới phê bình và hâm mộ bắt đầu sắp cô đồng hạng với tôi. Chúng tôi thay phiên nhau đóng vai người phụ nữ mù trong vở ca kịch kia. 

Bỗng dưng Thượng Hải có tới hai phụ nữ "mù" nỗi tiếng chớ không phải một như trước kia. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, ban quản đốc bắt đầu tỏ thái độ lạnh nhạt đối với tôi. Tuy tuổi đời và tuổi nghệ thuật của tôi chưa có là bao nhưng tôi đem áp dụng ngay cái mà người đời thường gọi là "luật đào thải". 
Tôi làm đơn xin ra khỏi đoàn về nhà ăn bám mẹ tôi. Cũng may trước kia cha tôi có cất dấu và về sau để lại  một gia tài bí mật nho nhỏ cho bà. Nhờ vậy mà tôi đỡ lo nuôi mình và nuôi con. Vả lại vào thời điểm ấy trong cuộc đời bắt đầu  chuyển hướng của tôi chỉ có anh ấy là đáng kể. Kỳ dư không còn một thứ gì khác trên thế gian này có giá trị vượt trội đối với tôi, kể cả sự nghiệp cầm ca mà tôi từng ấp ủ  suốt bao nhiêu năm trời.

Trong thời gian trở lại làm việc sau khi sinh nở, một đêm kia sau giờ trình diễn, có một người lạ mặt tìm gặp tôi ở hậu trường. Người đàn ông đó tự giới thiệu là một người bạn của anh ấy. Ông ta trao cho tôi một lá thư viết vội của anh ấy gửi cho tôi. Ngoài ra ông ta cũng đưa cho tôi  một xấp giấy, bảo rằng đó là mấy chục bài thơ mới nhất của anh. Tới lúc bấy giờ anh ấy và tôi đã xa nhau gần hai năm trời đăng đẳng. Được tin anh ấy đang ở Bắc Kinh tôi mừng vô kể và nỗi nhớ quay quắt trong tôi vơi  cạn phần nào. Người đàn ông nọ cần đi gấp nên không thể chờ tôi hồi âm. Về nhà đọc thư tôi mới vỡ lẽ ra rằng trong thư không ghi địa chỉ anh ấy. Đại để anh viết rằng Bắc Kinh không xa 
Thượng Hải là bao nhưng thời gian chưa thuận tiện để anh ấy trở lại tìm tôi. Anh muốn nhắc cho tôi nhớ rằng anh vẫn giữ trọn mối tình son sắt cho tôi  và vẫn còn mơ một ngày về không xa.

Tôi thẩn thờ đọc những bài thơ mới của anh, giựt mình thấy anh đã hoàn toàn thay đổi chủ đề và giọng điệu. Ngoại trừ một bài viết để tặng riêng tôi,  không còn những bài thơ trữ tình ca ngợi tình yêu  lãng mạn như xưa. Rõ ràng là đã có một cơn  lột xác tận cùng xương tủy. Trước mắt tôi là những giòng  thơ hùng tráng ca ngợi tự do, dân chủ và hoà bình. Bên tai tôi khi đọc lên là  những lời thơ kịch liệt chống đối chế độ và đòi lại những quyền cơ bản của con người. Thể tài có thay đổi nhưng phẩm chất trong thơ anh vẫn thế, vẫn có giá trị vô song.

Sau lần đó, tinh thần tôi lên cao đôi chút. Tuy vắng bóng anh ấy nhưng tôi trộm nghĩ rằng trước hết anh là một nhà thơ nên rất cần sống một đời thơ. Ai lại nỡ "bắt nhốt" thi sĩ bao giờ, phải không ông ? 
À...tí nữa tôi lại quên kể cho ông nghe một chi tiết khác trong cuộc đời anh ấy. Nói chuyện "cầm tù" thi sĩ tôi mới nhớ ra rằng tôi bỏ sót chuyện anh ấy đã một lần bị cha mẹ nuôi toan "quản thúc" anh kiểu đó. Mặc dầu bỏ mặc anh với cuộc sống tự lập nhưng sau khi anh tốt nghiệp đại học và nỗi tiếng là một nhà thơ lớn, cha mẹ nuôi của anh đã thay đổi thái độ. Thật ra họ chẳng ưa thích gì cái trò "thơ thẩn" của anh, song dĩ nhiên họ cũng nở mặt nở mày trước những thành công rạng rỡ của anh trong lĩnh vực này. 

Hai ông bà vốn quen biết nhiều người trong giới doanh thương ở  Đài Bắc. Một trong các gia đình đó cũng giàu có như họ đã bằng lòng gã con gái cho anh ấy, dĩ nhiên là do cha mẹ anh ấy nhờ  mai mối hỏi han. Tôi chưa bao giờ mở miệng hỏi anh  về mối tình kia hoặc cuộc đời vợ chồng sau đó anh có hạnh phúc không. Tôi không biết anh quyết định lập gia đình chỉ vì muốn làm tròn bổn phận một đứa con hiếu thảo, hay là anh ấy thật tình yêu quý thiếu nữ nọ. Tôi chỉ biết rằng người thiếu nữ kia rất yêu văn chương của anh và hai người có với nhau một đứa con trai. Nghĩa là đứa bé đang ngồi ngủ ở đây lại có một thằng anh cùng cha khác mẹ ở một nơi xa xôi vời vợi và chưa biết bao giờ chúng mới được gặp nhau. Mà tôi cũng chẳng biết anh ấy có hứa hẹn một ngày nào quay lại với họ hay không.

Sau khi thôi việc ở đoàn ca kịch, tôi ru rú trong xó nhà với mẹ tôi suốt mấy tháng liền. Bỗng một hôm từ trong cửa sổ tôi vô tình nhìn lên  mấy cụm mây đang trôi lơ lững giữa bầu trời trong xanh. Tôi tự nhủ, mây là vật vô tri  mà còn biết lặn lội tìm nhau huống hồ tôi là người có tâm hồn sao lại không biết đi tìm người. Tôi quyết định đi tìm anh ấy với bất cứ giá nào.  Tôi khăn gói sẵn sàng nhưng chưa kịp lên đường thì đã xảy ra vụ lộn xộn ở Quảng trường Thiên An Môn. Tôi đành hoãn lại chuyến đi, nhưng ngay sau khi tình hình lắng dịu tôi sang Bắc Kinh ngay. Và hơn hai năm nay tôi đã lùng kiếm anh ấy khắp thành phố này nhưng chưa được cái may mắn gặp lại người yêu.


Người đàn bà mù ngưng kể câu chuyện ở đó. Bà quờ quạng đưa tay chỉ lên mặt bàn:
- Xin lỗi, mời ông dùng kẻo nguội.
Tôi quay lại nhìn đĩa thức ăn người phổ ky mang lên lúc nào tôi không hay. Thằng bé cựa mình, ư ư mấy tiếng, trở đầu úp má lên lòng mẹ ngủ tiếp. Người đàn bà hơi rụt rè:
- Ông đến Bắc Kinh có công việc ?
Tự nhiên tôi không cảm thấy khó chịu trước câu hỏi tò mò kia. Ngược lại, tôi thấy rất thoải mái trước mặt người phụ nữ xa lạ này.
- Thưa không. Tôi đến đây vì có một người quen ở đây.
- Quý hoá quá! Chắc ông đã vui mừng gặp bạn ông rồi chứ ?
- Thưa thật với bà, tôi chưa gặp. Và chắc là tôi sẽ không gặp.
- Xin lỗi ông, nhưng điều ông vừa nói nghe lạ tai quá !
- Tôi tự nhủ thế nào bà cũng nghĩ như vậy. Tuy nhiên, nếu bà cho phép, tôi cũng xin kể vắn  tắt câu chuyện về "cô ấy".
Tôi ngước mắt lên dò dẫm phản ứng của người phụ nữ mù. Tôi bắt gặp khuôn mặt thanh tú, đầu hơi cúi, hai mắt khép lại một thoáng và đôi riềm mi  cười rung rung ưng thuận. Tính tôi không phải bạ ai cũng đem chuyện thầm kín riêng tư của mình ra kể. Nhưng người đàn bà trước mặt tôi dường như có một sức hút thần bí nào đó khiến tôi như bị một cơn lốc tình cảm cuốn phăng. Và tôi đã trao gửi chuyện lòng cho bà ta một cách gần như vô lý.


Cô ấy bước ra khỏi cuộc đời tôi không một lần ngoảnh mặt lại. Và lý do tại sao thì chỉ có đấng cao xanh và một mình cô ấy biết mà thôi. Bà có thể tưởng tượng nổi hay không chứ ? Chỉ còn một tuần nữa là tới ngày cưới của chúng tôi. Vậy mà tự dưng cô ấy biến mất tăm dạng không một lời nhắn gửi...như...như cái gì bà nhỉ ? Tạm gọi như một làn khói nhoà tan vào một vùng trời bát ngát. Chính gia đình cô ấy cũng không biết cô đi đâu. Mãi về sau nhờ một sự tình cờ chúng tôi mới khám phá ra là cô ấy đã đi tu, hiến dâng cuộc đời cho Chúa Cứu Thế. Dĩ nhiên là tôi đau khổ vì tôi yêu cô ấy thật tình. Nhưng điều đã dằn vặt tôi nặng nề nhất chính là vì tôi chẳng hiểu đầu đuôi mô tê gì ráo. Tôi bắt đầu đi tìm câu trả lời. Trong khi tôi xôn  xao đi tìm sự thật thì dường như cô ấy thản nhiên cho rằng giải  thích hành động của cô là điều không cần thiết. Tôi chỉ đoán già đoán non vậy thôi chứ làm sao tôi biết được cô ấy nghĩ gì.

Một thời gian sau tôi đành   cúi đầu thần phục định mệnh. Tôi bỏ cuộc nhưng cùng lúc ấy tôi đã tự tạo cho mình  một thói quen khá kỳ lạ. Cô ấy được nhà Dòng gửi đi làm công tác xã hội ở nhiều nơi. Sau khi dọ hỏi, tôi luôn luôn tìm đến nơi cô ấy đang phục vụ. Tôi đã đi khắp, từ Âu Châu sang Á nhưng cốt không gặp mặt người yêu. Tôi chỉ muốn nhìn xem phong cảnh nơi người yêu tôi đang sống xinh đẹp như thế nào. Mục đích của tôi chỉ có như vậy thôi. Có thể đó cũng là một cái cớ  để tôi đi du lịch đó đây. Nhưng đồng thời tôi đã vô tình cảm thấy vui thích trong cái công việc chạy theo một bóng mờ mờ ảo ảo. Tôi nghe nói cô ấy đang làm việc tại một viện dưỡng lão ở Bắc Kinh này nên tôi đã vội vàng đến đây. Và dĩ nhiên tôi sẽ không tìm gặp cô ấy nữa vì một lý do rất giản dị. Tôi đã bỏ cuộc từ lâu lắm rồi.
   
Người đàn bà mù đột nhiên cắt ngang câu chuyện của tôi. Giọng bà đầy nhiệt tình của kẻ yêu đời.
- Xin lỗi ông, nhưng tôi không muốn nghe thêm  vì chừng đó cũng đủ  để tôi hoàn toàn không đồng ý với ông. Tôi trộm nghĩ ông đã sai lầm khi quyết định bỏ cuộc không tiếp tục tìm gặp người yêu. Ông bỏ cuộc tức là ông không thật tình yêu thương cô ấy. Trong tình yêu, ông cần phải vị tha. Hơn nữa, cuộc đời này quá đẹp, tại sao ông sớm bỏ cuộc ? Tôi không thể nào chấp nhận lối  suy nghĩ của ông.

- ----

- Tôi xin lỗi đã bộc bạch ý nghĩ chân thành của mình một cách đường đột như vậy. Chúng ta chỉ là hai kẻ lạ tình cờ gặp  nhau một buổi chiều mưa nơi hai đốm nhỏ rí trên mặt đất bao la này. Rồi tự dưng đem chuyện tâm tình  kể cho nhau nghe. Ông có nghĩ rẳng chúng ta vô tình  hành động như vậy chỉ vì muốn trút bớt  nỗi niềm đơn độc  đầy ắp  trong tâm hồn chúng ta hay không? Nhưng thôi...tôi xin nói thẳng với ông rằng tôi rất tự hào  là tôi chưa bỏ cuộc. Tôi yêu thương cuộc đời này bất chấp những điều đen tối. Vả lại hình ảnh của anh ấy lúc nào cũng đậm  đà trong trí nhớ tôi. Và tôi tự hứa sẽ mãi mãi  đi tìm cho đến khi nào  tôi gục ngã mới thôi.


Người đàn bà mù đánh thức đứa bé và chậm rãi đứng dậy kiếu từ tôi. Bất thình lình bà nói giọng nhỏ nhẹ :
- Tôi có vài điều muốn thưa với ông. Nếu không có gì bất tiện tôi xin được gặp lại ông ở đây vào chiều mai. Xin trân trọng chào ông.

Tôi ngỡ ngàng nhìn theo đứa bé dắt người đàn bà mù ra khỏi quán. Tôi quay lại nhìn đĩa đồ ăn đã nguội ngắt từ lâu. Một lớp mỡ trắng phếu đọng lại sền sệt trên mấy miếng thịt và cọng rau trong đĩa. Tôi rót cho mình một tách trà nóng và uống cạn một hơi. Tôi trả tiền cho người phổ ky  và bước ra mái hiên  quán nước  chưa biết đi đâu. Phía dưới chân tôi, một dòng nước mưa nho nhỏ chảy quanh dọc theo bậc thềm mòn lở. Bỗng dưng tôi tưởng tượng ra một dòng sông lớn, nước trôi cuồn cuộn. Giữa những bọt bèo trong dòng  sông nọ, tôi chợt thấy đang loi  ngoi bóng dáng của người đàn bà mù và đứa bé  và của chính tôi.


Chiều hôm sau tôi trở lại quán nước nọ. Vào bên trong, tôi không thấy người đàn bà và đứa bé đâu cả. Tôi không hiểu tại sao nhưng tôi đang sốt ruột mong gặp lại họ. Chờ mãi không thấy, tôi trở ra ngoài. Đang nhìn quanh quất thì hai mẹ con một người ăn mày tiến lại gần tôi. Tôi suýt buộc miệng la lên khi nhận ra đây chính là người đàn bà mù  với đứa bé mà tôi vừa trò chuyện hôm qua. Nhưng hôm nay, bà ấy đeo kiếng đen, tay cầm một chiếc gậy gỗ khẳng  khiu. Cả hai mẹ con ăn mặc rách rưới bẩn  thỉu. Người đàn bà hạ thấp giọng xin gặp tôi nơi gốc cây cổ thụ ở sâu bên trong con hẽm. Thằng bé nhanh chân dắt mẹ đi về hướng đã hẹn. Tôi rảo bước theo giữ một khoảng cách khá xa. Tôi vừa đến dưới gốc cây thì người phụ nữ đã nói một mạch vừa đủ cho một mình tôi nghe:


- Thưa ông, trước hết tôi xin lỗi đã nói dối ông một điều. Toàn thể câu chuyện tôi kể cho ông nghe hôm qua đều là sự thật, ngoại trừ một điều, tôi không hề bị mù như tôi đã nói với ông. Suốt thời gian còn đóng vai người mù, hằng đêm khi bức màn nhung buông xuống lần cuối cùng, tôi cứ nơm nớp lo sợ là mình sẽ bị mù thật. Nhưng nhờ Trời tôi vẫn còn đôi mắt nguyên vẹn. Giờ đây, tôi chỉ giả mù và làm người ăn xin để đi dò la tin tức anh ấy mà thôi. Chắc ông cũng đồng ý với tôi là tất cả mọi người trong thiên hạ đều phải  tự đeo cho mình một chiếc mặt nạ nào đó để sống với đời, phải không ông ? Riêng tôi, tôi đã chọn cho mình chiếc mặt nạ rất khiêm tốn và hiền lành như ông  trông thấy đó. Nhưng thôi...tôi không nên dài dòng thêm nữa. Tôi xin đường đột nhờ ông một việc mà tôi đoán là không vượt quá khả năng của ông. Đây là mấy chục bài thơ mới của anh ấy chưa xuất bản  lần nào.
Tôi xin hứa sẽ không làm phiền ông trừ phi tối cần thiết. Lý do khiến tôi nhờ vả ông chuyện này  chính tôi cũng không rõ, nhưng tôi xin ghi nhớ ơn ông suốt đời.

Tôi đưa tay cầm lấy xấp giấy trong cái bọc ny long người đàn bà chìa ra cho tôi sau khi đã nhìn kỹ chung quanh. Đồng thời tôi rút ra một miếng giấy nhỏ  trong túi áo, ghi vội địa chỉ và dúi vào tay  người phụ nữ "giả mù" . Tôi hành động như một người máy không ý thức được mình đang làm gì. Người phụ nữ nhìn thẳng vào mắt tôi nhưng tôi không biết là dưới lớp kính  màu đen kia bà có giả mù hay không. Có một điều tôi không thể nào lầm lẫn là bà có đôi mắt buồn và đẹp nhất thế gian này.
Người phụ nữ nói nhanh :
- Chúng ta đứng đây lâu e không tiện. Xin cho tôi nói với ông một lời cuối: tôi tự nguyện sẽ không bao giờ bỏ cuộc. Xin chào tạm biệt ông và một lần nữa xin chân thành cảm tạ tấm lòng độ lượng của ông.

Người phụ nữ đưa tay vỗ nhẹ lên vai đứa bé bảo nó dắt đi. Tôi đứng đó nhìn theo hai kẻ ăn xin "chuyên nghiệp". Tôi đứng đó như đang bị trời tròng !

Mấy ngày sau, tôi rời Bắc Kinh khi đã xem khá đủ phong cảnh nơi người yêu tôi đang sống cuộc đời khổ hạnh của cô và là nơi có một người phụ nữ "giả mù" lặn lội đi tìm người yêu. Trở về Mỹ, mấy tháng sau tôi cho in xong tập thơ của thi sĩ Trung Hoa nọ. Đồng thời, tôi cũng phát hành tập thơ của riêng tôi mặc dầu đem so với người đứng cùng đội ngũ với mình, tôi thấy thơ tôi dở ẹc !

Gần một năm đã trôi qua. Một buổi chiều đi làm về, tôi nhận được một bức thư gửi đi từ Thượng Hải. Tôi mừng như gặp mẹ chợ về vì đoán  biết ngay  là thư của ai. Tôi đâu có quen biết ai khác ở Hoa Lục ngoài người đàn bà "giả mù" xa lạ kia đâu. Mở thư ra, tôi giật nẩy mình khi thấy tấm hình  một người đàn  ông  trông giống tôi quá sức tưởng tượng. Và một tấm hình thứ nhì  chụp một mộ bia có khắc tên tuổi  người  trong mộ. Bức thư chỉ vỏn vẹn mấy giòng  và không ghi địa chỉ người gửi.

"Thưa ông.
Tôi đã tìm gặp được người yêu của tôi rồi. Anh ấy tham gia phong trào đòi dân chủ và đã chết một cách bí mật. Anh ấy đi rồi  nhưng tôi biết chắc là thơ của anh sẽ tồn tại muôn đời.
Kính thư.
Người đàn bà mù ở Bắc Kinh."

Tôi thẩn thờ nhìn bức thư quá ngắn trong tay mình. Trên đó tôi chợt thấy mấy chữ bị hoen nước. Tôi mường  tượng đến những giọt nước mắt  âm thầm rơi xuống trang thư từ một đôi mắt đẹp nhất trần gian.


Tiếng người nữ tiếp viên phi hành phát ra từ máy khuếch âm cho biết máy bay sắp đáp xuống phi trường Thượng Hải. Nhìn ra cửa kính phi cơ, tôi thấy những đám mây bềnh bồng trắng xoá bay bay đi tìm nhau. Tôi ung dung mở xách tay rút ra một tập thơ của tôi. Trên trang có nhan đề  tôi cẩn trọng viết mấy giòng  trao tặng:

"Gửi người đàn  bà mù của Thượng Hải, 
 Tôi yêu em vì em đã yêu cuộc đời và con người với tất cả tấm lòng.
Tôi xin hứa sẽ không bao giờ bỏ cuộc." 




Nguyễn Hữu Trí











--------------------
Nguồn:
Văn, Giai  phẩm xuân Quý Dậu
Số 126-127 tháng 12-1992 và tháng 1-1993




















    











Friday, August 19, 2016

DÙNG HẰNG NGÀY



                                                                             ALICE WALKER



Alice Walker nhà văn nữ người Mỹ da đen, sinh năm 1944 tại Georgia, xuất thân trong gia đình nông dân, học ở Spelman College ở Atlanta (Georgia) rồi Sarash Lawrence ở New York. Dạy học tại Jackson State University ở Mississipi. Hoạt động tích cực trong những phong trào nhân quyền ngay từ hồi còn là sinh viên. Tập thơ đầu tay " One" (1968) ghi lại kinh nghiệm đấu tranh và những chuyến đi Phi Châu.
Địa vị của Alice Walker trở thành vững chắc sau khi công bố công trình soạn thảo tuyển tập tác phẩm của nhà văn nữ da đen Zora Neale Hurston xuất bản nhan đề "I Love Myself When I Was Laughing" (1979) và giữ chân chủ biên tạp chí Ms.

Tuy vậy phần thành tựu rực rỡ nhất trong văn nghiệp của Alice Walker vẫn là tiểu thuyết. Từ Third Life of Grange Copeland (1970), In Love and Trouble (1973), Meridan (1976) đến cuốn nổi tiếng nhất The Color Purple được trao giải National Book Award và được đưa lên màn ảnh gây nhiều tranh luận cả trong giới điện ảnh lẫn bên ngoài. Chủ đề chính của Alice Walker vẫn là đời sống của người phụ nữ Mỹ da đen. Thảm họa kỳ thị chủng tộc ở Mỹ và trên toàn thế giới đối với người da đen cùng những phong trào nổi lên đòi nhân quyền cho người da đen kéo dài bao lâu đã giúp người phụ nữ da đen học tập kinh nghiệm lịch sử đấu tranh. 

Mặc dầu rất nhiều những thảm họa đã xảy ra cho người da đen nhưng người phụ nữ đen  luôn luôn đã tỏ ra có khả năng vượt qua, phục hồi và thay đổi thích nghi với mọi bất hạnh, đồng thời phụ nữ đen cũng là cây cột trụ vững vàng của mọi phong trào nhân quyền.

Cuốn The Color Purple thi triển một kỹ thuật tiểu thuyết ngoạn mục (Alice Walker chịu ảnh hưởng của hai nhà văn nữ da đen Zora Neale Hurston và Jean Tooner ) dưới hình thức những lá thư liên tục vận chuyển bằng một kế hoạch ngữ học nói lên cảm thức của người phụ nữ da đen về những vấn đề tôn giáo, tình dục, đơn nhất bản ngã..v...v...Năm 1983 Alice Walker cho xuất bản tập khảo luận In Search of Our Mother's Garden nhằm trình bày những thành tựu to lớn của những người phụ nữ da đen điển hình như nhà văn nữ thần bí Rebecca Cox Jackson và Coretta Scott King (goá phụ của lãnh tụ nhân quyền Martin Luther King Jr.) và Alice Walker cũng đưa ra chân dung và những vấn đề của chính mình : làm sao có thể thỏa hiệp được sự xung đột giữa một bên là bổn phận của nhà văn nữ đối với văn học còn bên kia là những trách nhiệm của một người mẹ.

Để giải quyết những khó khăn căn bản đó Alice Walker luôn luôn học tập từ kinh nghiệm  của mẹ nàng "Chúng ta không được phép nản lòng " . Alice Walker luôn luôn tỏ ra hãnh diện về bản chất lao động nông dân của nàng, tin tưởng rằng: "Mặc cho nỗi đớn đau và những sự buồn khổ, cái ân sủng trong vòng tay chúng ta ôm lấy đời sống luôn luôn là thước đo  của những gì đã qua đi trước đây". 
Truyện ngắn Dùng Hằng Ngày dưới đây mô tả ý tưởng chính yếu đó.



                                                                        O
                                                                    O      O  




Tôi sẽ đợi nó trong cái sân tôi và con Maggie chiều hôm qua đã quét thật sạch sẽ. Một cái sân như thế này là nơi ta thoải mái hơn là người ta vẫn nghĩ. Nó không hẳn là một cái sân. Nó giống như một cái phòng khách nới rộng. Khi ta quét thật sạch cái nền đất sét nện cứng này như một cái sàn nhà rồi,  và cát mịn màng bốn bề chung quanh sân được vun phủ những cái rãnh nhỏ li li không đều đặn rồi,  thì bất kỳ ai cũng có thể tới ngồi xuống và ngó lên những cây gồi chờ đợi những đợt gió hiu hiu chẳng bao giờ thổi vào trong nhà.

Con Maggie sẽ thành ra nóng nảy cho tới khi chị nó đi khỏi. Nó sẽ đứng trân trân ở góc nhà, thiếu tự nhiên và ngượng ngùng vì những vết sẹo bỏng xuôi dọc hai cánh tay và chân nó. Nó sẽ ngó chị nó  vừa thèm thuồng vừa ngưỡng phục. Nó nghĩ rằng chị nó lúc nào  cũng nắm chắc đời sống trong lòng một bàn tay và người đời chẳng bao giờ từ chối chị nó bất cứ một cái gì cả.

Chắc hẳn là quý vị đã từng xem những tuồng tivi diễn cảnh một người con đã "thành tựu" bỗng đụng độ một cách thật  bất ngờ với  chính cha mẹ nó, người con này từ hậu trường lảo đảo bước ra. (Câu này ám chỉ chương trình truyền hình được rất nhiều người xem " This is Your Life " trong đó những nhân vật nổi tiếng được mời tới phòng thu hình và bị ngạc nhiên sửng sốt vì ở đấy đã đông đủ bạn bè, thân thuộc, những người cộng tác của họ đứng đón tiếp). Một sự ngạc nhiên thích thú, dĩ nhiên là như vậy rồi. Nhưng họ sẽ phải làm gì nếu như cha mẹ và người con lại vào tuồng chỉ để nguyền rủa sỉ vã nhau nhỉ. Cứ như trên tivi thì người mẹ và người con ôm nhau và mĩm cười vào mặt nhau. Đôi khi người mẹ và người cha khóc lóc, người con ôm cứng cha mẹ trong vòng tay và ngã người ngang mặt bàn nói lên rằng nếu như chẳng có sự giúp đỡ của cha mẹ thì cô (hắn) ta đã chẳng làm nên trò trống
gì cả.

Tôi đã từng xem những chương trình đó.

Đôi khi tôi mơ giấc mơ trong đó Dee và tôi đột nhiên được cùng đem vào một chương trình truyền hình thuộc loại này. Tôi mơ thấy tôi được dẫn đi từ khi bước ra khỏi cái limousine kín bưng ghế nệm êm ái đi vào một căn phòng sáng choang đầy người. Ở đó tôi gặp một người đàn ông tươi cười, tóc bạc, sang trọng, trông giống Johnny Carson, ông ta bắt tay tôi và nói với tôi rằng sao tôi lại có thể có được một cô gái tuyệt vời đến như vậy. Sau đó chúng tôi được đưa lên sân quay và Dee vừa ôm choàng lấy tôi vừa ngấn lệ trên mi. Nó gắn lên áo tôi một bông hoa  lan lớn mặc dù có lần nó đã nói  với tôi rằng nó cho hoa lan là thứ hoa xấu xí xác sơ.

Trong đời sống thực tôi là một người đàn bà mập mạp, to xương, tay chuối mắn  xù xì như tay đàn ông thợ thuyền. Vào mùa đông khi đi ngủ tôi mặc áo ngủ bằng dạ, còn ban ngày mặc quần yếm. Tôi có thể giết thịt, làm lông sạch sẽ một con heo dễ dàng như đàn ông vậy. Vì tôi mập cho nên thời tiết có ở không độ tôi vẫn không thấy lạnh. Cả ngày tôi làm việc ngoài trời, đập vỡ băng lấy nước tắm giặt. Tôi có thể ăn gan heo thui lửa vài phút sau khi được  móc ra còn bốc khói từ bụng heo. Vào một mùa đông tôi đã bửa vỡ sọ một con bò đực bằng một cái búa tạ khện thẳng vào sọ nó, khoảng giữa hai con mắt, và tôi xẻ thịt treo lên cho nguội trước khi đêm xuống.

Nhưng dĩ nhiên là tất cả những điều nói trên không được chiếu trên tivi. Tôi là một người theo kiểu con gái tôi muốn là : gầy bớt đi nửa tạ, da dẻ tôi trông giống như bánh tráng  làm bằng lúa mạch sống. Tóc tôi lóng lánh trong ánh đèn sáng rực. Johnny Carson phải vất vả lắm mới theo kịp  được mồm miệng tôi. Nhưng đó là một lầm lẫn thôi. Tôi biết vậy ngay cả trước khi tôi tỉnh giấc. Nào có ai đã từng được biết một ông Johnny mồm miệng liếng thoắng ? Ngay cả ai mà tưởng tượng nỗi tôi nhìn thẳng vào mắt một người đàn ông da trắng lạ mặt ? Hình như đối với tôi thì tôi đã nói chuyện với đàn ông da trắng luôn  luôn ở cái thế chân trước chân sau sẵn sàng  tẩu và mắt thì láo liên tìm đường tránh né. Dù sao thì Dee vẫn khoái chí. Nó sẽ luôn luôn nhìn thẳng vào mắt bất kỳ ai. Bản chất nó không có sự ngần ngại.

"Trông con nhỏ ra sao hả mẹ ?" Maggie nói. Con bé ló mình ra vừa đủ cho tôi thấy cái thân hình mãnh mai của nó trong váy màu hồng và cái áo choàng ngoài màu đỏ. Nó lên tiếng muốn cho tôi biết nó đứng đó, thân hình hầu như lấp sau cửa.
"Đi ra ngoài sân đi", tôi nói.
Đã bao giờ quý vị thấy một con vật khập khiễng, chẳng hạn một con chó bị chẹt xe không chết bởi một kẻ vô ý nhưng giàu tiền bạc đủ để mua một cái xe riêng, con chó này lại tránh xa kẻ chẹt nó là một người vô tình đến mức nó chẳng nên đối xử tốt với hắn như vậy chưa ? Đó đúng là một cái kiểu đi đứng của con Maggie của tôi đấy. Xưa nay nó vẫn vậy, khi bước đi đầu cúi chạm ngực, mắt gầm xuống mặt đất, chân bước kiểu chim gi, ngay cả cái hồi lửa cháy thiêu xụp căn nhà trước đây cũng vậy.

Con Dee nhẹ hơn con Maggie, tóc nó mềm hơn và mặt đầy đặn hơn. Giờ đây, Dee đã là một người đàn bà rồi dù rằng đôi lúc tôi quên khuấy là nó đã có chồng. Căn nhà trước đây bị thiêu rụi đã bao lâu rồi nhỉ ? Mươi, mười hai năm ? Đôi khi tôi vẫn còn nghe tiếng lửa cháy và cảm thấy hai cánh tay Maggie níu chặc lấy tôi, tóc nó sực mùi khói, quần áo từng mãnh nhỏ bay rớt lả tả. Hình như mắt nó mở trợn trừng rực lên ánh những ngọn lửa phản chiếu. Và con Dee, tôi nhìn thấy nó đứng tránh xa đám cháy dưới tàng cây mủ ngọt mà nó thường chọc lấy mủ. Trên gương mặt nó mắt chăm chú theo dõi bức vách cuối cùng xám xịt đổ ập vào phía trong cái ống khói lò sưởi bằng gạch đỏ chói. Sao mà mày không nhảy múa quanh đống  tro tàn hở Dee? Tôi đã định muốn hỏi nó như vậy. Dee rất thù ghét căn nhà này. Tôi cũng thường nghĩ rằng nó thù ghét Maggie.

 Nhưng đó là lúc trước khi tôi và nhà thờ  làm cuộc lạc quyên tiền để gửi nó đi học ở Augusta ( một thành phố lớn ở bang Georgia nơi có đại học Paine). Nó thường đọc Thánh kinh bắt chúng tôi ngồi nghe; những lời lẽ ép buộc, những câu dối trá, những thói tục của thiên hạ, tất cả những cuộc đời  đổ  lên đầu chúng tôi  đang ngồi chịu trận và mù tịt dưới giọng đọc của nó. Nó đã tắm rửa chúng tôi trong giồng sông Làm-Tin, nó đã thiêu đốt chúng tôi bằng bao nhiêu là kiến thức mà chúng tôi không cần thiết, phải biết tới. Bằng cái kiểu đọc nghiêm trọng của nó Dee đã buộc chúng tôi ngồi sát về phía nó rồi ngay đó lại xua đuổi chúng tôi đi giống như chúng tôi là những kẻ đần độn,  và hình như chúng tôi cũng gần hiểu như vậy.

Dee ưa có những đồ tốt. Chẳng hạn như khi dự lễ tốt nghiệp trung học, nó muốn có một cái áo lụa mờ để mặc, một đôi giày đen màu hợp với bộ đồ xanh lá cây nó đã tự tay may sửa từ một bộ đồ ai đó đã cho tôi. Nó rất cương quyết trừng mắt ngó xuống bất kỳ một tai họa nào xảy đến. Mi mắt nó sẽ chẳng nháy mỗi lần  như thế trong cả mấy phút đồng  hồ. Tôi thường cố kìm mình để không nắm lấy nó mà lay mạnh. Khi nó mười sáu tuổi thì nó đã có cái kiểu cách riêng của nó rồi và nó rất hiểu kiểu cách là cái gì rồi.

Bản thân tôi chẳng hề được học hành. Mới xong lớp hai thì trường đóng cửa. Xin đừng hỏi tại sao : vào năm 1927 dân da màu đặt ra ít câu hỏi lắm chứ không như bây giờ. Đôi khi Maggie đọc Thánh Kinh cho tôi nghe. Nó đọc lầm bầm ý ớ xuôi theo hàng chữ nhưng nó xem không thấy rõ. Nó biết rằng nó không thông  minh, sáng láng. Cũng như sự xinh đẹp và tiền bạc, sự nhậm lẹ cũng qua mặt nó cái vèo. Nó sẽ lấy anh chàng John Thomas ( kẻ có hàm răng cải mả  và bộ mặt chầm vập) và sau đó tôi sẽ được tự do thả cửa ngồi ở đây và tôi đoán chừng lúc đó tôi sẽ ngồi hát Thánh Ca cho mình mình nghe. Dù rằng chẳng bao giờ tôi là người hát hay. Cũng chẳng bao giờ cầm nhịp được. Làm công việc của đàn ông thì tôi lại khá hơn. Tôi thường thích vắt sữa bò  cho mãi tới năm 1949 mới thôi vì tôi bị bò húc vào mạng sườn. Giống bò hiền lành chậm chạp và không  làm phiền người ta trừ
phi quý vị cố vắt sữa chúng sai cách.

Tôi sẽ quyết chẳng thèm  quan tâm đến căn nhà. Nhà này cũng giống cái trước đây đã bị cháy có ba phòng, chỉ khác là mái lợp tôn, bây giờ người ta chẳng còn lợp nhà bằng ngói gỗ nữa. Nhà không có cửa sổ đúng thực là cửa sổ, nhưng chỉ là mấy lổ khoét hai bên trông giống  như cửa ở dưới tàu thủy, chẳng tròn cũng không ra vuông, cánh chớp mở ở phía ngoài được chống lên  bằng miếng da thú không thuộc. Căn nhà này cũng như căn trước đây dựng giữa một bãi cỏ gia súc. Chắc chắn là khi Dee nhìn thấy căn nhà này là nó muốn giật sập xuống ngay. Có lần nó viết thư cho tôi bảo rằng dù cho chúng tôi có "chọn lựa"  ở đâu chăng nữa thì nó cũng sẽ xoay sở  để đến thăm chúng tôi. Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ  đưa bạn bè nó về nhà cả. Maggie và tôi đã nghĩ về điều đó  và Maggie đã hỏi tôi, "Này mẹ, vào hồi nào thì Dee chẳng còn có ai là bạn bè nữa?".

Trước đây nó có vài đứa bạn. Mấy thằng nhãi đồ cướp giựt mặc áo đỏ ra khỏi trường học là la cà khắp chốn. Mấy con nhãi cà giựt chẳng bao giờ mở miệng cười. Chúng có cảm tình với Dee và tôn sùng lời ăn tiếng nói hay ho của nó, dáng người dễ thương của nó, tính khôi hài sôi bỏng bùng ra giống như bong bóng xà bông trong thùng nước giặt đồ. Nó đọc Thánh Kinh cho bạn nó nghe.

Thời gian Dee ve vãn Jimmy T. Nó không còn chú ý gì đến chúng tôi nữa mà dồn hết sức mạnh bới lông tìm vết hắn ta. Hắn đã bay đi cưới một cô gái đô thị rẻ rúng xuất thân từ một gia đình ngu dốt ưa hào nhoáng bề ngoài. Nó khó mà có thì giờ  để lấy lại được tư thế lắm.
Khi nó đến tôi sẽ gặp nhưng kìa chúng nó đây rồi !

Maggie vừa định bày biện cho căn nhà bảnh một chút, theo cái kiểu quýnh quáng của nó thì tôi giữ nó lại. "Lại đây", tôi nói. Và nó thôi không làm gì nữa và cố sức dùng ngón chân ngoáy sâu một lổ trên cát.

Mặt trời chói chang quá nên thật khó nhìn rõ hai đứa. Nhưng chỉ cần nhìn  thoáng  cái cẳng  bước ra khỏi xe là tôi biết đó là Dee. Chân cẳng nó luôn luôn ngó bộ tươm tất như thể chính Chúa đã nặn ra theo một kiểu nào đó. Từ phía bên kia xe hơi bước vô một người đàn ông lùn chắc nịch. Đầu hắn tóc phủ dài và thòng tòn  teng từ cằm  trông giống cái đuôi con la xoắn tít. Tôi nghe thấy tiếng Maggie nuốt hơi "Uhnnh" , cái âm thanh phát ra gần như thế. Giống như khi đang đi trên đường thì nhìn thấy khúc đuôi con rắn đang quằn quại ngay phía trước bàn  chân ta. "Uhnnh" .
Kế đến là Dee áo dài chấm đất trong lúc trời nóng như thiêu như đốt thế này. Cái áo màu sắc quá chói làm nhức mắt tôi. Trên áo nó nhiều màu vàng và cam quá đến nỗi phản chiếu cả ánh mặt trời được. Tôi cảm thấy hơi nóng phả khắp trên  mặt tôi do những đợt hơi nóng từ áo nó hắt ra. Dee cũng đeo cả bông tai bằng vàng dài chấm vai nữa. Vòng xuyến loang xoang lẻng  kẻng  khi nó vươn tay vuốt dãn những vết gấp nhăn trên áo từ nách trở xuống. Cái áo nó mặc rộng rãi và chảy xuôi loà xoà và khi nó bước lại gần tôi thấy thích cái áo này.
Tôi lại nghe thấy tiếng Maggie "uhnnnh" nữa. Lần này là vì tóc của chị nó. Mái tóc dựng đứng trông giống như lông xoắn dày trên lưng trừu. Màu đen thui ở quanh hai bên thái dương kết bím dài như đuôi heo quận vào nhau giống như con thằn lằn lẩn đằng sau tai nó.

"Wa-su-zo-Tean-o!" Dee nói, tiếp tục đi vào như đang trượt theo đà chuyển của bộ óc. Anh cu lùn xủn  chắc nịch tóc dài chấm rốn lúc nào cũng nhe răng cười toe toét cười và lẹ mồm lẹ miệng nói  "Asalamalakim" (lời chào dân Phi Châu), chào mẹ chào em! Anh chàng bước tới ôm chào Maggie  nhưng nó lùi lại đụng ngay vào cái tựa ghế tôi đang ngồi. Tôi thấy nó run rẩy và khi tôi ngước nhìn lên tôi thấy mồ hôi hột  chảy lã chã từ cằm nó.

"Mẹ đừng đứng dậy" Dee nói. Vì tôi thấp lùn nên muốn đứng dậy cầm lấy tay chống đẩy người lên. Trước khi đứng lên được tôi phải  cố gắng chuyển mình mất đến một hai giây. Dee quay mình để lộ gót chân trắng ngần sau quai dép và nó đi ra phía cái xe hơi. Dee đứng ngoài đó nhắm một mắt ghé sát ống nhắm của máy hình Polaroid. Nó cúi xuống thật nhanh và xếp hàng dài hết tấm hình này đến tấm hình khác chụp tôi đang ngồi phía trước nhà có Maggie đứng co núp phía sau.   Nó không bao giờ chịu chụp một tấm hình nào mà nó không chắc ăn là phải có căn nhà trong hình. Khi có một con bò đi tới gặm cỏ quanh hàng rào sân, nó chụp lẹ cảnh này có con bò, tôi, Maggie và căn nhà. Xong rồi nó bỏ cái Polaroid trên ghế sau xe hơi và đi tới hôn trán tôi.

Cùng trong lúc đó cái anh chàng"Asalamakim" đang chơi trò cầm nảy thủ với Maggie. Tay của con Maggie ẻo lã trơn tuột như cá  và có thể là lạnh ngắt dù đang đẫm mồ hôi, và con bé đang cố rụt tay lại. Trông có vẻ như hắn ta muốn bắt tay nó nhưng lại muốn bắt tay theo kiểu tân  kỳ. Hoặc là hắn cũng chẳng biết người ta bắt tay nhau như thế nào nữa. Dù sao chăng nữa hắn ta cũng sẽ sớm chịu thua Maggie.
"Ờ này Dee", tôi nói.
"Ậy không, thưa mẹ". Nó nói, "Không phải là Dee nữa mà là Wangero Leewanika Kemanjo"
"Chuyện gì xảy ra với cái tên Dee ?". Tôi muốn biết.

"Cô ta chết rồi" Wangero nói. " Con không còn thể mang tên ấy nữa, cái tên được đặt theo những kẻ áp bức con".
"Con cũng biết rõ ràng như mẹ là con được đặt tên theo Dì Dicie mà". Tôi nói. Dicie là em gái tôi. Dì đặt tên cho Dee. Sau khi sanh Dee chúng tôi kêu dì ấy là " Dee lớn".
"Nhưng mà tên dì ấy đặt theo ai?" Wangero hỏi.
"Mẹ đoán là tên của Bà" tôi nói.
"Thế tên Bà đặt theo ai?" Wangero hỏi.
"Theo tên Cụ" tôi nói. Tôi thấy Wangero tỏ ra mệt mỏi. "Tao chỉ lần ngược lên tông chi xa được đến thế" .  Thực ra tôi còn có thể lần ra tông chi xa hơn nữa sau cả thời nội chiến.
"Ờ, mẹ tới đấy rồi mà" anh chàng Asalamakim nói.
"Uhnnnh " tôi nghe Maggie nói.
"Tao chưa lần nào được tới đấy. Trước khi cái tên "Dicie" nổi hiện lên trong giòng họ  mình, vậy thì tại sao tao lại cố phải lần ngược tông chi bọt rãnh đời xửa đời xưa như thế nhỉ ?.

Anh chàng cứ đứng đấy nhởn răng ra, ngó xuống tôi giống như một người đang kiểm tra một cái xe hơi Model A (một loại xe hơi rất cổ do Henry Ford vẽ kiểu). Lâu lâu hắn và Wangero lại ra dấu với nhau bằng mắt ở phía trên đầu tôi.
"Tên đó con đọc nghe thế nào?" Tôi hỏi.
"Mẹ không phải gọi con bằng tên ấy nếu mẹ không thích"  Wangero nói.
"Tại sao lại không phải? Nếu như muốn chúng tao gọi mày bằng tên ấy, chúng tao sẽ gọi vậy"
"Mẹ biết là lúc đầu nghe kỳ cục lắm" Wangero nói.
"Tao sẽ quen đi" tôi nói. "Mày nói lại chậm rõ hơn đi"


Lúc sau chúng tôi bỏ qua chuyện cái tên. Anh cu gọi là Asalamakim có một cái tên còn dài gấp đôi và khó đọc gấp ba. Sau khi tôi lập lại sai hai ba lượt thì hắn ta bảo tôi cứ kêu hắn là Hakim-thợ cạo. Tôi đã định hỏi có phải hắn là thợ cạo không nhưng thực sự tôi không nghĩ hắn là thợ cạo cho nên tôi không hỏi nữa.

"Hẳn là anh phải thuộc về nhóm người chuyên môn vỗ bò cho béo ở phía dưới kia" tôi nói. Những người này khi gặp mình cũng nói Asalamakim, nhưng họ không bắt tay mình. Họ luôn luôn bận rộn: cho gia súc ăn, sửa sang hàng rào, dựng lên chỗ cho bò giải lao (salt-lick shelters, vào mùa nóng nực bò được dẫn đến chỗ này để liếm muối để bảo vệ bò chống lại nhiệt độ quá cao ), ném rơm từ trên xe xuống. Khi có vụ những người da trắng đầu độc chết một số gia súc thì những người này cả đêm ghìm súng đứng thức canh. Tôi đã đi bộ cả dặm rưỡi đường để nhìn cảnh này.

Hakim-thợ cạo nói: "Con chấp nhận một vài giáo lý của họ nhưng làm ruộng và nuôi súc vật không phải là nghề con thích" (Cả hai đứa không nói cho tôi biết và tôi cũng chẳng hỏi, là có phải đúng ra là con Wangero (Dee) thực đã theo nó và cưới nó làm chồng không ?).

Chúng tôi vừa cùng nhau ngồi ăn thì hắn ta nói hắn không ăn canh cải xoắn và hắn cho rằng thịt heo dơ. Dầu vậy Wangero ăn ào ào từ lòng heo tới bánh bắp, rau cỏ và mọi thứ khác. Nó cứ lải nhải mãi về những củ khoai lang có lằn xanh. Mọi thứ đều làm nó thích thú. Ngay cả việc chúng tôi vẫn còn dùng những tấm ghế do bố nó trước đây đóng làm ghế ngồi ăn vì chúng tôi không có tiền mua ghế cũng làm nó khoái.

"Ồ, mẹ ơi!" Nó kêu lên rồi nó hướng về Hakim-thợ cạo. "Trước đây em nào có rõ được là những tấm ghế này sao mà dễ thương đến thế. Anh có thể cảm  nhận được  những chỗ ghế mòn trũng xuống khi anh ngồi vào, nó vừa nói vừa luồn tay dưới mông sờ dọc theo tấm ghế. Sau đó nó thở dài và với tay nắm lấy cái  bình đựng bơ của bà ngoại. "Thôi được!" Nó nói " Con muốn hỏi Mẹ xem con có thể lấy một vài món đồ trong nhà không ". Nó nhảy  khỏi bàn ăn và đi về phía góc nhà chỗ để cái chum đánh sữa hiện giờ sữa ở trong đã vón cục. Nó nhìn đi nhìn lại cái chum.
"Con cần cái nắp chum" nó nói " Có phải  ngày trước bác Buddy lấy gỗ thứ cây mình vẫn dùng để đẽo cái nắp này phải không ?"
"Ừ",  tôi nói.
"Hẳn rồi" nó nói một cách sung sướng. "Và con cũng muốn lấy cái que đánh sữa nữa".
"Cũng do bác Buddy gọt phải không?" Hakim-thợ cạo hỏi. Dee  (Wangero) Ngước lên nhìn tôi.
"Ông chồng trước của Dì Dee gọt đấy chứ" Maggie nói, giọng nó nhỏ đến nỗi chẳng thể nghe ra. " Tên ông ta là Henry nhưng người ta thường kêu ông ấy là Stash".
"Óc con Maggie giống như óc voi", Wangero vừa nói vừa cười.
"Tôi có thể dùng cái nấp chum làm cái đĩa đặt giữa cái bàn ở góc  nhà" nó vừa nói vừa lấy một cái đĩa  đậy nhẹ lên miệng cái chum. "Còn cái que đánh sữa tôi sẽ nghĩ cách dùng nó như một vật có tính cách nghệ thuật".

Khi nó gói xong cái que đánh sữa rồi, chuôi que vẫn thòi ra. Tôi cầm cái que đánh sữa trong lòng hai bàn tay một lúc. Chỉ cần cầm trong lòng bàn tay mà không cần nhìn kỹ ta cũng biết được đâu là chỗ đặt tay để đánh cái que lên xuống trong chum để làm bơ vì chỗ đó đã mòn lõm xuống. Sự thực thì có nhiều vết lõm nhỏ, ta có thể nhìn ra chỗ đặt ngón tay cái và những ngón khác lõm xuống gỗ. Cái que này làm bằng thứ gỗ màu vàng lạt rất đẹp lấy từ một cái cây mọc trong sân căn  nhà dì Dee lớn và Stash sống ở đó hồi xưa.


Ăn xong bữa chiều rồi Dee (Wangero) đi về phía cái rương đặt dưới chân giường ngủ của tôi và bắt đầu lục lạo đồ trong giường. Con Maggie lủi vào trong bếp loay hoay với cái cối giã trầu. Wangero từ phía trong đi ra tay cầm hai cái mền. Hai tấm mền này do bà ngoại Dee, Dee lớn và tôi căng trên cái khung mền đặt ở cổng trước đụp chắp. Một cái đụp chắp theo mẫu Vì Sao Cô Đơn. Cái kia theo mẫu Tản Bộ Quanh Núi. Trong cả hai cái mền đều có những mẫu áo cũ do bà ngoại Dee trước đây đã mặc sờn cũ trong cả năm chục năm và hơn nữa. Có cả những mãnh áo của ông nội Jarrell Paisley. Và một mãnh nhỏ xíu màu xanh đã  phai màu cở  cái hộp quẹt được lấy từ bộ quân phục cụ Ezra mặc trong thời Nội Chiến nữa.


"Mẹ ơi! Con có thể xin hai cái mền cũ này không? " Wangero  nói giọng ngọt như  chim ca.
Tôi nghe thấy trong bếp có một vật gì rơi xuống đất, một phút sau đó là tiếng cánh cửa bếp đóng sập mạnh.
"Tại sao mày không lấy một hay hai cái mền khác ?" Tôi hỏi.
"Những món cổ lổ đó vừa đây do tao và dì Dee Lớn chắp từ  mấy cái áo lá bà ngoại mày vá vẩn trước khi ngoại chết mà".
"Không. Con không thích những cái mền khác"  Wangero nói, " những cái mền đó đường viền may bằng máy may".
"Nhờ vậy lại bền hơn" tôi nói.
"Điều đó không quan trọng" Wangero nói "Hai cái mền này tất cả những miếng vải vụn đều cắt từ quần áo Bà Ngoại thường mặc. Bà đã vá bằng tay tất cả những mụn vải vụn vào. Cứ tưởng tượng mà xem! ".
 Nó ôm khư khư hai cái mền trong vòng tay, vuốt ve chúng.

"Có một mụn vải, chẳng hạn những miếng màu xanh lợt là lấy từ quần áo cũ của cụ bà ngoại  đã được thừa hưởng đấy". Tôi vừa nói vừa bước lên sờ những chiếc mền. Dee  (Wangero) lùi lại vừa đủ  để tôi không đụng tay được vào chúng. Những cái mền này đã thuộc về nó rồi.

"Cứ tưởng tượng mà xem!" Nó vừa thở vừa ôm chặc chúng vào ngực.
"Thực ra  Mẹ đã hứa sẽ cho con Maggie những cái mền này khi nào nó và thằng John Thomas lấy nhau" tôi nói.
Nó thở hắt ra như bị ong châm.
"Con Maggie không thể nào biết giá trị những cái mền này được!" Nó nói. "Có thể nó sẽ ngu muội đến độ đem chúng ra dùng hàng ngày nữa là khác".
"Mẹ đoán nó có thể lắm chứ" tôi nói, " Chưa biết rằng Mẹ đã giữ gìn chúng khá lâu không để ai dùng cả. Mẹ hy vọng con Maggie sẽ dùng chúng!".
 Tôi không muốn nhắc lại chuyện tôi đã tặng cho con Dee  (Wangero) một trong hai cái mền này khi nó rời nhà để vào đại học như thế nào. Khi đó Dee đã bảo tôi là những cái mền này cổ rồi, không còn hợp thời trang nữa.
"Nhưng những  cái mền này là vô giá!"
Bây giờ thì nó đang nói vậy một cách giận dữ vì nó đang điên tiết lên.
"Con Maggie rồi sẽ đem trải chúng trên giường và chỉ trong vòng năm năm là chúng thành giẻ rách. Sớm hơn nữa là khác."
 "Nó luôn luôn vẫn có thể làm vài cái nữa" tôi nói. "Con Maggie biết cách đụp mền mà"
Dee (Wangero) nhìn tôi hận thù. "Bà sẽ chẳng thể nào hiểu được cả. Điều quan trọng là những cái mền này, chính những cái mền này cơ!".
"Ờ, mà con sẽ dùng chúng vào việc gì cơ chứ?" Tôi nói, hơi bí.
"Treo chúng lên"
Nó nói như thể rằng việc duy nhất ta dùng mền là treo chúng lên.

Lúc này Maggie đang đứng ở cửa. Tôi hầu như có thể nghe thấy tiếng động phát ra từ chân nó cái nọ xéo lên cái kia.
"Chị ấy có thể lấy hai cái mền được Mẹ ạ" nó nói, giọng nói giống một kẻ thường chẳng bao giờ giành thắng được một cái gì cả đời hoặc là chẳng bao giờ có được một cái gì dành riêng cho mình cả.
"Con vẫn có thể nhớ đến Bà dù chẳng có những cái mền".
Tôi lừ mắt nhìn nó. Môi dưới con bé lúc này phìu  ra vì ngậm cụm thuốc lá và vì ăn thuốc nên mặt nó đỏ đần ra trông như đứa đang đỏ mặt xấu hổ.
Chính bà ngoại Dee và Dee lớn là hai người đã dạy nó tự đụp vá được mền. Nó đang đứng kia, hai bàn tay chai cứng dấu sau nếp váy. Nó nhìn chị nó với một cái gì đó giống như sự sợ hãi nhưng nó không giận chị nó. Đó là phần số của nó. Đó là cái cách nó biết được ý Chúa.

Khi nào mà tôi nhìn nó như thế này thì có một cái gì đó mơ hồ đập mạnh lên đỉnh đầu tôi và rồi chạy tuột xuống tận gót chân. Y như lúc tôi đang ở trong nhà thờ và ý Chúa đụng chạm tôi và tôi cảm thấy hạnh phúc là la lên. Tôi đã làm một việc mà trước đây  chẳng bao giờ làm cả: tôi ôm choàng Maggie về phía tôi rồi lôi nó theo vào buồng trong, giựt những cái mền từ trong tay Miss Wangero và ném chúng vào lòng Maggie. Maggie lúc đó đang ngồi trên giường ngủ của tôi mồm há rộng.
"Mày hãy lấy một hay hai cái khác" tôi bảo Dee.
Nhưng Dee quay đi không  nói một lời nào và ra phòng ngoài gặp Hakim-thợ cạo.
"Mẹ thật chẳng hiểu gì cả" nó nói vừa lúc tôi và Maggie đi ra khỏi nhà tiến về phía cái xe hơi.
"Mày bảo tao không hiểu cái gì cơ chứ?" Tôi muốn biết rõ.
"Tài sản của Mẹ" .
Nó nói vậy và rồi  quay sang Maggie hôn  em và nói:
"Mày cũng nên cố gắng tụi mày làm được một cái gì đó, Maggie ạ. Đó mới thực sự là một ngày mới mẻ đối với chúng ta. Nhưng mà cứ xét cái cách mày và Mẹ  đang sống thì có thể chẳng bao giờ mày được cái ngày đó cả."

 Nó mang kính mát vào che khuất hết phần mặt  từ đầu mũi và cằm nó trở lên.
Con Maggie cười mĩm, có thể nó cười cái kính mát. Nhưng đó đúng thực là một nụ cười, không sợ hãi. Sau khi chúng tôi thấy đám bụi mù do chiếc xe hơi gây nên  đã tan hoang tôi bảo con Maggie đem cho tôi một nạm thuốc. Và rồi hai chúng tôi ngồi đó sung sướng nhai thuốc cho mãi tới lúc đến giờ phải  vào trong nhà và đi ngủ.



Alice Walker

Đào Trung Đạo    Dịch




------------------------------
Nguồn:  VĂN
Số 50- tháng 8-1986





Wednesday, August 10, 2016

NỖI BUỒN TỪ TIỀN KIẾP





                                                                         Nguyễn Thạch Giang


Phước nói với vợ, em nói với chị Trâm kêu cái "thằng đó" chuẩn bị sẵn, mình tới là đi liền, anh không thích chờ. Nói với nó đi với tui thì không được giả gái.  Thi nhăn mặt ý chừng sao chồng kêu người ta thằng đó. Có lần Phước nói với nàng, không biết chị Trâm đi đâu mà quen cái thằng đó. Nghe nói ban ngày nó là đàn ông, đêm đêm đội tóc giả, bôi son trét phấn giả gái tới làm ở quán rượu. Nhưng Thi  nghe lời chị Trâm theo phe chị Trâm, nói coi vậy chớ cái thằng đó hiền lắm... dễ thương lắm.

Chị Trâm là chị của Phước, không chồng con, hồi nào tới giờ ở với vợ chồng Phước, trong nhà ai cũng mến cô Trâm. Hai đứa con của Phước một tay cô Trâm chăm sóc, từ lúc tụi nó chưa biết nói giờ lớn đại theo bồ không còn theo cô Trâm nữa. Vợ Phước thì hạp tánh bà chị chồng, chuyện vui chuyện buồn gì cũng kể cô Trâm nghe, hai bà hễ xáp lại là rù rì to to nhỏ nhỏ.

Chị Trâm làm công nhân lắp ráp trong một hãng gia công nhỏ. Công việc nhẹ nhàng ngày làm tám tiếng. Năm vừa rồi hãng mất hợp đồng phải cắt giảm nhân công. Chị Trâm có tên trong danh sách đầu tiên. Thôi nghỉ hưu luôn, chị nói chớ cái tuổi này đi xin việc ai mướn,  không chồng con làm nhiều cho ai ăn đây.

Từ ngày thôi không còn sáng xách cơm theo chiều xách hộp không đem về, chị Trâm đâm ra thích nhiều thứ. Nhưng chị  không thích nấu nướng, chị thích đi ra ngoài với mấy bà bạn, mấy bà cứ rủ nhau đi mua đồ giảm giá, đi suốt ngày không nghe than mệt. Ham rẻ mua hoài  quần áo chất đầy tủ  ít khi có dịp mặc tới. Mua về nhà ngắm tới ngắm lui thấy không vừa ý lại mang đem trả. Cứ nay mua mai trả cứ vậy làm hoài ngày tháng trôi qua không thấy buồn. Hôm nào ở nhà thì chị Trâm ôm cái phone. Không biết mấy người nói chuyện gì mà cả tiếng đồng hồ cũng còn nói. Nhờ vậy mà đỡ xì trét tuổi già.

Hôm nay cả nhà rủ nhau đi casino. Vợ chồng thằng em vợ ở tiểu bang khác sang chơi. Mới tới ban trưa là đã rủ rê bà chị tối nay thứ sáu mình đi  chơi  chúa nhật về. Tưởng rủ đi đâu chớ đi casino thì vợ Phước không từ chối. Mấy chị em gia đình bên vợ người nào cũng thích đi casino. Có lần Phước trêu chọc, cũng may bà xã tôi mê ông Tây bà Đầm, còn đỡ hơn là mê ông hàng xóm. Vợ Phước nhéo chồng, ông xã nói chuyện hỏng có duyên.

Vợ Phước thích làm gì thì làm, Phước ít khi cấm cản hay có ý kiến này nọ. Không phải Phước sợ vợ. Không phải. Tại vợ chồng  người ta như vậy. Cũng như khi Phước đi nhậu bia ôm với bạn bè hay đôi khi vô quán cà phê mát mẻ nhìn mấy em khoe hàng, vợ Phước cũng không nói gì. Vợ chồng ăn ở với nhau mấy chục năm, ngày nào cũng nhìn mặt, chán muốn chết ở đó mà ghen. Còn Phước thì nói bà xã tui cái gì cũng được, chỉ có cái mê cờ bạc, mà cũng chỉ là lâu lâu chút đỉnh cho vui.


Cách đây cũng lâu lắm rồi, lúc hai đứa con còn nhỏ xíu, không biết Phước làm gì khiến vợ nổi giận đùng đùng, vừa khóc vừa kể, ôm con về nhà cha mẹ, tính thôi cái ông này. Chịu hết nổi. Bà chị họ, mà sau này Phước vui cười gọi là  sư phụ. Bà chị sư phụ này nghe tin hai vợ chồng lục đục, tài lanh đứng ra dàn xếp. Bà chị trịnh trọng hỏi người vợ, em thấy em có thể xa được người đàn ông này không. Người vợ ngẫm nghĩ hồi lâu rồi đáp, đó là việc khó khăn nhất trong đời của em. Sư tỉ quay sang hỏi người chồng, em có muốn thôi người đàn bà này không. Người chồng trả lời không đắn đo. Không. Tôi không bao giờ muốn rời xa người đàn bà này.

Sư tỉ phán một câu như thánh phán. Nếu hai người cảm thấy không thể sống rời xa nhau, thì mỗi người nhịn một chút sống vui vẻ cùng nhau...  cho tới ngày cùng nắm tay vào nhà dưỡng lão.

Từ đó hai vợ chồng cứ làm theo lời sư phụ, hễ chồng nóng thì vợ vuốt, vợ nóng thì chồng vuốt.  Người này chiều người kia một chút thì đâu cũng  vào đó, trong nhà trong ấm ngoài êm.
Như là cái chuyện tối nay ghé rước người đàn ông quen chị Trâm có tên là Cát Mộng Tuyền. Nghe cái tên cũng "thấy" hình dạng ra sao rồi. Chị Trâm nói coi vậy chớ nó đàng hoàng  mà lại tội nghiệp lắm (?),  xe còn chỗ rộng cho người ta có giang đi theo chơi, phòng khách sạn to bự dư chỗ ngủ lo gì. Thật tình Phước không muốn tí nào, nhưng bà xã cứ nói còn chỗ mà anh. Mà đó  cũng  là do  ý của chị Trâm, chị thích người đó lắm,  chắc tại người ta coi bói cho chị, nói tới mấy cái vụ tình cảm tình yêu từ ngày xa xưa đâu từ  hồi thế kỷ trước. Tưởng mấy cái chuyện đó đã ngủ yên theo năm tháng vậy mà  giờ nhắc lại chị Trâm cứ  khóc hoài đôi  mắt đỏ hoe.


 Chị Trâm nói qua khỏi trường trung học, tới ngã tư quẹo trái, đi khoảng hai block thì tới, căn nhà sơn màu xám nằm bên phải. Người đó đang đước trước  cửa chờ,  thấy xe tới ngoắc tay ra hiệu. Có cả  cha và mẹ của người ta đứng đó, người đàn ông này cũng đã hơn bốn mươi ngoài,  xin phép cha mẹ con đi chơi, chiều chúa nhật về, chút nữa  mẹ nhớ nhắc cha  uống thuốc. Chắc chị Trâm nói gì, người đó thấy Phước cúi chào xã giao không nói gì. Bước lên xe mùi thơm thoang thoảng.


  Phước nằm lim dim mắt nhắm mắt mở, bà vợ nằm kề bên rù rì, chị Trâm kể cái hôm đi chợ Việt có quen một người biết coi bói, bói cho chị Trâm một quẻ không biết đúng sai ra sao  mà chị Trâm về nhà mắt còn đỏ hoe khóc hoài. Người đó  ban ngày là đàn ông ban đêm là đàn bà. Phước mơ mơ màng màng. Trên đời này có một người như vậy à ?


- Em tên là Cát Mộng Tuyền ?
- Dạ, tại vì lúc em giả gái ai cũng nói em giống Mộng Tuyền.
- Mộng Tuyền là ai vậy ?
- Ủa chị hỏng biết Mộng Tuyền sao. Mộng Tuyền hát cải lương nổi tiếng lắm, đẹp lắm. Em thích nhân vật Cát Mộng Thuỳ Dương nên tự đặt tên mình là  Cát Mộng Tuyền, chị thấy cái tên đó  có đẹp không?
- Hơi giống cải lương.
- Thì em thích cải lương lắm. Em biết ca cổ.

Cả chị Trâm và Thi nhìn săm soi.
- Em có đi giải phẩu  chuyển giới ?
- Dạ không. Hồi trẻ em mơ làm cái vụ đó lắm. Dự tính để dành đủ tiền thì sang Thái Lan làm. Nhưng bây giờ lớn tuổi rồi hết ham. Nhưng em có sửa mũi, hai chị thấy thế nào ?
Chị Trâm và Thi lại nhìn săm soi. Cũng đẹp. Coi có vẻ tự nhiên.

- Hồi cách đây cũng lâu lắm rồi, chắc cũng cở  mười năm, em có đi chơi casino, có một người đàn ông nhìn em chăm chăm. Lúc sau ổng tới gần em nói chuyện. Ồng nói mấy ngày nay ổng đen quá, thua là thua, ổng hỏi em có thể vái cho ổng ăn được không. Em vái. Ổng trở vô đánh bài. Chừng nửa tiếng đồng hồ ổng trở ra tìm em. Ổng nói ổng gở được vốn mà còn ăn chút đỉnh. Ồng cho em một ngàn. Em lấy tiền đó đi sửa mũi.


Phước với tay mở nhạc, cố tránh không nghe cái đài tiếng nói bà tám. Quý vị xướng ngôn viên nghỉ giải lao được một chút, rồi bắt đầu trở lại talk show.

- Em giả gái ba má em có nói gì không.
- Dạ không. Hồi trẻ em có thương một người, nhưng ảnh không thương lại. Em viết nhật ký bị cha em bắt gặp. Cha em nói cho mẹ em biết, nhưng ông không có la hay cấm cản gì em. Có lần mẹ em nói với em, coi cái điệu bộ của mày, con ơi chắc ngày sau mày vừa ăn cơm vừa khóc. Chị à người ta nói gia đình nào cũng có một người con phải gánh lấy điều bất hạnh của gia đình.


Phước nhìn vào kính chiếu hậu... Có chút gì đó xót xa  trong lòng...chàng  muốn nhìn rõ hơn người đàn ông vừa ăn cơm vừa khóc.


- Em đi làm ở quán nhậu ?
- Dạ, tại vì em biết coi bói, có lần em coi cho bà chủ quán, bả thấy em tội nghiệp nên kêu em tới phụ bếp phụ dọn dẹp.  Em biết hát, hễ khách nhậu thích thì kêu em hát giúp vui. Chớ coi bói chút đỉnh ai muốn cho bao nhiêu thì cho, mà cũng thỉnh thoảng thôi, đâu đủ xài.
- Em làm như vậy có đủ sống không ?
- Dạ đủ, em nấu nướng làm công chuyện nhà, anh em cho em ở free. Em rán dành dụm, khi nào cha mẹ em trăm tuổi già em về Việt Nam sống.  Em có mua sẵn một căn nhà rồi. Nhà nho nhỏ ở vùng ngoại ô, có sân trước vườn sau đã lắm. Hồi mấy năm trước còn rẻ, em mua căn đó chưa tới mười ngàn đô. Để cho thằng cháu bà con đứng tên, tại vì mấy anh chị đều qua Mỹ hết.  Ai cũng nói em coi chừng mai mốt người ta sanh lòng tham không chịu trả. Nhưng em không sợ, bây giờ em có bao nhiêu tiền em giúp người này người kia, giống như mình rãi hạt mình gieo, mai mốt gặt,  có mất thì cũng mất phần nào, không lẽ mất hết. Phải không chị.


Thấy cây xăng bên đường Phước tấp vào dù dự tính là để chừng một tiếng nữa hãy ngừng.
- Quý vị nào có đi đái đi ỉa  thì nhanh lên.

Thi nhéo chồng, cái ông này...  nói kỳ.  Anh có muốn uống cà phê ? Ừ phải, vô đó kiếm một ly. Hai vợ chồng cậu em đi theo vô đó kiếm mua vé số cạo, thử thời vận coi có hên không. Vái trời cho trúng năm triệu, tui dọn nhà về đây ở luôn.
 Còn bao xa nữa ông xã. Mình đi cũng đi được nửa đường, còn khoảng ba  tiếng lái xe, lên tới đó chắc cũng gần sáng.
Chị Trâm và Cát Mộng Tuyền đi tìm rest  room, Phước nhìn theo hỏi vợ vậy chớ cô đào Mộng Tuyền mập và tròn như vậy hả em. Người ta nói  gương mặt nhìn giống chớ đâu có nói tướng người. Mộng Tuyền mà giống người này thì không biết đẹp là đẹp ở chỗ nào. Người ta giống Mộng Tuyền chớ đâu phải Mộng Tuyền giống người ta. Phước nhăn mặt  chu mỏ, không biết hai cái đó nó khác nhau chỗ nào.


Xe đến chỗ parking của khách sạn thì trời đã tờ mờ sáng. Thiên hạ nhộn nhịp kẻ ra người vào. Thành phố này thì lúc nào cũng vậy, ngày cũng như đêm, đêm cũng như ngày. Cậu em vợ dặn trước hai phòng lớn, có cửa  ăn thông  nhau qua lại.  Phòng nào cũng có phòng khách phòng ngủ riêng biệt.  Phước hỏi vợ, em có muốn ngủ chút cho khỏe không. Trên xe em có ngủ, anh có buồn ngủ thì ngủ em theo cậu nó xuống chơi lòng vòng. Chút nữa  mười hai giờ mọi người nhớ về   tập trung chỗ này đi ăn trưa.

Ăn trưa xong chị Trâm muốn đi tới chỗ khách sạn có thủy cung xem cá,  cậu em mê đánh bài không chịu đi nói đâu có gì lạ, coi hoài. Vậy thì cậu có đi chơi đâu thì đi, chừng sáu giờ chiều trở về khách sạn cùng nhau đi ăn tối.

Chị Trâm và Cát Mộng Tuyền không đánh bài, hai người dẫn nhau đi dài dài theo mấy casino ngó cái này ngắm cái kia. Phước đi theo vợ nhưng không chơi, đứng ngoài ngó bà xã chơi bài, nhìn bả hào hứng ăn thua thấy cũng đủ. Đứng một hồi mỏi chân, Phước kiếm chỗ ngồi uống bia một mình.

Buổi tối ăn xong, rủ nhau đi tới khách sạn có kênh đào bên trong xem cảnh người ta bơi xuồng. Phước tạo dáng lúc ngồi lúc đứng cùng  vợ chụp hình.  Phước không thích nhưng vợ thì rất thích, đi đâu cũng chụp hình.  Hôm nào rảnh rỗi thì đem mớ hình cũ ra ngắm. Nói lúc này thấy trẻ, cái bộ đồ này mặc thấy mập, cái kiếu đứng đó thấy sang... Tự sướng.

Mọi người lại  mạnh ai nấy đi mỗi người một hướng. Phước buồn tình lang thang dọc con đường đèn đuốc sáng trưng nhộn nhịp người qua kẻ lại suốt đêm không ngủ. Phía bên kia đường người ta đang diễn cảnh cướp biển thời mấy thế kỷ về trước, thỉnh thoảng lửa phựt  cháy sáng rực. Nhiều người đứng đường đưa tấm cạt nhỏ mời gọi. Phước nhớ hồi còn độc thân, cũng tại chỗ này một người bạn cứ nằng nặc đòi kiếm chỗ  thử cảm  giác với một người da màu.  Phước đi cùng bạn  tới chỗ nhưng không vào, đứng ngoài chờ.

Lang thang lên xuống mỏi chân không thấy gì lạ. Bao năm qua trở lại thì cái thành phố này vẫn vậy. Không hiểu sao thiên hạ thích đưa nhau tới đây đốt tiền. Phước ghé liquor mua một xâu bia về phòng khách sạn uống một mình.

 Phước lại ngồi trên ghế sofa cạnh cửa sổ vén màn nhìn ra bên ngoài. Khách sạn gần bên cứ mười lăm phút có màn trình diễn  nước phun  theo điệu nhạc cùng đèn màu chiếu sáng. Phước nhìn xuống phía dưới đường chỗ bóng tối có một vật gì giống như một thùng giấy to nằm bất động lâu lâu lại thấy nhúc nhích. Nhìn kỹ thì ra một người vô gia cư nằm ngủ thỉnh thoảng ngồi dậy đưa chai rượu lên uống.
Đêm đã khuya, đường phố vắng người qua lại, chắc họ rút vào mấy quán ba uống rượu hay lại  tụ về mấy sòng bạc chơi trò đỏ đen nhiều đam mê hào hứng.


Có tiếng mở cửa phòng. Có tiếng chị Trâm và Cát Mộng Tuyền xầm xì to nhỏ. Hai người mở tủ lạnh lấy đồ ăn mua từ ban chiều. Hai người vừa ăn vừa nói chuyện thì thầm.

- Hồi lúc còn ở Việt Nam, ở chỗ vùng quê cách chỗ em ở chừng mấy chục cây số, có một thằng bé trai cở  mười tuổi, nó được ông bà nào nhập có thể soi  thấy kiếp trước của người khác.  Bắt đầu từ đó Cậu Soi nổi tiếng khắp vùng. Ngày nào nhà Cậu cũng đông nghẹt người tới nhờ Cậu soi tiền kiếp. Cậu soi bằng chiếc gương coi mặt bình thường. Cậu soi không lấy tiền của ai cả. Một hôm em rủ bạn tới nhà Cậu nhờ soi coi kiếp trước mình là gì. Tới phiên em, Cậu Soi vừa cầm tấm gương, mọi người nhốn nháo, công an bao vây bắt. Em bỏ  chạy thục mạng không bao giờ dám trở lại.

Chị Trâm cười khúc khích. Vậy à, vui quá vậy. Nhưng mà biết tiền kiếp để làm gì.

- Trong kiếp này nếu  mình có  điều gì  dính líu đến kiếp trước phải làm làm phép  hoá giải. Thí dụ như mình có hứa hẹn làm vợ chồng với một người đã chết, kiếp này bằng đủ mọi cách mình vẫn không thể lập gia đình. Vì mình đã có hôn ước với người đó.  Phải làm phép xé hôn ước với người âm.
- Vậy à, nếu vậy chắc kiếp trước chị đã chờ một người đi biền biệt không thấy về. Vì người ấy vẫn còn sống nên mình vẫn cứ chờ từ năm này qua tháng nọ. Chờ từ kiếp trước tới kiếp sau cũng còn chờ.

Phước nghe có tiếng thúc thít  hình  như là tiếng chị Trâm đang khóc.
     
Phước khui chai bia nốc cạn.

- Hồi dạo tháng Tư..." Mùa chinh chiến ấy chim đã xa bầy mịt mù bên trời mây..." (1) ...Anh ấy đang ở ngoài Trung, nghe tin ảnh theo tàu vô tuốt trong Phú Quốc, sau đó có người nói ảnh được tàu Mỹ bốc đi Mỹ rồi. Nghe vậy chị cũng mừng. Nhưng từ đó tới giờ...không hề biết tin tức của ảnh sống chết ra sao.

Hình như chị Trâm lại khóc. Phước đưa tay với lấy chai bia. Nhớ có lần cậu Hoà từ xa ghé nhà thăm mẹ ngủ lại qua đêm. Nửa  đêm cậu hỏi mượn chìa khoá xe đi mua rượu. Cậu nói sao lúc rày  không uống chút rượu không ngủ được. Cậu Hoà là người em họ của mẹ, cậu là người thành đạt, ở nhà biệt thự, đi xe sang, vợ đẹp con ngoan. Không hiểu sao hai người ly dị. Phước nghĩ chắc vì vậy cậu buồn. Nhưng cậu là người chủ động thôi vợ chớ không phải bị vợ bỏ.

Có tiếng mở cửa, Thi và hai vợ chồng cậu em về tới. Mấy người còn say sưa cuộc đỏ đen. Hồi nãy em ăn nhiều, tính nghỉ rán chơi thêm thua lại cũng bộn. Thi bước đến nhìn chồng. Chưa ngủ hả anh, sao không nằm trên giường, nằm trên ghế đó sáng dậy đau lưng lắm.

Phước lấy chai bia cuối cùng nốc một hơi cạn. Chắc mình tối nay giống cậu Hoà, không say thì không ngủ được.

Sáng sớm mọi người thức dậy sửa soạn đi về. Phước ghé qua một tiệm bán thức ăn nhanh của người Việt mua cà phê và mua bánh mì thịt mỗi người một ổ. Ai thích ăn gì cứ mua. Thằng con gọi điện dặn chiều về nhà ăn cơm ngon lắm con nấu,  đừng ăn ở đâu.

Phước ghé nhà Cát Mộng Tuyền  thả nàng  xuống trước. Anh chàng bước xuống xe lăng xăng nói anh chờ em chút. Nó mang ra một trái bầu lớn và một bịch ớt chỉ thiên. Mấy cái này là do cha em trồng, chỉ chôn đầu tôm đầu cá chớ không bỏ phân hoá học.
Phước mĩm cười nói cảm ơn. Chàng muốn đối xử tử tế với một người sinh ra phải gánh nỗi bất hạnh của gia đình.

Vừa về đến nhà hai đứa con chạy ra mừng. Má chơi ăn hay thua. Phước nhìn vợ, hai đứa có cái gene của bà. Mai mốt về già hai đứa thay phiên chở má đi casino kéo máy. Vậy chớ sao, con tui là con nhờ con cậy.

Cơm đã sẵn sàng, thịt sườn ram với tép để vỏ, canh chua rau muống nấu với tôm. Con trai giỏi quá, con gái có phụ không. Ảnh không cho con làm, ảnh nói con không biết làm vô bếp mất công ảnh chỉ.
Phước quay sang cậu em vợ, cậu có muốn đi tắm trước rồi ăn sau. Dạ phải, em thấy nực nội khó chịu quá, tắm một phát cho mát.
Phước hỏi chị Trâm có muốn đi tắm không. Khỏi, hồi sáng có tắm ở khách sạn rồi. Sạch rồi. Tắm nhiều hao nước. Phước nhìn theo dáng chị Trâm đi vô phòng, cái dáng điệu buồn buồn. Chắc là chị mang theo  nỗi buồn ấy từ tiền kiếp.
Phước đi tới tủ lạnh coi có còn bia. Tối nay không uống say chắc khó ngủ.



S. J.
Tháng Tám 2016



(1) Lời bài hát Hướng Về Hà Nội của Hoàng Dương

























Sunday, August 7, 2016

TRỜI SẮP MƯA




                                                                      Nguyễn Văn Sâm




Nhà bếp rộng, sạch. Trên lò, nồi giò heo hầm lửa riu riu phun khói nhè nhẹ, nắp nồi khua động bằng một âm thanh đều đều, xì xọp, vui vui. Trên tường đồng hồ thánh thót đổ một hồi kẻng dài. Dì Tư ngó lên rồi lại cúi xuống tiếp tục từ tốn cắt cắt thái thái mấy miếng thịt lấy ra từ cái oven. Trong góc bếp, nút nồi cơm điện nhảy từ chữ "nấu" sang nút "giữ ấm" nghe cái "cắc" một tiếng dòn tan, Dì lại ngước lên ngó về phía đó. Bực mình. Già cả nên lẩn thẩn, biết trong bụng là không có chuyện gì mà cứ giựt mình, cứ coi đi coi lại cho chắc. Vô ích hết sức. Như là ba cái vụ điện thoại, reng reng trong tivi mà cứ giựt mình lại coi phải ai gọi không, mặc dầu nếu có người hỏi cũng chỉ biết nói "Họ không có ở nhà", ngay ý muốn hỏi tên để về nói lại cũng ngại ngùng. Dì giở nắp nồi cơm ra coi. Hơi gạo
chín tỏa một mùi thơm dễ chịu. Dì nghĩ tới món thịt kho dưa chua đứa con gái ưa thích từ hồi còn nhỏ tới giờ, thỉnh thoảng được ăn vẫn chắc lưỡi hít hà khen ngon liền miệng.
Trí Dì miên man nghĩ tới đứa cháu ngoại chắc chắn nó sẽ bới nửa chén cơm và ba hột rồi ôm đủa ngó, đợi không ai chú ý đem chén đủa để trong chậu rửa chén rồi tới mở tủ lạnh lục bánh trái gì đó ăn dằn bụng qua loa. Tội
con nhỏ không ăn được những món Việt Nam nghèo thuần tuý, món của quê nhà đồng ruộng. Dì lấy gói thịt bầm làm hai cái hamburger. 

Trong khi nướng Dì nghĩ vẫn vơ về hai đứa con gái trong nhà.
Con Trinh không gần gũi thân mật là bao nhiêu mặc dầu đã sống với nó từ mười năm nay, mến chân mến tay từ hồi còn nhỏ. Dễ thương thì dễ thương thiệt, nhưng nhiều khi nó ngồi yên cả giờ đồng hồ không nói, chăm chú trước máy truyền hình, hay cười như nắc nẻ lúc nghe được chuyện gì hay. Gợi chuyện với nó thì nó dạ dạ mà coi bộ cũng hững hờ lắm, không có gì tha thiết. Nhiều lúc vui vui buột miệng kể chuyện lúc nó còn nhỏ ở Việt Nam, thì lần nào cũng như lần nấy nó chận họng: Chuyện này bà ngoại kể hoài, bộ bà ngoại hổng nhớ sao. Con nhỏ giống má nó in hịt càng ngày càng thấy xa lạ, như tụi nó không là con cháu mình nữa. Tụi nó lúc này và lúc trước ở Việt Nam là những người khác.
 Cũng mắt mũi đó, cũng tên họ đó, cũng bộ điệu đó, nhưng mà như là uống nước ở xứ này nên bị rửa ruột thành người khác. Nói năng không lựa lời lựa vốn, bạ đâu xâu đó, nhiều khi nghe muốn tức cành hông.

Còn con Chuyên mắc giống gì không biết lại thương mến. Có lẽ nhờ nhỏ nhẹ dịu dàng. Có lẽ nhờ mới qua. Có lẽ chịu nghe, chịu góp chuyện. Ở đây có khi cả tuần, có khi cả tháng, trong nhà mới có vài câu nói, trả lời ngắn gọn, lạnh tanh, ngoài ra là thời khoảng im lặng ai lo chuyện nấy. Người trong nhà như những cái bóng dật dờ đi làm - về- ăn- ngủ. Một chu trình trôn ốc liên tục tiến lên theo thời gian bất tận. Hai vợ chồng là hai vòng trôn ốc ngoài nhau, không có điểm chung nào. Dì là đường thẳng đơn côi riêng biệt với họ. Lặng lẽ, cô đơn, thèm được chuyện trò. Rồi Chuyên, đứa con riêng của chồng của con Dì, xuất hiện tưởng không thể thân thiện được lại đến như một niềm vui, một sự khơi dậy ánh lửa đèn cây tươi mát trong lòng Dì. Dì còn nhớ ngày đầu tiên gặp gỡ, bữa ba người kia
rước Chuyên từ phi trường về, được giới thiệu với Dì, Chuyên đã chào thật cung kính, thật tươi,
 Thưa Ngoại. Dì cảm động rớt nước mắt. Dì đã hồi hộp chờ ngay từ lúc "họ" ra xe lên phi trường. Cái giòng con gái cỡ trong ngoài hai mươi khó chịu lắm. Con nào hỏng thương mẹ, qua đây thấy chuyện ba nó thế nào cũng nầy kia. Bị ghét lây cũng đành chịu. Không dè mọi chuyện xảy ra khác với bình thường. Ánh mắt Chuyên không biểu lộ một sự gượng gạo, khó chịu, trái lại là một nụ cười thân thiện. Hai bà  
cháu bà con chống bảy sào không tới từ đó lại thương nhau hơn cật ruột.. Người dưng nước lã đã biến  thành máu mủ. Bây giờ tình thương càng ngày càng chất chồng, nó đi đâu một chút thì nhớ thì trông.

Nghe mùi thịt nướng thơm thơm, Dì Tư gắp xuống để trong dĩa, sửa soạn pickle, cà tô mách, củ hành, tất cả xếp trong một cái dĩa kiểu, các thứ rau cải xanh đỏ trắng nổi lên trên nền men trắng màu ngà coi thiệt đẹp mắt.
Dì đi lại phòng, gõ cửa ló đầu vô gọi cháu:
- Trinh ra ăn hamburger con!
Con nhỏ đương nằm lơ mơ nghe nhạc, con gấu để trên bụng, một tay ôm, một tay vuốt ve, nghe kêu, nhíu mày lại một giây trước khi chểnh mãng ngồi dậy.

Dì Tư dọn "cơm" mà lòng dửng dưng, không mấy thích thú vì đã làm một điều lợi ích cho cháu con, cũng không thấy khó chịu vì bận bịu. Lòng Dì trống rỗng, như lúc mở cái cửa, lúc xoay lại cái ghế cho ngay ngắn hay lấy cái nùi giẻ lau những miếng thức ăn vụn nho  nhỏ rơi rớt trên bàn sau buổi ăn, những công chuyện bình thường  không tên ngày này qua ngày khác của một đời không bước ra khỏi ngõ...

Tiếng xe quen thuộc ngừng trên  con đường dẫn vô nhà xe, tiếng đóng cửa xe  cũng quen quen, tiếng gót giày  đều đều mà Dì mường  tượng đã nghe rất nhiều lần trong đời tiến lần về phía cửa.
Dì lên tiếng với cháu:
- Chắc mẹ mày về đó. Tao nghe có tiếng xe, sao bữa nay về sớm vậy cà.
Con Trinh không lấy làm lạ về câu nói của bà ngoại mặc dầu nó không nghe gì hết. Chuyện trong nhà bà rất thính mũi thính tai đoán không bao giờ trật. Ít nhứt cũng có người tới.

Bên ngoài Hoa ngó khung cảnh sân cỏ  trước nhà xanh mướt, bằng phẳng, sang trọng như một minh tinh. Mùi cỏ mới cắt phảng phất trong không gian một hơi hướm thiên nhiên tươi mát tinh khiết, khiến chị nín hơi hít những hơi thật dài, đầy phổi. 
Hoa giật mình ngỡ ngàng  khi  cửa mở  cùng lúc với cái bấm chuông của chị: 
- Ồ má! Sao má biết con về hay vậy? Ngó sự chậm chạp  già nua của mẹ, nhớ lại chuyện thực tế, chị cằn nhằn: Má mở cửa mà không check coi người lạ hay quen, nguy hiểm lắm. Ở đây coi vậy chớ tụi cướp tới lúc nào không biết đó. Cái điệu má cà rịch cà tang nếu là người lạ thì trở tay đâu kịp. Chị cố gắng hạ giọng để câu nói có vẻ thật bình thường.
- Con nói với má hoài mà má cứ thờ ơ. Có chuyện gì rồi ngồi đó than trời trách đất.
- Ối tao già rồi đâu còn sợ gì nữa. Nhà đâu có để tiền mặt đâu mà sợ.
Hoa nhăn mặt không vừa ý.
- Má nói vậy sao được! Má già, nhưng còn con Trinh mần chi, nó lớn trọng cải rồi, má có một mình nó là cháu ngoại đó.

Dì Tư nghe xốn xang trong lòng. Đã đành, nhưng cách nói của nó như là mẹ người ta! Lúc nó còn  nhỏ, làm bậy, nhà cửa để bầy hầy  bề hề  mình cũng không rầy kiểu đó. Dì buồn hiu đóng cửa lại sau lưng đứa con, gài sợi xích an toàn rồi bước theo sau.
Già rồi, ở tạm ăn nhờ phải chịu. Nhứt là xứ này, mọi chuyện đảo điên. Tiếng Mỹ tiếng Tây dốt đặc cán mai nói không được như câm, như điếc. Mọi chuyện đều lạ lùng, ngơ ngơ ngác  ngác,  như thằng  lác mắc phong, chết lúc nào sướng lúc đó. Nghe nó cằn nhằn cưởi  nhưởi hoài, tủi quá.
Con Trinh ngó mẹ và ngoại, nó chào cho có:"Hi !  mom", rồi tiếp tục vừa  ăn vừa ngó xéo qua vai má nó, theo dõi chương trình tivi ở góc nhà.
Chị Hoa liếc lên bàn ăn, chị hỏi con, sự không vừa ý lộ ra rõ ràng trong âm điệu:
- Sao con không ăn cơm, ăn có thứ này thứ kia mới đủ chất bổ, hamburger chỉ là fast food để cho mấy người đi làm ăn cho mau vì không đủ thì giờ. Con phải tập ăn cơm Việt Nam cho quen chứ. Chị nắm đôi đủa  lên lật miếng hamburger lên mặt sau săm soi. Sao con không nhờ ngoại dọn cho. Đồ ăn thiếu gì trong tủ lạnh đó.
Dì Tư chen vô, dì thấy cần phải giải thích. Con nhỏ có vẻ muốn đổ thừa mình. Con nó là cháu mình, không thân với nó thiệt, nhưng đâu đến nỗi ghét bỏ.
- Tao thấy nó ưa ăn món đó thì tao làm cho nó. Có dọn cơm nó cũng không ăn. Bữa nay tao nấu thịt kho ăn với dưa chua. Còn món giò heo hầm tao tính để cho chiều nay. Dì nói như phân bua. Chưa được mềm, còn dai nhách.
Con Trinh giờ mới lên tiếng:
- Con chỉ ưa ăn hamburger thôi à ! Mấy thứ khác con ăn không được.
- Mày biết gì! Ăn uống để tẩm bổ chớ đâu phải để chết. Day qua Dì Tư, chị Hoa nói thiệt nhỏ nhẹ. Má làm ơn ép nó ăn dùm con. Nó đương sức lớn ăn bậy bạ nữa sau èo uột. Mình lớn mình biết chuyện nào trúng chuyện nào bậy, chứ nó con nít con nôi biết khỉ gì. Ở Mỹ mà, nhỏ con quá coi đâu được.
Dì Tư buồn hiu, nói xuội  lơ:
- Ừ để tao rán coi, biểu nó, nó không cãi ngang cãi dọc, nhưng nó vô buồng đóng cửa lại thì tao cũng thúc thủ thôi chứ làm gì được.
- Má,  còn con Chuyên đâu hỏng thấy?
- Nó đi lợi đằng trường ghi tên rồi. Nó ghi sớm nữa khỏi phải chen lấn.
- Nó đi một mình hay có ai tới rủ?

Khó nói quá, mình là cha mẹ nói láo với con coi sao được. Mà nói ra tội nghiệp con nhỏ. Dì giả đò không nghe câu hỏi kiếm chuyện gì đó làm, tiện tay dì mở tủ lạnh. Bình sửa để ở ngoài cùng. Bỗng nhiên Dì muốn rót một ly sữa cho con. Coi vậy chớ tội nghiệp nó, buôn bán tối ngày về còn phải coi chừng coi đổi chuyện nhà cửa. Mỗi ngày cầu nó uống hai ba ly sữa mới lấy lại sức. Dì đem ly sữa để trước mặt con rồi quay lưng tính đi rót một ly khác cho cháu. Mắt Dì rưng rưng, không biết sao kỳ vậy. Đâu có buồn gì lắm đâu. Tánh nó chót chét  vậy thôi chớ không để bụng. Nó sẽ quên ngay. Như con cọp ngủ một giấc dậy vung vai,  mọi chuyện xảy ra trước đó sẽ đi vào quên lãng. Thương con cũng muốn mời nó một câu thân mật. Chẳng hạn như con uống ly sữa nghỉ mệt rồi ăn cơm, nhưng không nói được. Khó quá ! Mẹ con lớn hết rồi, biểu lộ bằng cử chỉ săn sóc lo lắng thì được, nhưng nói dịu ngọt thiệt khó còn hơn lên trời. Nó, chồng con đùm đùm đề đề chứ còn nhỏ nhít gì  nữa đâu.
Chị Hoa ngó ly sữa, cảm động đưa mắt theo bàn tay khô cằn của mẹ. Chị hiểu lòng mẹ và cảm thấy mình vô lý, có vẻ như hỗn hào. Già rồi đâu còn lanh lợi như mấy người trẻ. Nói thì nói vậy, chớ tội nghiệp, có bà cũng đỡ chuyện cơm nước giặt dịa, nhà cửa cũng được vén khéo tươm tất. Cả nhà bỏ đi hết, trấn ba cái đồ đạc lại cho ông Táo, biết đâu chừng có bữa tụi nó vô dọn  không còn miếng giẻ rách. Tụi thất nghiệp, xì ke ma tuý, bụi đời chung quanh khu này thiếu giống gì. Dân nào cũng có. Tứ xứ. Thấy có người ra vô tụi nó cũng ngại chứ. Cũng tội, bà lâu nay lủi thủi trong nhà, quanh quẩn với cơm nước, quần áo và con nhỏ Trinh, có biết nước Mỹ là cái gì đâu.

Chị giả lả với mẹ:
- Phải con Chuyên nó đi với thằng Khoa không má?
- Ừa.
Nghe câu trả lời  như nhẹ hẫng nhẹ tênh, chị Hoa không nói ra nhưng cảm thấy giận ngang trong bụng. Như là có một sự đồng loã  nào đó trong nhà này, không đếm xỉa tới chị. Nó là con chồng, lớn đại rồi, thêm ở Mỹ này, có thân muốn đi với ai thì đi. Ba nó không rầy thì thôi, mắc mớ gì mình nói ra nói vô thêm mắc oán. Nhưng mà tại sao má lại dấu dấu diếm diếm, giống như chấp nhận thằng kia, giống như ở về phe với nó mà không đếm xỉa gì tới mình. Chị bực bội, nhưng không biết sao cho đúng, chị đưa ly sữa lên miệng, uống mấy hớp. Con Trinh thinh không mở miệng khoe:
- Anh Khoa có cho con một con beat đẹp lắm.
Chị Hoa lườm con, trút tất cả bực bội nảy giờ.
- Đồ con gái hở ai cho gì cũng lấy là con gái hư mầy biết không. Từ rày sắp tới mày mà còn lấy cái gì của thằng Khoa thì mày biết tay tao. Con Chuyên đi với nó, muốn lấy cái gì thì lấy, mày có ăn nhằm gì vô đó mà lấy.
Dì Tư nóng mũi binh cháu:
- Trinh ăn mau bà dẹp. Con còn đi học bài nữa, mai đi học rồi.

Con nhỏ ngồi xụ mặt một chút rồi bỗng nhiên nó xô nửa cái hamburger còn lại ra trước mặt đứng dậy cái rột, đi thẳng vô phòng đóng cửa cái rầm trước mặt mẹ và ngoại nó. Hai người đàn bà ngó theo, mỗi người theo đuổi tư tưởng của riêng mình, chị Hoa lắc đầu ngán ngẫm.
- Con cái, cứng đầu cứng cổ. Má nữa ! Má đừng binh nó. Con tui má để tui dạy, má cứ xử bỉ hoài nó được mòi  làm tới nữa, nó hư thì ai vô đây chịu đây? Má đâu có sống đời để lo cho nó đâu. Còn con Chuyên nay thằng này tới, mai thằng  kia tới tui đã bực lắm rồi. Bây giờ mà bắt thang cho con Trinh trèo nữa thì có nước tui bỏ nhà tui đi.

Nói xong một hơi dài, coi bộ chừng đã mệt, chị Hoa ngồi xuống bàn ăn, ngó chén đủa  đã dọn sẵn, lòng chị dịu xuống, làm thinh ngó những miếng dưa chua được xếp đặt gọn ghẽ trên cái đĩa sứ.
Dì Tư múc tô thịt kho, đem đến để trước mặt con. Mùi mỡ rục nóng mời mọc nhưng Dì thấy nó hơi ngang.
- Tao chút nữa ăn sau, bây ăn đi.

Không đợi trả lời, Dì kéo cửa kiếng  bước ra patio. Trời trong mát đầu Thu với từng cơn gió nhẹ phe phẩy mời gọi,  Dì ngồi xuống một cái ghế cũ đặt gần cụm hồng cạnh tường. Mấy chiếc lá vàng rơi rụng loả xoã  đầy sân, mấy bụi hoa cúc và nhiều thứ hoa khác nữa, trồng mấy tháng trước bây giờ coi bộ xum xuê. Vườn sau coi cũng đẹp ớn, nhưng mà trong nhà thiệt là khó thở. Một cụm mây đen phía chân trời từ từ trôi tới, Dì Tư buột miệng: Trời sắp mưa.
Lòng Dì nặng trĩu như đám mây đe dọa trên kia.


Trích SÓNG ĐỜI TRÔI GIẠT


Nguyễn Văn Sâm






----------------------
Nguồn : VĂN
               số 50, tháng 8-1986