Tuesday, April 14, 2020

CÁ KÈO



Thủy Lan Vy


Thập niên 50 quê tôi thật sự sống trong cảnh thanh bình, gạo trắng nước trong, mức chênh lệnh giữa giàu nghèo của người dân không đáng kể. Gò Công họp chợ trong không khí an lành, chuyện móc túi, giựt dọc hình như không có. Đàn bà con gái trong tỉnh đi chợ đều mặc áo dài. Truyền thống tốt đẹp nầy sau 75 sao mất tiêu !?.
Thuở tôi vừa mới vào trường tiểu học, xóm cầu Huyện tôi ở thật hiền lành, với khoảng gần 10 ngôi nhà trải dài cặp lô bên kia là con kênh, mỗi nhà có rào rấp rạch ròi…Chiều chiều thường có những chiếc xe ngựa có trống có phèn la hai bên hông xe treo bảng quảng cáo tuồng hát rong ruổi chậm chậm khắp các nẻo đường để phát chương trình quảng cáo tuồng hát trong đêm…
Rạp Bình An Gò Công luôn luôn có gánh hát từ Sài Gòn xuống trình diễn… Cứ mỗi lần nghe tiếng trống xe rao hát là tôi được phép chạy ra ngõ chờ xe tới xin cho được tấm chương trình… Chị tôi cùng với mấy người bạn chung xóm chuyền nhau xem tờ chương trình, dĩ nhiên không quên bàn tán về các cô đào cậu kép trong gánh… để rồi cười với nhau vui vẽ…Nhiều lần tôi nhận được tấm chương trình bằng chữ tàu, các chị tôi cười chộ tôi
– Tại em giống chệt đó…
– Tối nay mình mua vé hạng cá kèo đi coi hát …
Trong trí tôi nhận biết hạng cá kèo là thứ hạng từ bằng tới thấp hơn hạng chót. Ba tôi trong một bữa ăn có nói về chuyện nầy:
– Tháng lúa gần chín miệt làng Tăng Hòa cá kèo đặc ruộng, đứng trên bờ nhìn xuống mặt nước thấy chi chít đầu cá kèo, hạng cá kèo là vậy đó… Không có ghế ngồi đứng sau hàng ghế hạng chót cũng đơm đặc đầu người…
Gia đình tôi thuộc hạng giữa của trung lưu và nghèo, cho nên việc chi tiêu tiền bạc phải hết sức dè sẻn, bữa cơm thường có hai món, món canh và mòn mặn. Cũng có khi thay canh bằng món xào. Con cá kèo rất thường được mẹ hay chị tôi làm món ăn trong ngày. Cứ mỗi lần ngồi vào mâm cơm, ba tôi nhìn thấy dĩa cá kèo, người thường nói:
– Cá kèo nầy là do đất sanh. Mùa khô ruộng đất nẻ đồng, vậy mà mưa xuống vài đám, ruộng nổi nước là có cá kèo.
Nghe ba nói, tôi ghi nhớ mà không thắc mắc…Cho tới khi tôi làm sinh viên trường đại học cải tạo sau 75 mới thấy điều nầy là sai. Trại Hà Tây, thường vào cuối thu các ruộng rau muống bắt đầu cổi, Không phải tát nước vào ruộng mà chờ ruộng khô đào hốc (lỗ khoảng 5 tấc vuông) để trồng su hào, hay bắp cải…
Tôi thuộc đội rau nên thường năm vẫn làm việc nầy, hốc đào sâu xuống khoảng 5 tấc, thỉnh thoảng tôi nhìn thấy lớp đất khô có thấm nước. Nước chỉ hơi ươn ướt, và sau lớp đất mỏng ướt nầy thế nào cũng có một con cá chạch, nó nằm yên trong đất chờ nước tới là lội đi. Tôi nhìn con cá chạch rồi nhớ tới lời ba tôi nhận xét về con cá kèo. Tôi thầm nghĩ chắc là cá kèo cũng ”tỵ thổ’ giống như cá chạch.
Mười lăm năm lưu lạc đất người, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến những món ăn làm từ cá kèo, với bàn tay khéo léo của mẹ tôi, nhớ lại tôi còn thấy thèm… nhiều lần tôi mua cá kèo đông lạnh trong vài chợ Việt Nam… Nhưng dù tôi cũng kho nấu chiên xào giống hệt mẹ tôi nhưng, thịt cá cứng ngắc, ăn chẳng ngọt ngào…
Những thức ăn làm từ cá kèo của mẹ bây giờ tôi chỉ còn được ăn trong mơ… để rồi tỉnh giấc…lau vội giòng nước mắt lén chảy ướt má. 
Trời Gò Công tháng gió chướng, ngọn gió độc xứ Gò (Gió nào độc bằng gió Gò Công), gà vịt cũng thường bị toi vào tháng nầy… Có gió chướng là có hoa so đũa, có trái đậu rồng, hai loại nầy chỉ xuất hiện vào những ngày tháng cuối thu.
Tan buổi học về, trời hanh nắng, chén cơm rang buổi sáng lót lòng đã đi chới đâu mất, bụng đói cồn cào… bước vô nhà, bỗng khịt mũi, mùi canh chua từ nhà bếp phưởng phất đâu đây…Nhìn mâm cơm mẹ dọn sẵn, tôi đã thấy cồn cào.
Tô canh chua bông so đũa, lẫn với đậu rồng xắt liễn, nấu với cá kèo, nêm rau tần dày lá với ớt sừng trâu chín đỏ cắt khoanh mỏng xéo, dĩa nước mắm trong dầm ớt chim ỉa, chén cơm bốc khói, mâm cơm chỉ một món nhưng ăn hoài, ăn no cành hông mà vẫn còn muốn ăn nữa…
Tôi ăn luôn 5 chén cơm loại chén có hình rồng, mẹ nêm đường, muối, mẹ dầm me, mùi chua cay, ngọt , mặn thật hòa họp, cá kèo mập tròn, bụng cá béo ngậy với vị đăng đắng của mật cá, ngon khó tả, cho tới bây giờ xứ người nhớ lại, tôi nuốt miệng không mà cũng thấy ngon…Xong bữa cơm bụng căng tròn lưng đẫm mồ hôi, quá đã….
Thuở còn nhỏ, tôi là con út nên thường quẩn quanh bên mẹ, mỗi lần mẹ đi chợ về có mua cá kèo là tôi có phận sự canh mấy con gà cho mẹ làm cá, sơ ý một chút là gà cắp cá chạy te te, rượt theo bắt lại đủ mệt.
Cá kèo mẹ để trong rổ, lựa thế đất bằng ngoài sân mẹ ướp cá với tro bếp rồi cầm từng con chà trên mặt đất cho sạch vảy và nhớt cá, sau đó mới để cá vào rổ, nhận rổ vào chậu nước chà cá nhiều lần…cá kèo đen đúa bây giờ trở nên trắng trẻo. Mẹ dùng dao nhỏ, sau khi liếc sơ vào một cái khu tộ, mẹ bắt đầu cắt bỏ đầu cá, bầy gà sau khi cá làm xong thì bầu diều cũng căng cứng vì đầu cá. Loai cá nầy sống khá lâu trên cạn.
Cũng cá kèo mẹ dùng gắp tre cặp gắp nướng. Cá gặp lửa than hồng liu riu chín tới từ từ cho tới khi da nứt vàng nghín mẹ để cá vào dĩa. Nước mắm chanh đường tỏi ớt, củ cải trắng mẹ xắt lát mỏng rồi xắt lại thành sợi, ngâm cải vào tô giấm có pha chút đường muối và chút nước lã, rau quế mẹ xắt nhuyển. Cá kèo nướng được mẹ đặt nằm khít trên dĩa, mẹ chan ngập nước mắm ớt, trải trên mặt một lớp củ cải ngâm dấm, trên lớp củ cải là lớp rau quế. Bên xứ lạ nầy có tiền biết đi đâu để mua dĩa cá nướng nầy đây?.thêm một món bông bí xào với thịt ba chỉ. Cơm ăn với cá kèo nướng, bông bí xào thêm xị rượu đế Bình Ân, khà một tiếng…quên hết chuyện đời.
Chị Hai tôi thường kho mắm với cá kèo. Mắm cá sặt chị mua của bà thầy Thanh, kho rục lọc bỏ xương. Cá kèo, chị để nguyên con, nêm đường cho mắm dịu, canh sôi hớt bọt, cá vừa chín tới, trái đâu bắp chị cắt mỗi trái làm 3 khúc, cà dái dê chị cắt miếng bằng ngón tay cái…thả hết vào nồi mắm, chờ lửa sôi lại chị nêm thêm hành, ớt…Nhà bếp trống vách vậy mà mùi mắm vẫn bốc thơm lừng, gầy cồn cào bao tử…
Buổi chiều trời mưa rả rít, cảnh trời mưa mùa lúa chín. Mưa không lớn nhưng dai dẳng dễ làm lòng người se lại, dễ gợi nhớ những kỷ niệm êm đềm đã trôi qua…,những cô gái mới về nhà chồng dễ nhớ tới người tình cũ …gian nhà bếp trống vách, bộ ván cũ nhỏ, vừa dùng để nồi cơm trả cá, đi chợ về bày biện trên ván, vừa dùng làm bàn ăn.
Ba, anh, và tôi ngồi ghế đầu quanh góc ván. Mẹ,chị ngồi trên ván. Mâm nhôm, với một tô nước mắm kho, một dĩa bàn đựng cá kèo, một dĩa dưa leo, khế chua, chuối chát, một tô tai bèo đựng rau thơm, gồm tía tô, rau quế, vấp cá, húng cây, một dĩa đậu bắp hấp cơm …mấy trái ớt chỉ thiên vừa hườm chín…
Trời nhá nhem tối, ngọn đèn dầu khêu ngọn cao, cơm gạo sóc nâu nóng bốc khói…Anh kể chuyện trường, chị kể chuyện lớp, mẹ kể chuyện ngoài chợ…. Mâm cơm gia đình ấm cúng bên ngọn đèn dầu với đầy đủ thành viên trong nhà… Cảnh nầy, hy vọng kiếp sau tôi mới tìm thấy lại được…
Ngoài trời mưa vẫn còn rả rít.Nồi cơm cạn dần, mẹ lại tủ thức ăn mang ra một dĩa vú sữa mẹ đã cắt sẵn ăn tráng miệng.. Mẹ ơi! bàn tay của mẹ, bàn tay mềm dịu chăm sóc đàn con bây giờ con biết tìm đâu?? 
Có nhiều hôm cá kèo mẹ không nướng mà chiên tươi. mẹ dầm nước mắm me đường tỏi ớt thật cay, cá kèo chiên tươi ăn kèm với đậu rồng xắt xéo xào với tôm bạc lột vỏ (dân Gò Công phân biệt tôm càng, tôm trứng, tôm đất, tôm bạc, tôm chấu, tôm tích…rồi tới tép rong, tép mòng …sau cùng là con ruốc, ruốc là loại tép ở biển, nhiều nơi tôi nghe người dân gọi con tôm đất tôm bạc…là con tép đất, tép bạc. Vậy chớ khi con tép đất nầy phơi khô sao không gọi bằng con tép khô.)
Gò Công thuở tôi còn nhỏ, cá kèo rất rẻ. Tôi nhớ có năm, bà con (gia đình chị Phụng, gia đình chị hai E) từ Bến Chùa mang cho nhà tôi mỗi lần hàng mấy trăm con cá kèo. Thuở đó cá kèo được tính bằng đôi (mỗi đôi 2 con). Sau 75… cá kèo trở nên khan hiếm !?.
Ngày còn khoác áo nhà binh, mỗi lần về phép, sau khi ghé thăm nhà, tôi thường xuống Cầu Bến Lội. Trong đồn lính bên cầu tôi có 2 người bạn thân đi nghĩa quân ở đây. Về đây mới thấy cảnh thanh bình, dù giặc giã tứ phương nhưng Gò Công vẫn bình yên, đó là điểm son của tỉnh quê nhà tôi.
Về đây nhậu tôi nhớ hoài món khô cá kèo nướng dầm nước mắm me. Cá kèo làm khô, nướng lên thịt ngọt lại thơm, nước mắm me dầm ớt, mùi chua ngọt của nước mắm, hòa với vị ngọt thơm của khô cá…thì cạn ly đầy ta lại rót đầy ly cạn..
Lúc đương thời, đi công tác dưới Sóc Trăng, tôi thường mua khô cá kèo đem về đơn vị nhâu… Khô cá kèo có khuyết điểm là không để lâu được vì thịt khô trở nên gắt dầu, bởi bụng cá có nhiều mỡ.
Lúc trong trại cải tạo, nhận quà gia đình, có một gói nhỏ mấy con khô cá kèo, tôi tự dưng ứa nước mắt. Hình ảnh mẹ tôi, bạn bè tôi… cảnh cũ quê nhà như hiện rõ trước mắt tôi. Những con khô cá kèo nầy, trước khi cho vào bọc, chắc là mẹ tôi trải khô trên mặt hồ nước bên hông nhà phơi nắng. Hình ảnh mẹ già đang trăn trở con khô như hiện ra trước mắt tôi.
Những ngày đi huấn luyện trong chiến dịch Kiện toàn an ninh lãnh thổ quân đoàn 4 vào giữa năm 74, công tác tại Sóc Trăng tôi có dịp ăn món bún nước lèo nấu bằng cá kèo. Món nầy quê Gò Công tôi không có… lạ miệng ăn thấy ngon.
Con cá kèo kho nêm hẹ rắc tiêu là món thường ăn của dân miền lục tỉnh. Cá kèo kho khô, cá cong mình lại quyện hẹ tiêu, kèm chút rau thơm khế chua dưa leo…mới nghe nói đã bắt thèm. Nhưng cá kèo kho chỉ, dân Việt lưu vong khó biết làm.
Thời Gò Công thanh bình, thời tôi còn thơ trẻ, chạy chơi quanh nhà, khi bắn kè, lúc đá cầu, nồi cơm chiều gần cạn mẹ luôn luôn chắt cho tôi một chén nước cơm. Gạo thời đó cho nước cơm thật béo. Chén nước cơm để nguội trên mặt đóng một lớp ván.. chạy chơi nhớ tới cử, tôi vô bếp bưng chén nước cơm uống ngon lành.
Con cá kèo kho như bình thường. Khi thấy nước rút gần cạn, cho vào nửa chén nước cơm chắt, chờ sôi lại vài dạo cho nước hơi kẹo, nêm hẹ (cá kèo kho chỉ nêm hẹ mà không nêm hành), dùng đủa dẽ cá. Cá gắp khỏi dĩa sẽ có một sợi chỉ nước cá vương theo, nên gọi là cá kèo kho..chỉ. Thịt cá kèo ăn bị phong, tuy nhiên “Ông Trời” sinh ra thứ độc, ông cũng sinh ra thứ để trừ, mật con cá kèo là thứ giải phong.
Thời cá kèo đơm đầu đặc ruộng, có dịp về Tăng Hòa, hay Bình Luông Đông, bạn bè gặp nhau chén chú chén anh, với mấy món nhậu miền quê. Gà giò xào lá ớt, lòng gà chưng hột vịt… tiệc gần tàn, vợ bạn mình múc đầy một tô lớn…cháo cá kèo. Thường món cháo là phải dùng gạo.
Riêng cháo cá kèo chỉ có nước và thịt cá kèo nhưng vẫn gọi là cháo.
Có ăn qua chén cháo cá kèo mới thấy thấm “món ngon vật lạ miền Nam.” Cá kèo còn nhảy soi sói, nồi nước đang sôi thả nguyên rổ cá sống vào, khơi già lửa, cho tới khi nào cá rục, dung đũa bếp (đũa cái) quậy vài lần cho cá rã thịt, dùng rổ thưa lọc bỏ xương, chụm lửa riu riu, canh hớt sạch bọt, nêm nước mắm, hành xắt nhuyển, tiêu đâm vừa bể… Uống rượu đế, mình mầy nóng hổi, húp một muổng cháo cá kèo vị ngọt lâng lâng từ miệng trôi xuống tận bao tử.. tỉnh rượu ngay…
 Vị cay của tiêu, thơm mùi hành, nêm nếm vừa ăn… ngon ngọt làm sao tả hết được, không lẽ ngối đó múc cháo ăn hoài… đâu phải người miền Nam nào cũng được ăn món nầy (Món nầy cũng nấu giống như món cháo cá khoai ở biền Vàm Láng)
Tôi còn xa xứ, nghe cô em đồng hương về Việt Nam kể lại, thực đơn bây giờ có món lẩu cá kèo, và món nầy được dân Hà Nội rất ưa chuộng, chưa được thưởng thức nên không viết rõ được. Có những cái rất tầm thường nhưng khi không tìm thấy mình mới thấy tiếc, thấy nhớ…
Khoảng thập niên 50, 60 cá kèo là loại cá dành cho dân dã miệt ruộng vườn, nhưng với bàn tay khéo léo của người nội trợ, cá kèo được chế biến thành nhiều món ăn rất ngon miệng lại rẻ tiền…làm món nhậu cũng rất bắt mồi.
Đất người khác phong thổ quê mình, có nhiều con cá, cọng rau, tìm đỏ con mắt không thấy. Tiệc tùng sang trọng ai đi đãi khách món cá kèo kho chỉ, món canh chua… Chỉ có trong mâm cơm gia đình, dọn trên bộ ván sơ sài bên ngọn đèn dầu lửa mới thấy hết cảnh ấm cúng của mâm cơm chiều. Cả gia đình sum họp chuyện trò vui vẻ..với đầy đủ hương vị ngon ngọt của cọng rau con cá quê nhà.
Chiều ở đây, đi làm về thui thủi một mình, vợ làm khác ca, con im ỉm trong phòng, cá thịt đông lạnh nhạt phèo, cố ăn mà sống. Tôi vẫn thường nấu canh rau….,ăn cho trơn cổ dễ nuốt chén cơm xứ người, có thèm canh chua cá kèo cũng chỉ để nuốt nước miếng, chứ biết làm sao hơn
Cũng tại bàn tay của mẹ chăm sóc miếng ăn thức uống cho con từ ngày còn thơ trẻ. Những món ăn nhà nghèo nhưng đầy đủ chất ngọt ngào của con cá cọng rau vùng quê. Hương tay của mẹ ủ ấm đời con…cho nên bây giờ sống đời xa xứ con mới thấy thèm hương vị quê nhà. 
Đời sống vật chất ở đây đủ đầy… nhưng mẹ ơi!, buổi chiều nào trời mưa, đi làm về, con đứng tựa cửa kiếng nhìn ra sân… mắt của con mờ dần… Con nhìn thấy ngoài sân hàng cây so đủa, trổ trắng bông đang nghiêng mình theo gió trong cơn mưa chiều… Cá kèo ơi ta nhớ…nhớ canh chua cá kèo! 

Nguồn: tvvn.org 

Saturday, April 11, 2020

Kỷ Niệm Xưa Cảm Động 


 Tiểu Tử


Kỷ Niệm Xưa Cảm Động – Tiểu Tử


Anh tôi nằm bịnh viện Saint Camille đã được mười bữa. Chiều hôm qua, ảnh gọi điện thoại về nhà, nói: «Thằng Tây nằm chung phòng ra nhà thương rồi, ngày mai Chủ Nhựt, mầy vô đây anh em mình nói chuyện chơi». Nghe giọng ảnh “có thần” nên tôi vui vẻ trả lời: «Dạ! Mai em vô. Vợ con em đi Mỹ, chớ không thì em cũng chở tụi nó vô thăm anh». Tôi nghe ảnh cười khịt: «Một mình mầy cũng đủ cho tao vui rồi…».
Phòng anh tôi là loại phòng hai giường ở lầu ba. Ông già người Pháp cỡ hơn tám mươi tuổi nằm chung phòng với anh tôi rất khó tánh. Ổng không thích có nhiều ánh sáng vào phòng nên volet cửa sổ lúc nào cũng chỉ hé lên một chút thôi. Thấy ổng quá già lại hay gắt gỏng nên mấy cô y tá cũng nhân nhượng, chỉ kéo volet lên cao trước giờ bác sĩ trưởng đi thăm bịnh nhân, rồi lại hạ thấp xuống, sau đó! Mỗi lần tôi vào thăm anh tôi, mặc dầu chúng tôi nói chuyện nho nhỏ với nhau, ổng cũng lăn qua trở lại thở dài. Có khi còn lấy gối bịt lỗ tai nữa!
Anh tôi nói: «Tao chưa bao giờ nghe nó… tằng hắng với tao một tiếng!».
Ông Tây đó xuất viện, chắc anh tôi nghe… nhẹ lắm nên mới vội vã gọi tôi vào chơi, để nói chuyện mà không cần giữ gìn ý tứ gì hết! 
Hôm nay, volet cửa sổ được kéo lên hết nên để lộ trời cao lồng lộng và phòng đầy ánh sáng… Thấy tôi, anh tôi vui vẻ nói: «Mừng quá! Hổm rày, cứ làm thinh, bực mình thấy mụ nội! Bữa nay, tụi mình nói chuyện tự do, cho nó đã!».
Tôi nhìn anh tôi mà thấy thương: mới ngoài sáu mươi mà đã già xọm. Bao nhiêu năm tù đày của VC đã ăn mòn cơ thể của ảnh đến nỗi từ khi ảnh qua Pháp sum họp với vợ chồng tôi, ảnh cứ bịnh lên bịnh xuống hoài. Cũng may là ảnh không có vợ con nên không có những cái lo của người có gánh nặng gia đình. Và cũng may là ảnh chỉ có một mình tôi là em đã có cuộc sống ổn định nên ảnh không phải cưu mang một đứa em nào khác.
Hai anh em tôi nói chuyện vui vẻ một lúc, bỗng anh tôi nhìn trời qua khuôn kiếng cửa sổ rồi nói: «Trời đẹp quá, Cu!».
Tôi còn đang ngẩn ngơ không biết ảnh nói với ai thì ảnh cười khịt khịt: «Mầy quên mầy hồi nhỏ tên là Cu hả?».
Tôi bật cười: cả một trời dĩ vãng bỗng hiện về rất rõ, với những hình ảnh thuở nhỏ ở nhà quê, có bà mẹ một mình trồng rau trồng cải nuôi hai thằng con, đứa lớn tên Hai đứa nhỏ tên Cu… Tôi nhìn anh tôi mà nghe rưng rức ở trong lòng. Tôi “Dạ” như cái máy! Anh tôi nói: «Bác sĩ nói anh ra ngoài chút chút được».
Tôi lại “Dạ” nhưng vẫn còn thấy tôi đang ở quê tôi, ở trong cái nhà tranh vách đất có giàn bầu vắt lên mái tranh che sàng nước nằm bên góc bếp… Tôi nói “Vậy hả anh” mà vẫn còn đứng trong vườn rau của mẹ với mấy cây mít cây ổi cây xoài, vẫn còn nhìn cái giếng có cây cần vọt để kéo nước và cái gàu đeo lủng lẳng ở đầu cây sào dài… Tôi chỉ giật mình dạ lớn khi nghe anh tôi gọi: «Cu! Ê … Cu!».
Ảnh nhìn tôi, mỉm cười: «Tao muốn mầy đưa tao đi một vòng».
Tôi “Dạ” rồi vội vã bước ra cửa. Ảnh ngạc nhiên: «Đi đâu vậy?». Tôi trả lời: «Em đi lấy cái xe lăn!».
Ảnh bật cười: «Không cần xe lăn xe liếc gì hết. Mầy lại đây, tao chỉ cho».
Ảnh tằng hắng mấy tiếng rồi nói tiếp: «Mầy đỡ tao dậy cạnh giường. Đọ… Mầy xây lưng lại thụt sát vô cạnh giường ở giữa hai chân tao nè. Đọ… Rồi mầy rùn người xuống cho tao ôm cổ mầy. Mẹ… Mầy ăn thứ gì mà mầy lớn con quá hổng biết! Rồi! Tao ôm chắc rồi! Bây giờ, mầy choàng hai tay ôm hai bắp vế của tao đây, vừa xóc nhẹ để lấy trớn vừa đứng lên. Đọ… Như vậy, người mình gọi là ‘cõng’. Ở xứ nầy, tao chưa thấy ai cõng ai hết. Có lẽ người ta không biết cõng, mầy à!».
Tôi cõng anh tôi, nhẹ hều. Ảnh nói: «Hồi nhỏ, tao cõng mầy mòn lưng, mầy đâu có biết!». 
Một xúc động bỗng dâng tràn lên cổ, tôi vừa nuốt xuống vừa siết chặt hai chân anh tôi như muốn ôm lấy hết con người của ảnh để cám ơn, cái con người đang nằm trên lưng tôi đây, cái người anh đã hy sinh suốt cuộc đời không chịu lập gia đình chỉ vì muốn nuôi thằng em ăn học cho đến nơi đến chốn! Ảnh đã cõng tôi trong thời tuổi nhỏ, về sau, ảnh vẫn tiếp tục cõng tôi – dù dưới hình thức khác – cho đến ngày tôi thành nhân ra đời. Biết bao giờ tôi cõng lại anh tôi suốt hai mươi mấy năm trời như vậy?
Chúng tôi ra hành lang. Gặp một cô y tá, cô ta vội nói: «Để tôi lấy cho ông một chiếc xe lăn!».
Tôi lắc đầu: «Khỏi cần! Cám ơn cô! Anh tôi muốn tôi cõng như vầy».
Cô ta mỉm cười bỏ đi, vừa đi vừa nhìn lại, vẻ ngạc nhiên. Anh tôi nói: «Mầy thấy không? Ở xứ nầy, người ta không biết cõng là gì!».
Thật vậy, đi dài dài theo hành lang, gặp ai cũng bị nhìn với một nụ cười như muốn nói “Làm gì ngộ vậy há!” Tiếng của anh tôi vẫn đều đều nho nhỏ bên tai: «Hồi đó, năm mầy ba tuổi là năm mầy bịnh hoài nên mầy cứ nhề nhệ nhề nhệ đeo theo má đòi ẵm. Chiều nào má cũng nói “Hai! Mầy cõng thằng Cu đi hàng xóm cho má nấu cơm coi!” Vậy là dầu tao đang tưới rau tao cũng quăng đó, cõng mầy đi vòng vòng. Hồi đó, lúc nào mầy cũng ở truồng, còn tao, dầu đã hơn mười tuổi, nhưng lúc nào cũng ở trần, chỉ khi nào đi học mới máng lên mình cái áo sơ-mi. Thành ra, khi cõng mầy tao thương ở cái chỗ là nghe con cu của mầy mềm mềm nằm gọn trên da lưng tao. Nhiều khi thương quá, tao xoay người lại hun mầy trơ trất làm mầy nhột mầy cười đưa mấy cái răng non nhỏ như hột gạo! Mầy coi! Vậy mà đã hơn năm mươi năm rồi chớ bộ!».
Tôi im lặng nghe anh tôi kể mà trong đầu thấy như đang nhìn ngay trước mắt cảnh thằng anh cõng thằng em đi quanh quanh để người mẹ rảnh tay lo nấu bữa cơm chiều… … Đẹp quá! Anh tôi lại nói: “Thiệt ra, tao đâu có cõng mầy đi đâu xa. Đi lòn lòn qua mấy liếp rau mấy bờ mía rồi qua lò bánh tráng của dì Sáu Lộc. Đứng xớ rớ một chút là dì Sáu hay chị Hai Huê con của dỉ cho một cái bánh tráng nướng thơm phức”.
Ngừng một chút, anh tôi hỏi:
“Mầy còn nhớ chị Hai Huê không?”
Tôi đáp: “Dạ có. Hồi đó, chỉ ra sư phạm rồi dạy tụi em ở tiểu học”.
Anh tôi tằng hắng: “Ờ! Chỉ đó! Má khen chỉ lắm, nói: Con nhỏ dễ thương, đi làm có lương mà chỉ sắm có hai cái áo dài, hỏi nó thì nó nói nó để dành tiền cất một cái quán cho má nó ra bán bì bún ít cực hơn là xay bột tráng bánh”. 
Đến đây thì tôi nhớ rõ cái quán của dì Sáu Lộc: Quán nhỏ nằm cạnh cây gõ trước lò bánh tráng. Bì bún ngon có tiếng. Có điều là dì Sáu không bán rượu đế mà cũng không cho khách hàng mang rượu đế đến quán! Dân nhậu phàn nàn thì dì Sáu nói: «Tôi ghét thứ đó lắm! Cũng tại ba cái đế đó mà ông nhà tôi ba ngù té xuống bàu chết không ai hay!».
Cái quán đó về sau giao cho vợ chồng cô cháu gái của dì Sáu trong nom và được cất rộng ra thành tiệm cà phê, người ta gọi là tiệm “Cây Gõ”…
Ở cuối hành lang bịnh viện là khuôn kiếng rộng. Nhìn xuống dưới thấy nắng đầy… Cây cỏ được cắt xén sạch sẽ đẹp mắt. Tia nước tưới vườn tự động quét qua quét lại coi mát rượi. Anh tôi im lặng nhìn một lúc rồi nói: «Hồi đó, chiều nào đi học về, tao cũng phải đi tưới vườn rau. Mới có mười tuổi mà tao mạnh lắm! Cái gàu nước lớn như vậy mà tao xách chạy bon bon. Phải nói là nhờ có cây cần vọt tao mới kéo nổi cái gàu ra khỏi giếng, chớ nếu kéo bằng sợi dây dừa thì chắc tao chịu thua».
Có lẽ sợ tôi quên nên anh tôi tả cây cần vọt. Tôi vẫn để ảnh nói vì tôi thấy ảnh đang sung sướng với những hình ảnh đẹp của quê hương, cái quê hương ngàn trùng xa cách… Tiếng của anh tôi vẫn đều đều bên tai: «Cần vọt là hai cây tre lớn bằng bắp chân đóng dính chắc vào nhau bằng những thanh ngang coi giống như một cái thang. Chân cái thang đó được chôn đứng cách giếng độ hai ba thước. Trên đầu có một cốt tròn xỏ qua hai thân tre. Bắc dính chắc trên cái cốt đó là một thân tre dài, đầu to là đầu nặng nằm đụng đất, đầu nhỏ chỉ lên trời coi giống như một đòn bẩy hay một cái đu nhún lên hạ xuống của trẻ con. Đó là cái cần. Trên đầu cần là một cây sào bằng tầm vông dài xuống gần miệng giếng, đầu dưới của sào có cái móc để móc cái gàu. Muốn lấy nước, người ta kéo cây sào thòng gàu xuống giếng đợi gàu đầy nước là kéo gàu lên, cây cần làm đòn bẩy giúp cho người kéo nước không phải ráng sức. Hay quá!»
Tôi nói đẩy đưa, cố ý để cho anh tôi nghỉ: «Dạ. Em còn nhớ cây cần vọt chớ! Hồi em lớn lên, em vẫn phụ anh tưới rau cho má, anh quên sao? Em còn nhớ hồi đó phần của em là lo tưới và châm sóc giàn bầu của má”.
Ảnh cười khịt khịt: “Ờ… giàn bầu. Trái dài lòng thòng, đi ngang phải cúi đầu để tránh…”
Rồi giọng của ảnh như vui lên: “Bầu luộc là món mà tụi mình ăn hằng ngày, mầy nhớ không? Bữa cơm nào cũng có bầu luộc, mẻ cá kho và một tô nước luộc bầu. Nước luộc bầu không có con tôm con tép gì hết, chỉ có chút muối, chút tiêu và mấy cọng hành… vậy mà tụi mình chia nhau húp ngon lành, hén Cu!”.
Tôi bồi hồi nhớ lại cảnh anh em tôi húp nước luộc bầu, nhứt là cái cử chỉ của anh tôi khi ảnh đưa tô sành mẻ miệng, xây chỗ miệng tô còn lành, nói: “Húp ở đây nè, Cu!”. Cha ơi…! Sao mà nó đẹp! 
Thấy gần trưa, tôi cõng anh tôi đi lần về phòng. Bỗng ảnh nói: “Ý! Má kêu kìa!”.
Rồi ảnh nghẻo đầu buông thõng hai tay! Tôi đang hốt hoảng chưa biết phải làm sao thì gặp ông bác sĩ trưởng trong thang máy bước ra. Tôi vội vã gọi: “Bác sĩ! Bác sĩ! Ông coi dùm coi! Anh tôi bị gì rồi!”.
Bác sĩ rờ đầu rờ cổ anh tôi rồi lôi tôi chạy lại phòng trực y tá. Bác sĩ hướng vào trong nói “Cứu cấp”. Mấy cô y tá phóng ra đỡ anh tôi qua giường sắt có bánh xe rồi đẩy nhanh về phòng, theo sau là xe dụng cụ thuốc men. Vào phòng, một cô y tá đẩy nhẹ tôi ra ngoài, nói: “Ông đừng vào. Cảm phiền đứng đợi ở đây.” Rồi đóng cửa lại. Tôi tỳ người vào tường, nhìn quanh bối rối: hành lang trống trơn bỗng như rộng mênh mông…
Một lúc lâu sau mấy cô y tá mở cửa đẩy giường đẩy xe ra, nói chuyện tỉnh bơ. Đi sau cùng là bác sĩ trưởng. Ổng vỗ vai tôi, nói: “Không có gì hết! Chỉ bị xúc động mạnh thôi. Ông vào được rồi.”.
Tôi nói “Cám ơn” rồi thở dài nhè nhẹ như vừa trút một gánh nặng. Nhìn thấy tôi bước vào, anh tôi mỉm cười, mắt ảnh ngời sáng, nhưng ảnh vừa đưa tay ra dấu vừa nói: “Thôi! Mầy về đi! Để tao ngủ một chút”.
Nói xong, ảnh nhắm mắt mà trên môi vẫn còn nguyên nụ cười. Tôi biết: Ảnh đang đi vào giấc ngủ với những hình ảnh đẹp!
Tôi bước ra, đóng nhẹ cửa lại. Hành lang dài tung hút. Chắc cũng đến giờ cho bịnh nhân ăn nên phảng phất có mùi đồ ăn. Tôi bỗng nghe thèm vị ngọt của nước luộc bầu mà anh em tôi chia nhau húp năm chục năm về trước, bây giờ sao vẫn còn nhớ. Và lạ thiệt! Nước luộc bầu quá tầm thường như vậy mà sao cũng mang đầy mùi vị của quê hương?
Tôi nuốt nước miếng…


Tiểu Tử


Nguồn: tvvn.org 

Tuesday, April 7, 2020

Những phút đợi cha 



Nguyễn Tiến Nên

       Cha tôi qua đời khá lâu, sự ra đi của ông đưa đến cho tôi vừa tiếc thương vừa ân hận... Ngày đó, do phải công tác xa gia đình, những năm tháng cuối đời của cha, tôi ít được gần gũi để tâm sự sẻ chia, an ủi chuyện trò, bóp xoa khi trái gió trở trời, bồng lên đỡ xuống khi cha yếu ốm… Chỉ đến khi, chú em đạp xe bở hơi tai mấy chục cây số báo cho tôi cái tin trời giáng ấy, tôi vội vàng xin phép cơ quan, bơm xe đạp thật căng rồi cũng bở hơi tai mấy tiếng liền hai anh em mới về đến quê… Bà con đã khâm liệm cha tôi trước đó, về tới nơi tôi chỉ còn biết ve vuốt chiếc hòm gỗ đỏ chót viền mấy đường vàng, thời đó gọi là “sơn son tiếp vàng” nghe sang lạ. Tôi ân hận chưa làm tròn chữ hiếu với cha, sau này khi mẹ về già thì tôi đã nghỉ hưu, mọi sự lo toan cho mẹ tôi chu đáo hơn để vừa toại nguyện với mẹ vừa như chuộc lỗi với cha mình. Tuy nhiên, dẫu tôi có cố gắng đến bao nhiêu, những hoài niệm về người cha yêu kính cứ dồn ứ làm tôi nhiều lúc như muốn nghẹt thở. Từ dáng đi, tiếng nói, tiếng cười… Từ cách dạy chữ cho con, trước lúc ra đồng ông dùng than củi viết lên tấm ván nào a-b-c…, nào 1-2-3… rồi dặn con trai hơn bốn tuổi cầm “bút” tre đồ theo. Cuối buổi làm đồng, việc đầu tiên là ông “kiểm tra bài cũ”. Ông xóa hết chữ và số trước đó rồi bảo “cậu học trò” viết lại y hệt. Ông từ tốn chỉ bày cách cầm bút, cầm phấn, nét xuống thì mạnh, nét lên thì đưa nhẹ…. Nhờ phương pháp uốn nắn của ông, năm lên sáu tuổi xóm tôi có lớp “Vở lòng”, hình thức giáo dục mẫu giáo nhưng chỉ học một năm là vào lớp Một. Tôi trở thành học trò giỏi nhất của lớp, cứ thế sau này sức học của tôi vượt hẵn bạn bè. Đặc biệt nhất, cũng là điều làm tôi nhớ ghi sâu đậm nhất, đó là những lần thức đợi cha đi câu về, để được chén cá tươi rồi mới… đi ngủ.
  
      Ngày ấy ở nông thôn, làm gì có chuyện gia đình tự sắm thuyền và lưới để đi đánh cá biển. Cha tôi muốn cho các con được lớn lên có một sức khỏe tốt, đầy đủ dinh dưỡng, nhất là chất “tươi” (cách nói của ông). Ngoài công việc đồng áng, ông mê nhất nghề đi câu. Có lẽ ngoài cái thú “nhất cá ăn câu-nhì trâu húc”, ông ham nghề này cốt để kiếm “chất tươi” cho các con thêm khỏe và chóng lớn. Có thể nói cha tôi là một tay “sát ngư” bằng chiếc cần câu. Tầm “trâu về chuồng” là ông “nhắp” cá tràu (nay gọi cá lóc), xâm xẩm tối ông lần ra tận bờ biển, lúc đứng ghành này, khi qua mom nọ, ông nhẫn nại buông mồi và cuốn liền tay. Dù khuya khoắt bao nhiêu, kiểu gì ông cũng cố kiếm cho được nồi canh chua, lúc may mắn thì kho nấu. Tôi nhớ như in chiếc giỏ đựng cá mà ở quê gọi là chiếc “oi”, còn các loại cá cha tôi câu được thường là cá mú, cá hồng, cá lác, nhiều hôm còn được cả cá vược, con cá vừa dài vừa to không thể cho vào giỏ, cha tôi phải luồn dây qua mang nó để quẩy về. Mẹ tôi lẹ làng ra đón chồng, thấy dáng điệu vội vàng của bà, anh em tôi cũng nhào ra “Bố về! Bố về!”. Mẹ tất tả đi làm cá để cho vào nồi canh chua đun sẵn, anh em chúng tôi thì xúm quanh chiếc giỏ của cha, anh xách con này, em khều con kia lòng vui như tết. Nhiều hôm cha về quá khuya, có đứa không thức nổi lăn ra chõng ngủ khoèo. Cha tôi gọi từng đứa, lớn bé đều được ăn canh chua cá tươi, món không dễ gì kiếm được ở nông thôn thời đó.

      Cứ thế, lâu ngày trở thành thói quen. Vào những buổi tối, mẹ liền tay với rau ria bèo cám, tiếp đến xay giả dần sàng… Anh em chúng tôi chung một chiếc đèn dầu, chúi đầu trên chõng học bài và cố thức để đợi cha. Chỉ cần tiếng động nhẹ ngoài ngõ chúng tôi cũng thấp thõm ngỡ cha về. Dù đã có ý thức nhưng không hề biết tham của là gì, nên chưa bao giờ chúng tôi mong cha mang về thật nhiều cá, chỉ nghĩ đến lúc ông về là đủ thích thú, nghĩ đến cái mùi khói thuốc lá “sâu kèn” quen thuộc mà ông phả ra là đã thấy chộn rộn yêu thương… Mặc dù điều kiện lúc bấy giờ khá thiếu thốn nhưng nhờ được chăm sóc, nuôi dạy tốt, anh em chúng tôi đều khỏe mạnh, thông minh... Chúng tôi bảo nhau đi đâu, làm gì, thành đạt đến đâu nhưng những kỷ niệm về năm tháng tuổi thơ, nhất là những đêm thức đợi cha về thì không thể nào mờ phai trong ký ức sâu thẳm…

      Mấy chục năm đã trôi qua, tấm gương nhẫn nại, chịu khó chịu thương của cha mẹ là những bài học giúp chúng tôi nhắc nhỡ, dạy bảo con cháu hôm nay. Nhất là trong các dịp con cháu có điều kiện hội tụ, vui Tết đón xuân, những hoài niệm yêu dấu về các cụ là đề tài rôm rả, làm cho bữa cơm gia đình thêm hương vị, không khí đón tết thêm ấm cúng. Quả thật, không tấm gương nào soi chiếu cho con cháu bằng tấm gương của ông bà, cha mẹ, bởi nó luôn mang chứa trĩu đằm những tình cảm yêu thương và ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

                                                                                                            

Nguyễn Tiến Nên


Nguồn: vanchuongviet.com 

Monday, April 6, 2020

TÔ BÁNH CANH TÔM


  

MANG VIÊN LONG.(Viết tặng người chị duy nhất thân yêu của tôi)
  
 
Những lúc buồn, tôi vẫn thường cởi xe ra thị trấn Đập Đá thăm chị. Tôi thăm chị, bởi chị là nơi tôi tin tưởng sẽ được an vui duy nhất. Tôi thăm chị, bởi tôi cũng biết chị sẽ rất vui, hạnh phúc khi gặp lại tôi – đứa em út lao đao, bất hạnh…
Cuộc sống mồ côi và lận đận trong hạnh phúc gia đình từ nhiều chục năm, thường làm tôi có những lúc – nhất là buổi chiều, cảm thấy trống trải và buồn nản; không hề muốn làm chuyện gì nữa (cho dầu công việc hằng ngày vẫn được tôi ghi lên giấy, đặt ngay trên bàn viết). Nỗi buồn không thể lấp đầy, tôi có cảm giác như ngày càng xói mòn thêm tâm hồn, sâu rộng và che phủ cả cuộc đời mình.
Thả người ngồi vào chiếc ghế mousse rộng, dài – nhìn chị, tôi cười: “Có thứ gì ăn không?”
– Em thích ăn thứ gì?
– Nhà có thứ gì, ăn thứ đó…Tôi cười – ăn cho vui thôi!
– Nhà không có, nhưng em thích món gì nói, chị đi mua…
Vẫn lời nói, giọng nói từ thuở nào còn đó. Không hề thay đổi.
– Vậy thì thôi, mất công lắm…
– Ngay đầu hẻm đây mà!
– À! món nào chị thấy…hấp dẫn, thì mua!
Chị nôn nã xuống nhà dưới lấy tô và đội nón, bước vội ra cửa. Nhìn theo, tôi nghĩ: “Mình đã trên tuổi sáu mươi, đã tự lo được từ thuở nào rồi, đã lang bạt qua bao nhiêu thành phố; ăn bao nhiêu món ngon dở, kể cả các loại đặc sản, hải sản; nhưng lại rất thèm được ăn món chị đi mua…”.
Tô bánh canh tôm được đặt lên bàn, trước mặt tôi. Chị đi lấy muỗng và đũa, trao cho tôi – cười: “Ăn đi, cho nóng!”. Nụ cười khẽ, nhưng trông gương mặt, đôi mắt chị rất hả hê, vui sướng! Ăn đi, cho nóng. Vẫn giọng nói thoáng qua, nhẹ, nhưng sao âm vang của nó cứ xoáy vào lòng tôi, xốn xang: Ngày chị có chồng tôi còn đi học trung học, ngày chị mât chồng, tôi còn lang thang đó đây. Sau những năm xáo trộn đổi thay, ngọn gió nhân duyên lại thổi tôi về lại quê, được sống gần chị…
Nhìn tô bánh canh còn bốc khói, ẩn hiện vài miếng tôm được cắt nhỏ, mấy cọng rau thơm, mầu nước sánh vàng dầu mỡ và ớt; tôi cười: “Mới nhìn đã thấy ngon rồi!” 
– Em ăn đi, hết chị mua tô khác! Có năm ngàn đồng…
– Trời ơi! Ôm một tô là no luôn đến tối, chị kêu hai tô bụng nào mà chứa? – Tôi nhìn thật chậm lên gương mặt tươi tắn, rạn rỡ của chị giây lâu – chỉ có năm ngàn, thì người ta còn có được đồng bạc lời nào đâu?
Chị cười:
– Ở nhà quê, kiếm được đồng bạc khó lắm, em ạ!
– Thôi, chị lấy giúp cho em cái chén…
– Để làm gì vậy?
– Em sớt bớt cho chị ăn giúp một nửa…
– Ôi! ối – không được đâu, ở đây chị ăn hoài mà!
Ở đây chị ăn hoài – dường như tôi đã nghe lời ấy chị đã nói với tôi nhiều lần thuở hai chị em còn sống chung một nhà với người anh cả nghiêm khắt. Những năm phải xuống thị xã Qui Nhơn trọ học, ngày thứ bảy bạn bè rủ nhau về quê thăm chơi hết, tôi còn ở lại một mình. Lâu lâu, tôi cũng phải gắng về quê một lần dầu biết rằng ngoài chị ra, không còn ai mong gặp lại tôi cả; nhưng ngặt nỗi không thể chịu đựng lời bà chủ nhà trọ phàn nàn, trách móc gần xa mỗi lúc ngồi vào bàn ăn! Góp cho được mấy đồng mua cái vé xe buýt dành cho học sinh, về đến nhà là tôi không còn đồng nào dính túi! Biết vậy, chị đã moi mấy đồng bạc lẻ đi chợ còn thừa để dành trong bao áo gối, mua cho tôi những món tôi thèm ăn: Mấy trái xoài chín, vài cái bánh bò to, hay một cuốn bánh xèo. Số tiền còn dư bao giờ cũng đúng một cái vé xe buýt cho tôi trở lại nhà trọ vào chiều chủ nhật…”Ở đây chị ăn hòai” – tôi cười: “Em có thấy chị ăn hồi nào đâu mà ăn hoài?”.
Chị cười: “Chị ăn thứ gì mà không được?”
Nhìn tô bánh canh tôm, bất giác tôi nhớ đến những tô bánh canh tôm có bốn miếng chả tôm cắt hình thoi dày, thơm ngọt, của bà Tám ở xóm Chùa Ông, mà mẹ tôi đã thường mua cho hai chị em mỗi buổi sáng dậy sớm, cùng rủ chạy ào xuống căn lều hàng xén của me ở góc phố thời chín năm kháng chiến. Bánh canh tôm của bà Tám rất thơm ngon, không ai bì kịp. Nồi bánh và dĩa chả tôm nhỏ xíu chỉ đủ cho khoảng hai mươi tô thôi. Nghe mẹ tôi nói, ở dãy phố nầy chỉ còn vài chục nóc nhà, hoang vắng, bấy nhiêu bánh có buổi bà không bán hết, vì không phải ai cũng ăn sáng được cà! Có một lần, tôi nghe bà noi: ”Mẹ cũng rất thích ăn bánh canh tôm, sau nầy mẹ mất, tụi con chỉ cần cúng một tô bánh canh tôm là được rồi!”. Mẹ đã mất hơn sáu chục năm, sao chị vẫn còn nhớ tô bánh canh tôm mà mua cho tôi?
Tôi cắm cúi múc từng muỗng…
Chị ngồi nhìn tôi ăn chậm rải từng muỗng bánh canh mà như chị cũng đang cùng tôi ăn vậy!

MANG VIÊN LONG

NÀNG THỊ MẦU DỎM



Nguyễn Thạch Giang


Sáng chủ nhật chị Kiều Mộng gọi điện thoại rủ đi chùa. (Chị tên Kiều, đi hát lấy tên Kiều Mộng, chị không phải ca sĩ thứ thiệt, chỉ là ca sĩ cây nhà lá vườn hát giúp vui trong mấy chương trình văn nghệ của mấy hội đoàn người Việt). Tôi ậm ừ định từ chối nói đói bụng quá sắp sửa đi ăn sáng. Chị nói vậy đến chở chị đi ăn luôn thể rồi sau đó mình lên chùa chơi... vui lắm.
Lúc tôi đến thấy chị đã sẵn sàng đang đứng chờ phía trước nhà. Bà này đi chùa mà ăn mặc thiệt là mát mẻ. Tôi nói trên chùa có để bảng cấm thiếu nữ mặc quần short hay áo hai dây không được vô chùa. Chị cười nói mầy xạo hoài nhưng cũng đi vô nhà lấy cái áo khoát trồng lên cho có vẻ kín đáo một chút.

Đến chùa chị Kiều Mộng lẹ lẹ lên chánh điện nghe thầy Tuệ Minh đang thuyết pháp. Chị ngoắt tay  kêu tôi đến ngồi bên chị, tôi thấy đông người quá mà người nào cũng thành tâm chăm chú nghe sư thầy thuyết giảng, mình chen vô đó ngồi đã khó mà đầu óc nghĩ lan man chuyện đâu đâu, rồi đôi mắt thì cứ nhìn mấy chỗ không nên nhìn... tội chết... thôi thì đi lòng vòng xem hoa ngắm tượng.
Bận về ngồi trên xe chị Kiều Mộng cứ luôn miệng khen sư thầy thuyết giảng quá hay, mà mày không chịu nghe thiệt uổng. Tôi hỏi sư thầy thuyết giảng về điều gì. Chị nói thầy giảng nhiều thứ lắm, hay lắm... mà chu choa ơi người thầy toát ra một vẻ gì thật là... thánh thiện. Rồi chị nói đến nhan sắc của thầy, môi thầy đỏ au như người ta thoa son, sóng mũi của thầy cao... cao như mũi của mấy anh chàng tài tử đóng phim bộ. Càng nhìn thầy... càng nhìn... thấy thầy sao mà giống Đường Tam Tạng quá, thiệt là giống, mà Đường Tăng phiên bản Hồng Kông chớ không phải phiên bản Trung Quốc đâu nhe. Rồi chị hỏi tôi mày có công nhận là "Đường tăng Hồng Kông" đẹp hơn "Đường tăng Trung Quốc" phải không. Bộ phim đó thì tôi có xem qua, nhưng lâu quá rồi ai mà còn nhớ cái nhan sắc của ngài Đường tăng ra sao, bà nội!

Tuần sau chị Kiều Mộng lại gọi điện thoại rủ... đi chùa. Tôi định từ chối nói là đang bận... bận uống cà phê với anh Thành. Chị hỏi mày uống ở quán nào. Tưởng gì chừng mười phút sau thấy chị xuất hiện, chị nói chờ mày uống cà phê xong đi chùa với chị, đi một mình chị thấy hơi buồn. Anh Thành sẵn dịp đi theo chơi cho vui.
Tôi và anh Thành đi vòng quanh xem cây kiểng trong chùa, sau đó thì hai anh em lại gian hàng bán đồ chay ăn "bún bò Huế chay", anh Thành hảo ngọt chơi thêm ly chè đậu trắng. Chị Kiều Mộng nói hai người cứ tự nhiên ăn uống chị đang bận nghe sư thầy thuyết giảng. Chị ngồi nghe thầy nói mà mắt cứ nhìn thầy không chớp.
Trên đường về chị lại luôn miệng khen thầy Tuệ Minh, thầy đi tu nhưng nói chuyện đời... thiệt là thắm thiết... sự đời. Nghe đâu thầy từng tu học bên Ấn Độ, có bằng cấp gì cao lắm. Mà thầy còn trẻ lắm nhe mới có bốn mươi ngoài chớ mấy. Rồi chị lại tấm tắc trầm trồ cái nhan sắc của sư thầy. Da thầy trắng mịn còn hơn da con gái, hàm răng của thầy sao mà trắng đều đẹp như răng tài tử màn bạc. Còn giọng nói của thầy trì trầm ấm ngọt ngào hơn cả giọng nói của xướng ngôn viên đài truyền hình.
Bà này chắc kiếp trước là bạn của Thị Mầu.
     
Tuần sau chị Kiều Mộng lại gọi điện thoại rủ đi chùa. Tôi nói bà đi chùa lạy Phật hay bà đi chùa vì mê sư thầy. Chị cười ồ nói mầy ơi sao tao cứ mong cho đến ngày cuối tuần để lên chùa.
"Bà có mê sư thầy thì bà đi một mình, tui đang bận làm đồ nhậu ở nhà anh Thành".
Tưởng nói vậy chị sẽ đi một mình lên chùa, không ngờ chưa đầy mười phút sau thấy chị xuất hiện. Chị xăng tay áo nhào vô giúp tôi làm cho mau, chị nói mình lên chùa chơi chút rồi về nhậu sau. "Bữa nay chị uống với mày cho mày thấy chị uống chẳng thua ai".
 - Bà đi chùa mà ăn mặc đẹp vậy.
 Chị cười hê hê "mặc đẹp cho trai để ý".
Tôi sẵn dịp chọc ghẹo bà Thị Mầu:
- Trai không để ý quần áo đâu, trai thích nhìn gái lúc bước đi, chị muốn đàn ông ngó chị phải đi sửa tướng.
- Thôi tao không thích đi kiểu như mấy cô người mẫu, thấy kỳ kỳ hổng được tự nhiên.
- Đúng rồi, đi kiểu như mấy cô đó chỉ là để trình diễn thôi. Đàn bà mà bước đi cho thật hấp dẫn thì phải lúc lắc.
- Đi lúc lắc?
- Lúc bước đi hai cái đó nó lúc lắc... đàn ông nào cũng ngó.
Anh Thành cười khùng khục, chị Kiều Mộng hiểu ý nói đồ quỷ. "Của tao như vầy mày thấy chưa đủ lúc lắc hay sao".
- Ai đặt tên Kiều Mộng Cho chị?
- Mày thấy có hay không?
- Thấy nó hơi trúc trắc đọc muốn trẹo bảng họng.
- Lần đầu bước lên sân khấu hát giúp vui hội đồng hương, anh chàng giới thiệu chương trình hỏi chị tên gì, mình đâu có tính làm ca sĩ mà có nghệ danh, chị nói Trần Thị Kiều, anh ta tự động đặt tên cho chị là Kiều Mộng, từ đó ai cũng kêu mình là Kiều Mộng.

Chị Kiều Mộng hát thì cũng đại khái khá hơn mấy cô hát karaoke trong quán cà phê, chị cũng không phải là người đẹp, nhưng được cái lúc trang điểm bước ra ánh đèn sân khấu nhìn chị khác hẳn. Chị lại nhiệt tình, hội đoàn nào mời chị cũng nhận lời hát giúp vui. Nếu không hát thì cũng giả thôn nữ múa phụ diễn. Cho nên chị rất đắt "sô" ở cái thành phố yêu văn nghệ này.
- Ê Tôm tháng sau chị có buổi trình diễn ở hội "Đồng hương An Giang", tốp múa nam còn thiếu một người, hổng ấy mày tham gia cho vui.
- Tui tuy ăn nói chót chét nhưng bước ra sân khấu trước đám đông thấy mắc cở lắm, tay chân lọng cọng cứng đơ cứng ngắt mà múa nổi gì.
- Mình chỉ ra sân khấu cho có mặt đông vui, múa mấy điệu đơn giản dễ ẹc hà.
- Có trả thù lao không? Mỗi lần bà đi sô được bao nhiêu.
- Hát giúp vui hội đoàn mà tiền bạc gì. Mấy ổng bỏ tiền túi tổ chức đâu có bán vé, nhưng mình đi sinh hoạt cộng đồng cũng vui lắm, phần ăn thì khỏi đóng tiền, ngon lắm lần nào cũng có tôm hùm.
Anh Thành nghe vậy nói đi cho vui Tôm, vừa vui mà còn được ăn tôm hùm, rồi anh hỏi chị Kiều Mộng nếu cần thêm người múa minh họa kêu anh, anh là người yêu văn nghệ và thích được lên sân khấu.
Kể từ hôm đó chị Kiều Mộng có thêm người để chị rủ rê đi chùa. Kể từ hôm đó anh Thành có người để anh đi theo cho đỡ buồn đỡ trống trải mấy ngày cuối tuần. Anh Thành đã bốn mươi nhưng chưa có vợ, (đời bây giờ trai bốn mươi còn độc thân hơi bị nhiều), anh làm cán sự điện trong hãng điện tử, chịu khó dành dụm tích góp cũng mua được căn nhà nho nhỏ.
Anh Thành đi với chị Kiều Mộng riết anh thích chị hồi nào không hay, anh nói với tôi:
- Ê Tôm, Đôi lúc tao bắt gặp bà Kiều nhìn tao với ánh mắt kỳ lắm, đàn bà mà mày cũng biết, nhìn ánh mắt họ mình biết họ muốn gì. Chắc bữa nào tao phải chơi bả một phát.
Cha nội ơi ông không còn cách nói nào khác hơn sao cha.
 
Một hôm tôi đang ngồi trong quán cà phê chị Kiều Mộng ghé qua tâm sự. Chị đang buồn. Chị từ trên chùa mới về, bữa nay chị cảm thấy buồn, buồn thiệt là buồn bởi vì thầy Tuệ Minh không để ý đến chị, thầy chỉ coi chị như một tín nữ bình thường đến chùa như bao thiếu nữ khác. Chị cũng hiểu, chẳng bao giờ trách thầy, chỉ tại mình thôi. Chị hỏi tôi mình yêu sư thầy có tội không.
Tội... tội nghiệp.
Bà hết người yêu, đi yêu sư thầy.
Mầy chưa từng yêu mày đâu hiểu.
Chị Kiều Mộng theo tôi tới nhà anh Thành chơi, chị buồn quá không muốn về nhà. Anh Thành đang làm món thịt bò xào củ hành, sẵn bữa tôi và chị nhào vô ăn cơm chiều. Ăn xong cả ba bắt ghế ra trước nhà anh Thành ngồi ngó ông đi qua bà đi lại. Tôi và anh Thành uống bia lai rai nói chuyện trên trời dưới đất, chị Kiều Mộng vẫn còn buồn ngồi làm thinh lâu lâu cũng cầm ly bia lên uống.
Buổi tối muỗi bay vo ve kéo nhau vô garage ngồi chơi, vừa uống lai rai vừa nói chuyện tầm phào. Garage nhà anh Thành không để xe, anh sửa lại thành một phòng để anh xem phim hay nghe nhạc, nếu có tụ tập bạn bè nhậu nhẹt đàn hát thì tự nhiên không sợ làm phiền hàng xóm.
Chị Kiều Mộng leo lên sofa nằm nghĩ ngợi điều gì mặt mày buồn so như sắp khóc. Anh Thành thấy vậy đến ngồi gần bên kiếm chuyện nói cho chị vui. Tôi nói anh Thành có tài massage với lại bấm huyệt đả lắm, hổng ấy anh làm cho chị đi. Anh Thành nói nhỏ nhỏ:
- Anh có tài bấm huyệt để anh làm cho Kiều nhe.
Chị Kiều làm thinh. Anh Thành bóp bàn chân chị thăm dò. Chị không phản đối. Anh Thành thấy chị nằm im không co bàn chân lại thì  tiếp tục bóp. Anh biết làm massage, tôi bước đến hỏi chị Kiều thấy ảnh làm có bằng mấy ông thợ ngoài tiệm không, chút ảnh bấm huyệt cho chị phê lắm. Tôi nói với anh Thành, massage chị xong anh làm cho tui nhe. Anh Thành móc túi đưa tôi hai chục, mầy đi mua xâu bia với mấy bịch khô bò. Anh kề tai tôi nói nhỏ, mầy đi lâu lâu hãy về nhe.
Tôi đi mua bia về mà anh Thành massage chị Kiều Mộng vẫn chưa xong, anh lại khoá cửa tôi vô không được mà tôi phone gọi anh cũng không trả lời. Tôi bỏ ra xe mở phone coi tấu hài, coi gần hết một vở hài thì chị Kiều Mộng mở cửa bước ra nói đi về. Mặt chị tươi như hoa cười mĩm nói công nhận anh Thành có tài bấm huyệt đã quá.

Một buổi tối lúc đó cũng gần mười một giờ đêm, chị Kiều Mộng gọi điện thoại cho tôi tâm sự. Chị nói Tôm ơi chắc là do  ý trời. Chị nói cho Tôm nghe mà mày phải thề  với tao là giữ kín chuyện này.
Tôi không biết chuyện gì mà  ghê gớm vậy đến đỗi  bắt tôi phải thề không được nói cho ai biết. Nhưng tôi biết cái tánh của tôi, cái miệng chót chét không nói sợ chịu không được.
- Thôi chị đừng nói, tui sợ tui không giữ được lời thề.
- Tôm nhớ cái hôm anh Thành bấm huyệt cho chị trong garage nhà ảnh không, bấm huyệt chỉ có lần đó thôi mà tao mang bầu, thiệt là  không tin nổi.
Tôi bật cười khùng khục.
- Tôm có bộ vest nào đẹp đẹp không?
- Chi vậy.
- Chị với anh Thành chuẩn bị làm đám cưới, định nhờ mày làm rể phụ.
- Chị có tin dị đoan không?
- Không.
- Trước đây tui có đi làm rể phụ hai đám, cả hai đều ly dị, nếu bà không tin dị đoan thì tui sẵn sàng, lâu lâu có dịp mặc đồ đẹp quay phim chụp hình.

Đám cưới chị Kiều và anh Thành đãi tại nhà hàng "Thành Được", chỉ mời bà con và một ít bạn bè thân thiết. Tôi không có làm phù rể vì anh Thành đã tìm người khác. Tự hiểu. Cô dâu chú rể mặt mày tươi như hoa lăng xăng đi từng bàn chào quan khách mời rượu. Mở màn chương trình văn nghệ cô dâu chú rể hát bài "Lâu đài tình ái". Tôi nhìn cô dâu thấy có vẻ hơi mập, nhưng chắc chẳng ai để ý.
Nàng Thị Mầu dỏm.




Thursday, March 19, 2020

ÔNG NGOẠI CÓ BỒ



Ý Ngôn

Chú Năm cùng cô Sáu mở cửa bước vô tay xách bịch đồ ăn mới mua ở chợ về, bữa nay thằng con đi công tác xa, chú Năm tự nhiên dẫn "người yêu" về nhà nấu nướng mà không sợ nó dòm ngó. Thật ra hai đứa con của chú không hề phản đối việc chú có bồ, nó nói "ba còn yêu thì cứ việc yêu".
Chú Năm goá vợ một hôm đi chợ quen cô Sáu là gái "lỡ thì". Chú mới có sáu mươi chín tuổi chớ mấy, còn cô mới có sáu mươi ngoài. Anh em cô khen hai người xứng đôi vừa lứa (và cứ mong chú Năm nếu thấy được thì rước cô về để cô có dịp cơm nước săn sóc hầu hạ chú).
Cô Sáu là người thích nấu nướng, món chay món mặn gì cô cũng biết làm, chưa kể các món chè xôi bánh ngọt các thứ. Cô ở Việt Nam mới qua nên thịt mỡ, thịt ba rọi, lòng heo huyết heo giò heo cô làm láng. Cô nói ăn thịt có chút mở mới ngon. Chú Năm thì sức khỏe tốt, chưa uống thuốc như mấy ông bạn già nên chú ăn uống thoải mái, thịt bò thịt mở tôm cua thích thì cứ việc ăn khỏi cần kiêng cử. Từ ngày quen cô Sáu chú mập ra thấy rõ, mặt mày hồng hào tươi tắn. Thằng con trai chú lâu lâu chọc quê ông già: người đang yêu có khác!
Hôm nay hai người nấu món canh chua tôm rau muống, cá chiên tươi dầm nước mắm. Cô Sáu làm bếp chú Năm đứng gần bên phụ lặt rau rửa chén.
Thằng con trai chú Năm nảy giờ trong phòng lâu lâu nghe tiếng cô Sáu nhõng nhẽo: "Năm ơi lấy dùm em chai nước mắm, Năm ơi đi xúc gạo dùm em!". Nó nghĩ thầm trong bụng, bà này già mà ăn nói như đào cải lương, cái điệu bả Năm ơi Năm ơi hèn gì ông già mê còn hơn bị bỏ bùa.
"Năm ơi nhà mình còn chanh hông để đâu sao em hổng thấy"
"Để anh ra ngoài cây hái", chú Năm vừa đi vừa nói. Lúc trở vô để mấy trái chanh xuống bàn, chú nói:
- Thằng con trai anh nó để ý lắm nhe, hôm trước anh hái chanh cho em, nó làm bộ nói ba ơi cây chanh nhà mình có ai vô hái trộm.
Cô Sáu cười ngất nói nó đâu có biết Năm hái cho em.
- Biết, nó biết, thằng đó coi vậy chớ nó để ý từng chút. Mấy cái bông hường em nói đẹp em hái về nhà chưng, nó đi ra cây bông hường ngó ngó nói mới thấy tức thì đã có người hái trộm.
- Vậy à? Sao lúc đó Năm hổng cản em.
Thằng con chú Năm nghe hai người nói chuyện về nó (đâu phải vậy đâu ông già). Nó hé cửa nhìn lén hai người, cô Sáu nói gì nho nhỏ, chú Năm nhìn cô đắm đuối rồi lấy tay nhéo cô một cái, rồi ôm cô hôn nhẹ lên má. Trời trời ông già, thằng con trai này thua xa một cây số.
Có tiếng phone của người bạn đến đón, thằng con chú Năm xách cái túi xách mở cửa phòng bước ra.
- Dạ con chào dì.
Chú Năm chưng hửng:
- Ủa, ba tưởng con đi rồi chớ.
- Chuyến bay bị delay.
Nó bước ra cửa kéo ba nó lại kề tai nói nhỏ: "nảy giờ con nghe con thấy hết rồi nhe ông già".
Chú Năm cười hề hề.
   
Con gái chú Năm sống ở Florida, hôm nay cùng chồng và hai con về đây chơi một tuần lễ. Nghĩa là tuần lễ này chú bận lu bù đi chơi với tụi nó. Từ phi trường ra việc đầu tiên là ghé vô nhà hàng Việt ăn cơm gia đình. Cũng là canh chua cá khô tộ, lần nào về Cali con chú cũng đi ăn cơm canh chua cá kho tộ, con nhỏ ăn món đó hoài không biết ngán. Hôm sau cả gia đình dẫn nhau đi chơi  khu Fisherman's Wharf ở San Francisco để mấy đứa nhỏ nhìn mấy con hải cẩu kêu ộp ộp. Rồi thì ngày nào cũng đi ăn, hết nhà hàng này đến nhà hàng khác, ăn xong dẫn nhau đi lòng vòng mấy khu buôn bán của người Việt. Chú Năm ngày nào cũng đi theo từ sáng tới tối, lội bộ muốn rả cặp giò. Nhưng chú không than, lâu lâu con cháu về thăm mình, đi chơi với nó cho nó vui, cho phải điệu ông già.
Hôm nay thứ bảy gia đình con gái chú Năm sẽ trở về lại Florida. Khoảng bốn giờ chiều sẽ lên máy bay. Sáng sớm con gái chú chuẩn bị đi chợ mua đồ ăn mang về bên đó. Chả lụa, thịt chà bông, bánh bột lộc, nem, bánh ít bánh tét... lủ khủ... thứ gì cô cũng muốn mua... thấy ham. Chồng cô luôn miệng cằn nhằn, bà này đói con mắt.
Con chú rủ chú đi chợ rồi đi ăn cơm trưa luôn một thể. Chú tìm cách từ chối, mấy ngày nay chú làm phận sự "ông già" nhiêu đó đủ rồi. Hôm nay chú bận, bận "hẹn hò". Mấy ngày nay không gặp người yêu, nhớ lắm. Cô Sáu gọi điện thoại đêm qua, hẹn chú sáng nay đi chợ, em có việc muốn hỏi Năm chỉ dùm em.
Chú Năm mở cửa bước ra ngoài, đứa con gái ngó theo thấy chú lúc rày hơi lạ, mặc áo sơ mi bỏ vô quần lại còn xức dầu thơm. Thằng con trai thấy chị nhìn cha tròn mắt nó nói:
- Ông già đi "date"
Ông anh rể nó đứng gần bật cười.
- Như vậy là cậu thua xa ba rồi.
Bà chị lên tiếng.
- Bà đó cở mấy tuổi, có đẹp không mà sao ba mê bà đó quá vậy.
- Xấu đẹp tuỳ con mắt ban giám khảo, nhưng bà đó ăn nói nhõng nhẽo dữ lắm, ngọt lắm.
- Ba thì lúc nào cũng hảo ngọt.
Thằng con trai nói với bà chị:
- Bửa em trong phòng ba tưởng em không có nhà, ba nói với bả vợ anh không ghen nhưng con nhỏ con gái anh khó chịu lắm, anh mà quen bà nào nó theo nó huýt nó háy.
Ông anh rể cười ngất ngó bà vợ.
- Sao vậy em.
- Em ghét mấy bà chồng con không nhờ, chuyện gì cũng gọi ba. Mà ông già cũng ngộ, bà nào gọi điện thoại nhờ vả, ba lẹ lẹ xách xe đi giúp. Mua IPhone cũng nhờ ba đi theo, bởi vì hổng biết nói tiếng Anh sợ người ta nói cái gì khó quá không hiểu. Bà nào... ỉa hổng ra cũng kêu ba.
Ông chồng đến vỗ vỗ vai bà vợ. Bữa nay mới biết vợ tui cũng có tánh ghen, mà ghen dùm...
- Không phải em ghen, mấy bà đó có làm gì đâu mà em ghen, em chỉ thấy... ghét. Bởi vậy bà nào điện thoại kiếm ông già rủi gặp em, em alô alô mấy bả làm thinh chẳng dám hó hé rồi tự động gát phone. Lãng xẹt.
Bà chị ngó thằng em trai.
- Mầy nói ba đi hẹn hò phải không? Đi, đi, dẫn chị tới đó coi mắt người đẹp.

Chú Năm và cô Sáu đang loay hoay chỗ hàng đồ khô lựa đồ mua, bỗng chú giật mình hai đứa cháu ngoại từ đâu chạy đến nắm tay chú kêu ông ngoại ông ngoại. Thằng cháu trai hỏi ông ngoại đi "date" hả ông ngoại. Chú chưng hửng không biết trả lời sao thì đứa cháu gái chỉ cô Sáu hỏi có phải bà này là "girlfriend" của ông ngoại. Cô Sáu cười ngất.
- Cháu của Năm đây hả, mấy tuổi mà khôn quá vậy.
Thằng con trai chú Năm ở đâu xuất hiện vỗ vai ông già làm chú giật mình.
- Bà này là gì của Năm sao Năm  không giới thiệu cho mấy cháu biết.
Có một bà đứng mua đồ gần bên, nảy giờ thấy mấy người nói chuyện vui quá lên tiếng hỏi.
- Con trai anh đây hả, hai cha con giống hệt đi ngoải đường người ta tưởng hai anh em.
- Thằng này nó là "ông con" chớ đâu phải thằng con.
Chú Năm quay lại nói nhỏ nhỏ với thằng con. "Mấy bửa nay tui đã làm đầy đủ bổn phận "làm cha", bửa nay tui có chuyện đi ra ngoài một chút xíu, mầy cũng dẫn chị mầy tới đây bắt tao tại trận mầy mới chịu phải không?".
Thằng con trai đưa tay nhéo nhẹ ông già. "Đâu có phải vậy đâu Năm..."
- Mầy học cái nhéo này ở đâu vậy? Con trai bày đặt nhéo nhéo.
Chú Năm quay sang nói với cô Sáu, "em biết không, hồi đó anh mới mười bảy tuổi sắp sửa thì Tú tài một.  Bửa  đó rạp chiếu phim "Tinh võ môn", anh thì mê Lý Tiểu Long bạn gái anh thì mê Miêu Khả Tú. Buổi trưa ông già về nhà ăn cơm, ổng vừa leo lên giường nghỉ trưa thì anh vọt lẹ ra rạp chớp bóng. Có hẹn với bạn gái. Đang đứng sắp hàng chưa kịp mua vé, ông già thình lình xuất hiện. Trước  cứa rạp hát đông người, ổng đâu có đập anh được, ổng nhéo. Vừa nhéo vừa nghiến răng miệng nói, gần tới ngày thi rồi mà không lo, bày đặt mèo chuột, mầy mà thi rớt thì chết với tao.
- Sao Năm không chạy?
- Chạy đâu? Chạy cho ổng nổi giận thêm về nhà chết với ổng, đứng đó chịu trận cho ổng nhéo. Chưa từng thấy đàn ông ... cũng nhéo.
- Cái này ngộ nhe, sao không nghe má nói ba bị ông nội nhéo vì tội đi hẹn hò.
- Bà đó đâu phải má mầy.

Đứa con gái và thằng rể từ xa đi tới.
- Đi đâu mà kéo cả nhà tới đây vầy nè. Hồi xưa mình mười bảy lén cha lén mẹ đi hẹn hò, ông già đi tới chỗ bắt tội. Giờ bảy chục đi hẹn hò, con tui nó đi tận chỗ bắt quả tang.
- Ba con nói chuyện vui quá hé dì.
Cô Sáu cười hề hề, ổng già chớ nói chuyện có duyên lắm.
Con gái chú Năm nói với cô Sáu.
- Chào dì, bữa nay con tới đây để biết mặt dì, ba con dấu dì kỹ quá. Sẵn dịp tụi con mời dì đi ăn trưa chút nữa tụi con về lại Florida rồi.
Chú Năm nói với cô Sáu, mình đi ăn với tụi nó, sẵn dịp làm lễ "công khai" luôn thể.
- Bữa nay để ba trả tiền nhe.
Mấy cha con dẫn nhau ra chỗ đậu xe. Thằng con trai nói với cha.
- Năm tính khi nào làm đám cưới, hổng ấy Năm chờ con, hai cha con mình làm đám cưới một lượt.
Chú Năm ngó thằng con trề môi.
- Chờ mầy chắc tao chống gậy.
- Vậy Năm làm đám cưới trước, con làm phù rể. Mà cha đi cưới vợ con trai làm phù rể được hông ông già, người ta có cười mình hông ông già.
- Cười! Ai cười cho họ hở mười cái răng.
Hai đứa cháu ngoại không biết có hiểu gì không, thấy người lớn cười bắt chước cười theo. Ông ngoại nói chuyện vui quá.










Tuesday, March 17, 2020

Con Chó Trắng Trong Nghĩa Địa 

Con Chó Trắng Trong Nghĩa Địa – Lê Tấn Phước
Đây là một chuyện ma có thật trong khu mộ dành cho người gốc Việt, người Nhật, người Tầu tại một nghĩa trang ở Honolulu, Hawaii, nơi có bản sao kiến trúc đền Byodo-In nổi tiếng của Nhật Bản. Tác giả nguyên là luật sư hành nghề tại Việt Nam trước năm 1975, qua Mỹ năm 1980. Ông hiện là Regional Manager cho Les Enterprises tại Honolulu, Hawaii. Bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên của ông là “Tôi Hiến Tủy” phổ biến ngày 31/03/2001. Bẩy năm sau, thêm bài thứ hai, “Vợ Tôi Bị Ung Thư” ngày 3/1/2008. Và nay là bài thứ ba. Lượng bài viết tuy ít nhưng trải đều suốt 17 năm cho thấy Lê Tấn Phước là một trong những tác giả có lòng gắn bó với Việt Báo Viết Về Nước Mỹ. Mong ông tiếp tục nhịp viết mới. 
* *
Con chó nhỏ nhảy qua bức tường thấp, rồi rảo chạy vào bên trong nghĩa địa. Bộ lông trắng của nó thấp thoáng dưới ánh trăng mờ ảo, như ẩn như hiện, như hư như thực. Ma quái làm sao! Tôi bỗng rùng mình nổi da gà.
Cách nay đúng hai mươi năm, hai vợ chồng tôi dọn từ California sang Hawaii sinh sống. Chúng tôi thuê một căn nhà trong chung cư ở vùng Valley of the Temples, thuộc thành phố Kaneohe.
Căn nhà có phòng ngủ nhìn về hướng Tây, sát đường xe chạy; phía bên kia đường là nghĩa địa. Đây là một nghĩa địa lớn, có những khu vực riêng cho mỗi sắc dân. Nghĩa địa được chăm sóc kỹ lưỡng với những đồi cỏ xanh tươi trông rất mát mắt. Sáng sớm hoặc chiều tà, nhà tôi và tôi thường đi bộ tập thể dục trong nghĩa địa. Chúng tôi lang thang trên các đồi cỏ xanh, vừa hưởng những làn gió mát từ biển thổi vào, vừa đọc những giòng chữ khắc trên các tấm bia mộ. Những giòng chữ ngắn gọn, tràn đầy yêu thương và tiếc nhớ của những người còn ở lại dành cho người đã ra đi.
Điều đặc biệt của nghĩa địa nầy là có một khu vực riêng dành cho những con thú cưng. Khu vực nầy nằm trên triền đồi giáp với đường xe chạy, được ngăn chia với khu vực dành cho người bởi một bức tường đá thấp.
Từ phòng ngủ căn nhà của tôi nhìn xéo về bên trái, có thể thấy rõ toàn cảnh nghĩa địa vùng Valley of the Temples.
Một tối nọ, chợt thức giấc nửa đêm, không ngủ lại được, tôi đến bên cửa sổ, nhìn mông lung ra bên ngoài. Ánh trăng như tấm lụa vàng phủ mượt mà xuống những đồi cỏ chập chùng trong nghĩa địa, toát lên một vẻ tĩnh mịch rất liêu trai.
Bỗng từ góc nghĩa địa dành cho thú cưng, một bóng trắng nhảy qua bức tường đá thấp, rảo chạy vào trong nghĩa địa. Tôi nhìn kỹ, thấy đó là một con chó nhỏ, màu trắng. Có vẻ như nó biết nó đang chạy đi đâu, nên mải miết chạy, không bận tâm nhìn chung quanh. 
Dưới ánh trăng vàng mờ ảo, bóng trắng của con chó nhỏ thoạt biến thoạt hiện, xa dần, xa dần… rồi mất hút bên kia triền đồi.
Sự việc xảy ra như hư như thực. Ma quái làm sao! Tôi bỗng rùng mình nổi da gà.
Sáng sớm hôm sau tôi tò mò vào nghĩa địa xem thử chuyện gì đã xảy ra. Tôi đi một mình vì nhà tôi rất sợ ma. Tôi đã giấu nhà tôi về chuyện con chó trắng chạy trong nghĩa địa đêm hôm trước.
Đi lòng vòng trong khu vực dành cho thú cưng, tôi để ý thấy một tấm bia mộ có hình một con chó nhỏ, màu trắng, thuộc giống Toy Poodle.
Tôi đã từng nuôi hai con Toy Poodle khi còn ở Cali nên biết rõ loại nầy. Toy Poodle là loại chó rất thông minh và rất ngoan. Đặc biệt là loại nầy rất có tình, biết bày tỏ tình cảm, và biết giận biết hờn giống như tình cảm con người, chỉ thiếu điều không biết nói mà thôi.
Đọc kỹ tấm bia con Toy Poodle, thấy nó tên Monique, mất gần một năm, lúc mười một tuổi. Gia đình chủ nó đã khắc trên tấm bia giòng chữ: “Tưởng nhớ Monique – một em chó hết mực trung thành đã chết theo chủ”.
Tôi tìm khắp nghĩa địa thú cưng mà không thấy mộ con chó trắng nào nữa. Phải chăng con chó trắng chạy trong nghĩa địa đêm qua là Monique? Nghĩ tới đó, dù trời đang nắng ấm, nhưng tôi vẫn thấy lạnh xương sống.
Nhìn khuôn mặt ngoan hiền với hai con mắt ngây thơ tròn đen như hai hạt nhãn, tôi bỗng thấy thương cảm Monique vô cùng, định tâm sẽ có lúc tìm hiểu hiểu thêm câu chuyện về nó.
Trước khi ra về, tôi chắp tay cầu nguyện cho Monique sớm được siêu thoát.
Vì bận việc nên mãi hơn một tuần sau tôi mới có dịp ghé vào văn phòng nghĩa địa Valley of the Temples. Thực tình, khi gặp người quản lý của nghĩa địa, tôi chẳng biết phải mở đầu câu chuyện như thế nào vì sợ ông ta nghĩ mình mê tín dị đoan, tin chuyện ma cỏ linh tinh.
Vòng vo hồi lâu, tôi mới kể với ông quản lý rằng tôi có thấy một con chó trắng chạy trong nghĩa địa vào lúc nửa đêm, chắc là chó của ai đi lạc.
Ông ta nhìn tôi mấy giây, rồi hỏi:
– Ông thấy nó mấy lần?
Tôi đáp:
– Một lần. Tôi cũng chỉ mới dọn đến ở chung cư bên kia đường không lâu.
Ông quản lý hỏi:
– Ông có tin chuyện ma không?
Câu hỏi đến với tôi khá bất ngờ. Tôi chậm rãi trả lời một cách chung chung:
– Tôi nghĩ rằng có một thế giới vô hình mà mình không biết được. Nhưng tôi chưa gặp ma lần nào.
Ông ta nhìn thẳng vào mắt tôi, nói giọng chắc nịch:
– Ông gặp ma rồi đó. Ma chó.
Dù rằng nghi trong bụng mấy ngày nay con chó trắng chạy trong nghĩa địa có thể là ma, nhưng bây giờ nghe ông quản lý nghĩa địa khẳng định đó là ma, tôi không khỏi giật mình. Sao lại có chuyện ma quái như vậy được?
Tôi còn chưa biết nói gì, thì ông ta nói tiếp:
– Thực ra tôi cũng chưa thấy con ma chó đó bao giờ. Tôi ở ngay downtown của Honolulu, sáng đi chiều về, không ở lại ban đêm, nên không thấy nó. Nhưng người lao công của tôi ở dãy nhà phía sau nghĩa địa có thấy nó mấy lần.
Tôi vội nói:
– Ông có thể giới thiệu cho tôi gặp người lao công đó không?
– No problem. Tôi sẽ gọi cho anh ta nói rằng ông muốn hỏi thăm tin tức về con ma chó.
Căn nhà giành cho người lao công nằm ở cuối nghĩa địa, núp bóng dưới những tàn cây cổ thụ, phía sau đền Byodo-In. Đền Byodo-In này là bản sao của ngôi đền cổ cùng tên nổi tiếng của Nhật tại thành phố Kyoto. Ngôi đền tại Hawaii giống y chang ngôi đền tại Nhật, cũng có một tượng Phật to lớn ở gian giữa, nhưng không có thầy tu và cũng không hành lễ, tất cả chỉ để cho du khách tham quan.
Nhờ có người quản lý nghĩa địa gọi điện báo tin trước, nên anh lao công tiếp tôi khá niềm nở. Tôi hỏi liền:
– Nghe nói anh thấy con ma chó mấy lần, phải không?
Anh lao công trả lời:
– Dạ phải, cả thảy bốn lần.
Tôi hỏi tiếp:
– Làm sao anh biết nó là ma?
– Lần đầu em cũng không nghĩ nó là ma. Số là tối hôm đó, nửa đêm thức giấc, em chợt nghĩ không nhớ mình đã khóa cửa đền hay chưa. Sẵn trời sáng trăng, lại có gió mát, nên em đi vòng ra phía trước để coi lại cửa đền. Đi được nửa chừng, nhìn lên khu mộ của người Nhật phía bên phải, em thấy một con chó nhỏ, màu trắng, ngồi cạnh một ngôi mộ ở trên triền dốc cao, gần giáp ranh với khu mộ của người Tàu và người Việt. Em nghĩ chắc là chó của ai đi lạc, lại thấy nó nhỏ, sợ ở ngoài trời suốt đêm tội nghiệp, nên em bước lên triền dốc để bắt nó, rồi sẽ tìm cách giao lại cho chủ của nó sau. Nào ngờ khi em ngước lên nhìn, thì không còn thấy nó nữa. Em nghĩ chắc lúc em đang lúi cúi leo lên dốc, nó nghe tiếng động, nên chạy mất.
– Rồi sau đó thì sao?
Anh chàng lao công đáp:
– Em nhìn kỹ chung quanh, không thấy con chó trắng đâu nữa. Nghĩ rằng nó đã chạy mất, nên em đi xuống.
Tôi hỏi:
– Thế còn lần sau?
– Khoảng hai tháng sau, cũng vào một đêm trăng, em lại tình cờ thấy con chó trắng ngồi bên ngôi mộ ở chỗ cũ. Lần nầy em leo lên triền dốc nhẹ nhàng hơn, cố gắng không gây tiếng động. Nhưng lên đến nửa chừng, con chó lại biến mất. Em lấy làm lạ, nó chạy đi đâu nhanh vậy? Em lên đến tận ngôi mộ mà con chó đã ngồi. Đó là mộ của bà Yoshiko Fukuda. Em tìm kiếm chung quanh, cũng không thấy bóng dáng con chó nhỏ đâu cả. Em nghĩ trong bụng có gì kỳ lạ đây, thấy hơi sợ sợ. Em đi xuống mà cứ trông chừng sau lưng, sợ có ai đi theo mình.
Nghe kể đến đây, tôi hỏi tiếp:
– Còn mấy lần sau thì sao?
– Hai lần sau cũng vậy. Con chó cũng xuất hiện vào những đêm trăng, cũng ngồi hoặc nằm tại ngôi mộ bà Fukuda, và cũng biến mất khi em lên đến nơi.
Tôi hỏi:
– Anh có sợ không?
– Sợ chứ! Nhưng thấy nó không làm hại gì, nên em cũng quen. Vả lại, sau khi biết rõ câu chuyện về nó, em lại thấy thương nó hơn.
Thấy câu chuyện có vẻ hấp dẫn, tôi tò mò hỏi:
– Chuyện nó là chuyện gì?
Người lao công đáp:
– Một hôm, em gặp người em gái của bà Fukuda đi thăm mộ chị. Em kể cho chị ấy nghe về chuyện có một con chó ngồi bên mộ của bà Fukuda vào những đêm trăng sáng. Nghe xong, chị ấy vừa ngạc nhiên vừa sững sờ, rồi hỏi: “Có phải đó là con chó nhỏ màu trắng không?” Em nói: “Phải”. Chị ấy ngần ngừ một chút, rồi nói: “Anh hãy đi theo tôi. Tôi chỉ cái nầy cho anh xem”.
Sốt ruột, tôi xen vào:
– Chị ấy đưa anh đi đâu?
– Chị ấy dẫn em ra khu vực nghĩa địa dành cho thú cưng, chỉ vào một tấm bia mộ, hỏi: “Có phải nó đây không?”. Nhìn vào hình trên tấm bia, em bật miệng kêu lên: “Đúng là nó rồi!” Em còn chưa biết nói sao, thì chị ấy trầm giọng nói: “Nó là Monique, con chó cưng của chị tôi. Chị tôi coi nó như là con gái cưng của mình”. Em gái bà Fukuda ngồi xuống, lấy khăn giấy lau sạch tấm bia, kể tiếp: “Sau khi chị tôi mất, Monique buồn rầu, bỏ ăn bỏ uống, rồi mất theo chị sáu ngày sau”. Nghe thấy giọng chị ấy đượm đầy nước mắt, em đứng lặng thinh, cũng nước mắt lưng tròng.
Tôi cũng lặng thinh, thấy thương Monique vô cùng, và thấy mũi mình cay cay.
Một lúc sau, anh lao công kể tiếp:
– Trước khi ra về, chị ấy nói khi nào rảnh, sẽ kể cho em nghe nhiều chuyện về Monique.
Tôi bỗng thấy hiếu kỳ, muốn tìm hiểu rõ hơn về Monique. Tôi lấy ra tấm danh thiếp của mình, nhờ anh chàng lao công trao cho em gái bà Fukuda, nói rằng tôi rất thương cảm Monique và muốn nghe thêm chuyện về nó.
Vậy là bóng con chó trắng tôi thấy chạy trong nghĩa địa đêm hôm nọ chính là Monique. Nó chạy qua mấy triền dốc, tìm đến ngồi ngay bên mộ chủ của nó là bà Fukuda.
Đối với Monique, nghĩa tử chưa phải là nghĩa tận.
Hơn một tháng sau, tôi nhận được email của em gái bà Fukuda:

Chào ông Lê,
Tôi tên Shinju Fukuda, là em gái của chị Yoshiko Fukuda. Nghe nói ông rất thương xót Monique và muốn biết thêm về nó, tôi xin kể vài câu chuyện về Monique cho ông nghe.
Hai chị em tôi đều độc thân, cùng sống chung với nhau. Chị Yoshiko rất thích chó, nên chị tìm mua một con chó nhỏ về nuôi, và chị lấy tên của một người bạn thân đã mất vì tai nạn để đặt cho nó là Monique.
Ngay từ đầu, Monique đã rất quyến luyến chị Yoshiko; chị đi đâu, nó đi theo đó. Mỗi tối, chị cho nó ngủ chung giường. Từ ngày có Monique, thần sắc chị tôi như tươi hẳn ra.
Monique rất thông minh. Càng lớn, nó càng hiểu ý chị tôi muốn gì, và làm đúng theo lời sai bảo của chị trăm phần trăm.
Bởi vậy, chị Yoshiko cũng ngày càng yêu thương Monique hơn, ôm nựng nó suốt ngày, luôn miệng gọi nó là con gái yêu của mẹ. Hai mẹ con quấn quít nhau không rời. Mỗi khi ăn món gì ngon, chị còn nhai và sú cho nó nữa. Thiệt hết biết!
Một hôm, khi Monique được khoảng bảy tuổi, nó biểu hiện một thái độ rất lạ. Nó liên tục ngửi vào mũi vào miệng chị tôi, rồi sủa lên. Ngay cả khi chị Yoshiko vừa đánh răng xong, Monique cũng sủa như vậy. Chúng tôi thấy lạ, nhưng không biết là chuyện gì.
Cho đến một hôm, chị Yoshiko thấy tức ngực và khó thở. Lúc nầy, Monique càng sủa dữ dội hơn. Chị tôi bèn đi bác sĩ xem sao.
Sau khi có đủ kết quả các thứ xét nghiệm, bác sĩ cho biết chị Yoshiko bị ung thư phổi.
Đến lúc nầy, chị em tôi mới vỡ chuyện ra là Monique đã đánh hơi được chị tôi bị ung thư phổi từ trước, và nó đã sủa báo động, nhưng chúng tôi nào có biết gì đâu.
May nhờ lần nầy Monique sủa dữ dội, chị tôi mới đi bác sĩ, khám phá bị ung thư phổi, và kịp thời chữa trị.
Chị Yoshiko cầm cự được ba năm. Sang năm thứ tư thì các tế bào ung thư phát tán trở lại, nhanh hơn, dữ dội hơn.
Chị tôi phải trải qua các phương thức trị liệu mạnh hơn mong ngăn chặn được sự phát triển của các tế bào ung thư. Chị tôi trở nên tiều tụy, chỉ còn da bọc xương, đầu không còn một sợi tóc. Niềm an ủi duy nhất của chị là Monique.
Trong khoảng thời gian nầy, Monique càng quyến luyến chị tôi hơn, không rời nửa bước. Nhìn hai mắt buồn xo của nó mà thấy tội nghiệp vô cùng.
Nhớ có lần chị tôi mệt quá phải gọi xe cấp cứu đến chở vào nhà thương, Monique bị nhốt lại ở nhà, nó tru gào khóc lóc thảm thiết. Tôi nghe mà thấy đứt ruột. Vừa thương chị tôi, vừa thương Monique, nước mắt tôi chảy dài, chảy dài…
Đến khi chị Yoshiko từ nhà thương trở về, Monique mừng hết biết. Nó vừa nhảy loi choi liếm mặt chị tôi vừa khóc rí rí, như có ý nói rằng má bỏ con đi đâu vậy, má có biết con nhớ má lắm không? Chị tôi vừa ôm hôn nó vừa nói má biết, má biết, má cũng nhớ con lắm, mà nước mắt ràn rụa hai bên má chị. Tôi cố gắng lắm cũng không cầm được nước mắt. Ôi, tình mẹ con của chị Yoshiko và Monique thắm thiết làm sao!
Đến gần cuối năm thứ tư thì các tế bào ung thư đã di căn qua các bộ phận khác. Chị tôi buông xuôi, không chữa trị nữa. Mà chị cũng không còn đủ sức theo các phương thức chữa trị ngày một mạnh hơn. Giờ chị chỉ uống thuốc giảm đau, chờ ngày ra đi.
Chị Yoshiko bình thản chờ ngày ra đi. Chị không có gì luyến tiếc, ngoại trừ con Monique. Chị rơm rớm nước mắt mỗi khi ôm nó vào lòng, vừa hôn hít nựng nịu nó, vừa dặn dò tôi thay chị chăm sóc tốt cho nó. Monique như linh tính biết chuyện chẳng lành sắp xảy ra, nên lúc nào cũng rúc mình nằm sát chị tôi, không rời.
Rồi ngày chờ đợi cũng đã đến. Chị tôi ra đi nhẹ nhàng trong giấc ngủ.
Nhưng Monique không chấp nhận nhẹ nhàng chút nào. Nó hết tru từng cơn, rồi lại khóc rí rí, không cách nào dỗ dành nó được. Đến lúc cho nó nằm dưới quan tài chị Yoshiko, thì nó mới nín.
Khi làm lễ hạ huyệt, Monique vùng chạy khỏi tay tôi, nhảy xuống mộ nằm trên quan tài chị Yoshiko. Mọi người vất vả lắm mới bắt được nó đem lên. Ai thấy vậy cũng chảy nước mắt, vừa thương chị Yoshiko, mà cũng vừa thương cho Monique.
Từ hôm đó, Monique buồn rầu, bỏ ăn bỏ uống. Tôi dỗ dành mấy cũng không được. Suốt ngày nó nằm trên gối trong giường chị tôi. Nó nằm cuộn mình, dấu đầu vào dưới chân trước. Thấy thương chi lạ!
Nó cứ nằm miết như vậy. Cho đến chết. Nó quyết đi theo chị tôi.
Tôi đã làm đám tang tươm tất cho Monique. Bạn bè quen biết đều đi đưa đám nó. Ai cũng khóc khi hạ huyệt nó. Ai cũng đều thương xót Monique, một con chó trung thành đã chết theo chủ.
Monique được chôn cùng một nghĩa địa với chị Yoshiko. Tôi tin là nó đã đi tìm chị tôi vào những đêm trăng sáng. Hai mẹ con họ giờ đã gặp lại nhau ở bên kia thế giới.
Shinju Fukuda”.
Thư trên đây được viết bằng Anh ngữ. Chị em bà Fukoda, người gốc Nhật, đều là cư dân Hollolulu, HI.
Lê Tấn Phước